Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại cổ phần và khách hàng cá nhân. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và giải pháp. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng giao dịch trực tiếp với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn huy động đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các dịch vụ thanh toán và cung ứng các dịch vụ khác. Theo pháp lệnh của ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Vị trí ngân hàng thương mại trong hệ thống tài chính.
Trong nền kinh tế, hệ thống tài chính có nhiệm vụ luân chuyển đồng vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu. Nhờ vậy mà các hoạt động kinh tế phát triển và tạo ra tăng trưởng. Quá trình phát triển kinh tế của các nước đã chứng tỏ một điều: ở đâu có hệ thống ngân hàng vững mạnh và phát triển thì ở đó có nền kinh tế phát triển với trình độ cao. Ngược lại, quốc gia nào có hệ thống ngân hàng yếu kém hoặc chưa phát triển thì quốc gia ấy cũng không thể có nền kinh tế phát triển tốt.
Sở dĩ có điều này là vì trong hệ thống tài chính, các ngân hàng thương mại giữ vai trò trụ cột chính. Mặc dù ngoài ngân hàng còn có nhiều tổ chức tài chính trung gian khác, nhưng ở đâu ngân hàng cũng luôn giữ vai trò chính. Vì vậy ngân hàng là một tổ chức tài chính đặc biệt thể hiện ở các khía cạnh sau: Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ thanh toán. Đây là lĩnh vực đặc biệt liên quan trực tiếp đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Mặt khác, lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh thiệt hại cho nền kinh tế. Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, nó quyết định đến sự phát triển hoặc suy thái của cả một nền kinh tế, do đó được nhà nước điều tiết và kiểm soát chặt chẽ. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp nhưng nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, chiếm tỷ trọng rất cao. Trong khi đó vốn tự có của ngân hàng lại chiếm tỷ trọng rất thấp trên tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.
Trong tổng tài sản của ngân hàng thương mại, tài sản thực chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là tài sản tài chính như các loại kỳ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, hợp đồng tín dụng và các loại giấy tờ có giá khác. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mai chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương. Ngân hàng thương mại không thể mở rộng hoạt động kinh doanh khi ngân hàng Trung ương đang thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, kìm chế lạm phát, và ngược lại. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Chức năng của ngân hàng thương mại.1 Trung gian tín dụng.
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Trong chức năng này, ngân hàng đóng vai trò là nơi ký gửi các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời của mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Tại ngân hàng, các khoản tiền này được giữ an toàn và sinh lãi. Đồng thời, ngân hàng cũng là nơi các tổ chức, cá nhân tìm đến vay vốn phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của mình.
Chức năng này giải quyết vấn đề cho cả người thừa và thiếu vốn, đóng góp tích cực cho sự vận động của nền kinh tế.2 Trung gian thanh toán. Trung gian thanh toán là chức năng phân biệt ngân hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. Trong vai trò này ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nhận yêu cầu chuyển tiền của khách hàng cho người thụ hưởng và thực hiện điều này bằng cách trích tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng sau đó nhập vào tài khoản của người thụ hưởng. Ở đây ngân hàng giống như một thủ quỹ cho khách hàng của mình bởi ngân hàng là người giữ tiền và chi trả theo lệnh của khách hàng.
Quá trình thanh toán quan ngân hàng diễn ra hết sức nhanh chóng, an toàn và tiện lợi. Nhờ vậy tiết kiệm rất nhiều chi phí cho xã hội, các chủ thể trong nền kinh tế không mất thời gian đi lại và hoàn toàn không gặp rủi ro trong việc vận chuyển tiền. Cho nên chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại có ý nghĩa kinh tế vô cùng to lớn. Thông qua đó, việc lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh hơn, tốc độ chu chuyển vốn được nâng cao và đem lại hiệu quả kinh tế cho người chuyển tiền lẫn người nhận tiền.
Ngoài ra, việc thanh toán qua ngân hàng làm giảm bớt lượng tiền mặt lưu thông, tiết kiệm chi phí in ấn, thời gian kiểm đếm, gia tăng tính minh bạch trong hoạt động kinh tế.3 Chức năng tạo tiền. Khi ngân hàng thương mại thực hiện chức năng tạo tiền ghi sổ, tức từ những khoản tiền gửi ban đầu của khách hàng, ngân hàng sử dụng để cho vay. Các khoản tiền này dùng để thanh toán, giao dịch và một phần sẽ quay trở lại ngân hàng dưới hình thức tiền gửi. Quá trình này diễn ra liên tục nhiều lần trong hệ thống ngân hàng và tạo ra một lượng tiền gửi trên tài khoản gấp nhiều lần số tiền gửi ban đầu.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngân hàng thương mại bằng chức năng tạo tiền đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán của xã hội mà không còn phụ thuộc hoàn toàn vào lượng tiền giấy in ra bởi ngân hàng trung ương.4 Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại.1 Nghiệp vụ Nợ - Nguồn vốn. Đây là mảng nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn để ngân hàng thương mại hoạt động. Do đó, nghiệp vụ này tạo tiền đề cho các nghiệp vụ khác. Nguồn vốn của ngân hàng hình thành từ các nguồn sau đây: Vốn chủ sở hữu: bao gồm vốn điều lệ và các quỹ: o Vốn điều lệ: là khoản vốn ban đầu do chủ sở hữu của ngân hàng góp vào khi ngân hàng mới thành lập và được ghi vào điều lệ ngân hàng.
Vốn điều lệ có thể bổ sung thêm trong quá trình ngân hàng hoạt động. Đối với ngân hàng quốc doanh, vốn điều lệ do ngân sách cấp. Đối với ngân hàng thương mại cổ phần, vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp. Pháp luật thường quy định một con số tối thiểu của của vốn điều lệ mà ngân hàng phải đạt được.
o Các quỹ của ngân hàng: trong quá trình hoạt động, ngân hàng sẽ trích lập một số quỹ như: - Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. - Quỹ dự phòng tài chính. - Quỹ đầu tư phát triển. - Quỹ khen thưởng, phúc lợi.
Các quỹ này làm tăng vốn chủ sở hữu, đồng thời làm tăng tính an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng giúp đảm bảo sự an toàn và bền vững trong hoạt động ngân hàng. Vốn chủ sở hữu càng lớn thì chứng tỏ ngân hàng có quy mô lớn, mạng lưới rộng và năng lực tài chính mạnh. Vì vậy, trong quá trình kinh doanh ngân hàng luôn phải quan tâm nâng cao vốn chủ sở hữu.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vốn huy động: Vốn huy động là nguồn vốn lớn nhất trong tổng vốn hoạt động của ngân hàng thương mại và cũng là nguồn vốn chủ yếu để cấp tín dụng. Ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức như sau: o Tiền gửi không kỳ hạn. o Tiền gửi có kỳ hạn. o Các loại giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu… Bản chất của vốn huy động chính là nguồn tiền nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân gửi vào ngân hàng để giữ an toàn, sinh lãi và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng.
Vốn đi vay: Khi nguồn vốn không đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh, ngân hàng thương mại có thể đi vay dưới các hình thức sau: o Vay các ngân hàng thương mại khác. o Vay từ ngân hàng trung ương. Vốn khác: Ngân hàng có thể nhận các nguồn vốn ủy thác từ chính phủ, các tổ chức quốc tế.2 Nghiệp vụ Có - Sử dụng vốn.