CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1.1 Các chính sách, văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề chăm sóc SKSS cho người dân tộc Chính phủ Việt Nam quan niệm công tác dân số là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội, góp phần quyết định để thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính vì thế, ngay từ đầu đã ban hành nhiều chính sách về dân số thông qua Nghị quyết, Chị thị của Đảng, Quyết định, Chỉ thị, Chiến lược của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách và các quy định pháp luật về dân số còn tản mạn, cách hiểu và vận dụng còn khác nhau. Nay công tác dân số đã chính thức được luật hoá bằng một pháp lệnh.8] Pháp lệnh dân số nhằm cụ thể hoá chính sách DS – KHHGĐ, nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong công tác dân số; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; tăng cường thống nhất quản lý Nhà nước về dân số; gồm 7 chương và 40 điều có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2003.
Trong đó, quy định 4 vấn đề then chốt của công tác dân số bao gồm: quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư và chất lượng dân số.Với tất cả nội dung nêu trong pháp lệnh dân số ngoài những quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện KHHGĐ như: (1) Quyền quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng; (2) lựa chọn, sử dụng các biện pháp KHHGĐ. Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có nghĩa vụ: (1) sử dụng các BPTT; (2) bảo vệ sức khoẻ và thực hiện các biện pháp phòng, tránh các bệnh nhiễm khuẩn 12 đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; (3) Thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến chăm sóc SKSS, KHHGĐ… Pháp lệnh dân số còn có những điều bảo vệ các dân tộc thiểu số (điều 15) như: (1) Nhà nước có chính sách, biện pháp giúp đỡ, hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn bằng các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo và đáp ứng nhu cầu dịch vụ chăm sóc SKSS, KHHGĐ, nâng cao chất lượng dân số. (2) Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ các dân tộc thiểu số trong việc bảo vệ, chăm sóc SKSS, KHHGĐ. Và trong việc đưa ra biện pháp nâng cao chất lượng dân số (điều 21) pháp lệnh đã nêu: Thực hiện chính sách và biện pháp hỗ trợ đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn để nâng cao chất lượng dân số.
Qua đó cho thấy rằng vấn đề dân số, công tác KHHGĐ và chăm sóc SKSS cho các dân tộc thiểu số luôn được Nhà nước đặc biệt quan tâm và chú trọng. Ngoài những quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Pháp lệnh dân số, các dân tộc thiểu số được Pháp lệnh dân số bảo vệ, tạo mọi điều kiện tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS, thực hiện KHHGĐ và nâng cao chất lượng dân số của dân tộc mình. Bên cạnh đó, để giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra cho công tác dân số, Việt Nam đã xây dựng các chiến lược dân số trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển của đất nước. Chiến lược DS-KHHGĐ từ 1993 đến năm 2000 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 03 tháng 6 năm 1993 và đã được triển khai có hiệu quả.
Chính phủ Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao những thành tựu mà chương trình dân số Việt Nam đạt được trong những năm qua như: kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với mục tiêu đề ra, nhận thức và hành động của toàn xã hội về 13 DS-KHHGĐ được nâng lên rõ rệt, hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ bước đầu được kiện toàn, công tác thông tin, giáo dục, truyền thông được mở rộng và đẩy mạnh, một số chính sách chế độ đã được ban hành và thực hiện có kết quả. Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tài một số hạn chế: Các giải pháp của chương trình DS-KHHGĐ còn có một số nội dung chưa thích hợp với vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo. Trong những năm qua, chương trình DS-KHHGĐ và chăm sóc SKSS thực tế mới chỉ thành công ở vùng thành thị và vùng nông thôn phát triển. Những vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai chương trình.
