Chương 1 - Tổng quan : phần này trình bày khái quát Cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu của báo cáo nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu : phần này trình bày và phân tích các lý thuyết liên quan. Trên cơ sở đó xác định các giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương 3 - Thiết kế nghiên cứu : phần này trình bày cách thức, phương pháp, thực hiện nghiên cứu, mô tả quá trình nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu.
Chương 4 - Phân tích kết quả khảo sát : phần này trình bày kết quả xử lý và phân tích dữ liệu. Kiểm định các giả thuyết và mô hình đã nêu ra. Chương 5 - Kết luận và kiến nghị : phần này trình bày các kết luận, kiến nghị từ kết quả nghiên cứu, nêu các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 20 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Tiếp theo phần giới thiệu tổng quan trong chương một, chương hai này sẽ trình bày định nghĩa về lòng trung thành của nhân viên và tổng quan các cơ sở lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Trên cơ sở lý thuyết này đề xuất mô hình và giả thuyết cho nghiên cứu. LÝ THUYẾT VỀ LÒNG TRUNG THÀNH Đã có nhiều nghiên cứu về lòng trung thành của nhân viên với nhiều cách tiếp cận khác nhau. (1990) chú trọng 3 trạng thái tâm lý của nhân viên khi gắn kết với tổ chức. Nhân viên có thể trung thành với tổ chức : - Vì tình cảm thực sự của họ, họ sẽ ở lại với tổ chức dù cho nơi khác trả lương cao hơn - Vì họ không có cơ hội tìm kiếm được công việc tốt hơn - Và có thể vì những chuẩn mực đạo đức mà họ theo đuổi.
Theo Mowday et al. (1979, p 226), trung thành là “ý định hoặc mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức”. Định nghĩa nổi tiếng của Mowday về lòng trung thành tương tự như khái niệm “Duy trì” trong các nghiên cứu ở phạm vi quốc gia trong nhiều năm liền của Viện Aon Consulting : Nhân viên có ý định ở lại lâu dài cùng tổ chức/doanh nghiệp; sẽ ở lại cùng tổ chức/doanh nghiệp mặc dù có nơi khác có lời đề nghị lương bổng tương đối hấp dẫn hơn (Stum 1999-2001). Theo Johnson (2005), nhân viên “trung thành với nghề nghiệp của họ hơn trung thành với nhà tuyển dụng” và “bản chất trong quan hệ giữa nhân viên và nhà tuyển 123doc 21 dụng đã có những thay đổi căn bản và cần đánh giá lại khái niệm trung thành” theo Trần Thị Kim Dung & Nguyễn Thị Mai Trang (2007, tr.19-20) The Loyalty Research Center (1990) đã định nghĩa lòng trung thành của nhân viên là việc nhân viên gắn kết với sự thành công cho tổ chức và tin tưởng rằng sự lựa chọn tốt nhất của họ là làm việc cho tổ chức này.
Không chỉ thực hiện các kế hoạch để tồn tại với tổ chức mà họ cũng không chủ động tìm kiếm cơ hội thay đổi công việc cũng như không đáp lại những lời mời gọi hấp dẫn khác. Theo cách định nghĩa này thì lòng trung thành của nhân viên là việc họ “muốn” ở lại với tổ chức và họ không có dự định nghỉ việc. Dự định nghỉ việc của nhân viên là ý định rời khỏi môi trường làm việc hiện tại để chuyển sang môi trường làm việc khác (Võ Quốc Hưng & Cao Hào Thi, 2010). Xét về xu hướng chung, thông thường nhân viên làm việc cho một tổ chức đều mong muốn được đáp ứng được các nhu cầu của họ và cảm thấy thoả mãn đối với công việc đang làm.
Một khi các nhu cầu không được đáp ứng, cảm thấy không thoả mãn với công việc thì ý định rời khỏi để tìm kiếm một tổ chức khác là điều tất yếu. Như vậy, có sự liên quan giữa nhu cầu và sự thoả mãn đối với công việc đến sự gắn bó, sự trung thành của nhân viên đối với tổ chức. Vì vậy, cần thiết phải trình bày lý thuyết về nhu cầu và sự thoả mãn của nhân viên để xem xét mối liên quan đến lòng trung thành của nhân viên, trên cơ sở đó đề ra các giả thuyết cho nghiên cứu này. LÝ THUYẾT VỀ NHU CẦU 2.
Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow: Trong hệ thống lý thuyết quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn. Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: 123doc 22 - Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý : đó là nhu cầu liên quan đến các yếu tố cần thiết để tồn tại như thức ăn, không khí, nhà ở, quần áo…. Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện chủ yếu ở tiền lương và các khoản phúc lợi.
- Nhu cầu an toàn : bao gồm an toàn về bản thân như không bị tấn công, chiến tranh đe doạ, thiên tai; an toàn về tài chính như khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp; an toàn về sức khoẻ như không bị bệnh, tai nạn,… Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện ở chỗ công việc an toàn, có bảo hộ lao động, công việc ổn định lâu dài…. - Nhu cầu xã hội : Khi nhu cầu sinh lý và an toàn được thoả mãn thì nhu cầu thứ ba cao hơn xuất hiện đó là nhu cầu có được các mối quan hệ xã hội như bạn bè, gia đình, được tham gia vào cộng đồng xã hội, được yêu thương,… - Nhu cầu được tôn trọng : Mọi người đều có nhu cầu được tôn trọng và tự trọng. Sự tôn trọng thể hiện ở việc con người muốn được chấp nhận và quý trọng bởi người khác. Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện việc được tổ chức ghi nhận những đóng góp của nhân viên, được làm việc ở vị trí cao và tăng thêm trách nhiệm.
- Nhu cầu tự khẳng định: Đây là nhu cầu cao nhất và khó thoả mãn nhất trong bậc thang nhu cầu của Maslow. Đây là nhu cầu được thể hiện cái “Tôi” của mỗi người. Nói rõ hơn, ở bậc này con người có nhu cầu được phát triển năng lực bản thân và tự hoàn thiện. Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện ở việc được đào tạo, huấn luyện, thăng tiến, được có cơ hội phát huy năng lực, óc sáng tạo.
Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp. Các nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh lý và an toàn, an ninh. Các nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định. Maslow cho rằng làm thoả mãn các nhu cầu ở cấp thấp là dễ hơn so với việc làm thoả mãn các nhu cầu ở cấp cao vì các nhu cầu cấp thấp là có giới hạn và có thể được thoả mãn từ bên ngoài.
Ông cho rằng đầu tiên các nhu cầu ở cấp thấp nhất hoạt động, nó đòi hỏi được thoả mãn và như vậy nó là động lực thúc 123doc 23 đẩy con người hành động – nó là nhân tố động viên. Khi các nhu cầu này được thoả mãn thì nó không còn là yếu tố động viên nữa lúc đó các nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản trị đó là muốn động viên người lao động thì điều quan trọng là bạn phải hiểu người lao động của bạn đang ở cấp độ nhu cầu nào. Từ sự hiểu biết đó cho phép bạn đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc thoả mãn nhu cầu của người lao động đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu tổ chức 2.2 Thuyết nhu cầu ERG – Existence, Relatedness and Growth theory Thuyết nhu cầu của Giáo sư Clayton Alderfer Đại học Yale được xây dựng trên cơ sở thuyết bậc thang nhu cầu của Maslow.
Thuyết ERG xác định 3 nhu cầu chính của con người đó là: - Nhu cầu tồn tại (Existence needs) : Ước muốn khỏe mạnh về thân xác và tinh thần, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu căn bản để sinh tồn như các nhu cầu sinh lý, ăn, mặc, ở, đi lại, học hành. và nhu cầu an toàn. - Nhu cầu giao tiếp (Relatedness needs) : nhu cầu thoả mãn trong mối quan hệ với mọi người. - Nhu cầu phát triển (Growth needs) : Ước muốn được tăng trưởng và phát triển bản thân trong cuộc sống và công việc.
Thuyết ERG cho rằng có nhiều hơn một nhu cầu ảnh hưởng và tác động đến cùng một người tại một thời điểm. Khi một nhu cầu cao hơn không được thoả mãn thì một nhu cầu ở bậc thấp hơn sẵn sàng phục hồi. Thuyết ERG liên quan đến sự động viên nhân viên làm việc, thuyết này giải thích được tại sao các nhân viên hay tìm kiếm mức lương cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn ngay cả khi những điều kiện này là tốt và đạt các tiêu chuẩn của thị trường lao động. Khi các nhân viên chưa cảm thấy thỏa mãn với nhu cầu giao tiếp và nhu cầu tăng trưởng hiện tại, họ sẽ tìm cách được thỏa mãn.
Như vậy, việc nhân viên có dự định nghỉ 123doc 24 việc ở tổ chức hiện tại để tìm đến một công việc mới có liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu phát triển trong công việc của họ. Hay nói cách khác sự thỏa mãn về các yếu tố thành phần của công việc có tác động đến lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức. LÝ THUYẾT VỀ SỰ THOẢ MÃN CỦA NHÂN VIÊN Sự thoả mãn là mức độ mà nhân viên có cảm nhận định hướng tích cực đối với việc làm trong tổ chức (Price, 1997). Sự thoả mãn đối với công việc của nhân viên được định nghĩa như là thái độ ảnh hưởng, ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau của công việc (Smith et al.
Trong nghiên cứu của Trần Kim Dung & Trần Hoài Nam (2005) mô hình ảnh hưởng của chỉ số mô tả công việc điều chỉnh (AJDI) đến mức độ thoả mãn của nhân viên, có 7 khía cạnh ảnh hưởng đến mức độ thoả mãn của nhân viên đó là bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương, phúc lợi và điều kiện làm việc.