So với mức bình quân của cả nước, mức sinh ở các khu vực này cao hơn gấp 1,7-1,9 lần, trong khi tỷ lệ sử dụng các BPTT thấp chỉ bằng 60%. Có tới 56,3% số phụ nữ có thai chưa được khám thai lần nào trong suốt thời kỳ mang thai và chỉ có 42% sản phụ được các nhân viên y tế chăm sóc khi sinh nở; tỷ lệ mắc bệnh viêm nhiễm qua đường sinh sản lên đến 70,6%. Ở những vùng này, công tác thông tin, giáo dục truyền thông chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng; hệ thống cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ chưa bảo đảm về tính thuận tiện, an toàn, đa dạng và chất lượng cao… Với những tồn tại trên, Chiến lược dân số và SKSS Việt Nam giai đoạn 2000 -2010 ra đời thực hiện các mục tiêu cụ thể: Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo để quy mô, cơ cấu dân số và phân bổ dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội vào năm 2010; nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, phấn đấu đạt chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến thế giới vào năm 2010; SKSS được cải thiện; nhận thức, thái độ, hành vi về DS và SKSS của các nhóm đối tượng đã có chuyển biến tích cực; hiểu biết và thực hành về KHHGĐ, SKSS trong các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt; mạng lưới dịch vụ chăm sóc SKSS, KHHGĐ được củng cố và phát triển; tất cả các tỉnh, thành phố đều có Trung tâm SKSS, hầu hết các trung tâm y tế huyện đều có khoa SKSS, tại cấp xã, có 98,6% số xã đã có Trạm y tế; 100% thôn, bản, tổ dân phố có cộng tác viên dân số; 14 nhiều văn bản chính sách, hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật về DS và SKSS được ban hành; kinh phí đầu tư cho các chương trình DS và SKSS được nâng lên. Việc xã hội hóa công tác DS và SKSS đã được chú trọng và có chuyển biến tích cực; hệ thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ được cải tiến, bước đầu phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành chương trình, xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở cấp cơ sở.
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: mức giảm sinh chưa đồng đều giữa các vùng, chất lượng dân số chậm được cải thiện, nhiều vấn đề về KHHGĐ, chăm sóc SKSS chưa được giải quyết tốt như chăm sóc SKSS cho người chưa thành niên, thanh niên, cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người; tình trạng phá thai vẫn còn nhiều, ở mức 29 ca phá thai trên 100 trẻ sinh sống, trong đó vẫn còn nhiều trường hợp phá thai nhiều lần; nội dung, hình thức truyền thông chưa thật phù hợp với tình hình, văn hóa địa phương và chưa cụ thể cho từng nhóm đối tượng; Thông tin, số liệu và nghiên cứu khoa học về dân số và SKSS chưa đáp ứng nhu cầu quản lý, xây dựng kế hoạch và chính sách; Một số vấn đề mới phát sinh trong công tác dân số như mất cân bằng giới tính khi sinh, già hóa dân số chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức nên diễn biến ngày càng phức tạp; Do đó, Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2011-2020 chủ yếu tập trung vào giải quyết các vấn đề: Nâng cao chất lượng dân số giai đoạn đầu đời, tạo cơ sở nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần; duy trì mức sinh thấp, hợp lý để sớm ổn định quy mô dân số đồng thời chủ động ngăn ngừa nguy cơ suy thoái ở một số dân tộc ít người; giải quyết tốt một số vấn đề cấp bách về cơ cấu dân số và phân bố dân số; cải thiện sức khỏe bà mẹ trẻ em, SKSS, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số và các nhóm dân số đặc thù. Những nội dung đó được cụ thể hóa qua 11 mục tiêu. Đối với cải thiện SKSS đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số và các nhóm đặc thù nội dung của chiến lược đã đề ra mục tiêu 7 - giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm ung thư đường sinh sản, chú trọng sàng lọc ung thư đường sinh sản ở phụ nữ trong độ tuổi 30 - 54 tuổi; 15 mục tiêu 9 - cải thiện SKSS cho các nhóm dân số đặc thù (người di cư, người khuyết tật, người nhiễm HIV, người dân thuộc dân tộc có nguy cơ suy thoái về chất lượng giống nòi); Qua đó, cho thấy rằng chăm sóc SKSS cho người dân tộc đang được Chính phủ Việt Nam quan tâm và xem đây là vấn đề quan trọng cần được giải quyết trong giai đoạn hiện nay. Để khái quát tất cả các chính sách về SKSS cho dân tộc ít người, năm 2010 Quỹ Dân số Liên hiệp Quốc (UNFPA ) đã thực hiện báo cáo đánh giá chính sách SKSS cho người dân tộc ít người tại Việt Nam.