Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng hệ thống đo lường kết quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Anh Thư, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Thị Vân Hoa tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Viện Quản trị Kinh doanh), chuyên ngành Quản trị kinh doanh (Mã số: 9340101), bảo vệ năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khái niệm hệ thống đo lường kết quả hoạt động (Performance Measurement System - PMS) xuất hiện lần đầu vào năm 1976 tại Mỹ nhằm tối ưu hóa phương pháp quản trị theo mục tiêu. Theo tổng hợp của Andy Neely (1999), ba động lực chính thúc đẩy PMS phát triển bao gồm: áp lực cạnh tranh gia tăng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc hệ thống đo lường để phù hợp với chiến lược; sự phổ biến của các chương trình cải tiến liên tục (như TQM, Lean) đòi hỏi chỉ số định lượng làm căn cứ; và sự phát triển của công nghệ thông tin giúp thu thập, xử lý dữ liệu dễ dàng hơn.
Về mặt học thuật, khoảng 95% nghiên cứu kinh tế - quản trị trong hai thập kỷ qua được thực hiện tại các nước phát triển, chỉ có 5% tại các nền kinh tế đang phát triển (Farashahi và cộng sự, 2005). Các nghiên cứu về sự phù hợp của các công cụ quản trị hiện đại tại thị trường mới nổi còn hạn chế.
Về mặt thực tiễn, tại Việt Nam, doanh nghiệp sản xuất (DNSX) ngành công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 15,3% tổng số doanh nghiệp nhưng đóng góp tới 33,5% tổng doanh thu toàn khu vực doanh nghiệp và giải quyết việc làm cho 6,2 triệu lao động (chiếm 48,49% lao động doanh nghiệp năm 2015). Tuy nhiên, hơn 32% DNSX có tuổi đời dưới 5 năm. Giai đoạn 2007 - 2015 ghi nhận nhiều hạn chế: tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư ngành chế biến chế tạo đạt 21,74%/năm (thấp hơn mức trên 30% của ngành dịch vụ); chỉ số thanh toán nhanh năm 2015 ở mức 2,13 lần (thấp nhất trong các ngành); chỉ số nợ bình quân 2,47 lần (cao thứ hai sau khai khoáng); tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) chỉ đạt 4,2%; và tỷ trọng DNSX thua lỗ tăng lên mức 40,4% vào năm 2015 (Tổng cục Thống kê, 2017). Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 2016 - 2017 của Việt Nam xếp thứ 60/138 (đạt 4,31/7 điểm). Báo cáo của VCCI (2016) chỉ ra lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam thiên về điều hành tác nghiệp ngắn hạn hơn là hoạch định và kiểm soát chiến lược dài hạn. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng PMS nhằm nâng cao năng lực quản trị là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ các yếu tố ảnh hưởng và phân tích mức độ tác động của từng yếu tố đến việc áp dụng PMS trong các DNSX tại Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể gồm:
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng PMS trong các DNSX.
- Kiểm định mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này trong bối cảnh các DNSX tại Việt Nam.
- Đề nghị những giải pháp cho các bên liên quan để có thể áp dụng được PMS.
Câu hỏi nghiên cứu:
- PMS đã được nghiên cứu và áp dụng trên thế giới và ở Việt Nam như thế nào?
- Những yếu tố nào tác động đến việc áp dụng PMS trong các DNSX trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng?
- Mức độ tác động của những yếu tố này như thế nào trong bối cảnh các DNSX tại Việt Nam?
- Các doanh nghiệp và các bên liên quan nên làm gì để có thể áp dụng PMS một cách hiệu quả để nâng cao trình độ quản trị trong doanh nghiệp?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng hệ thống đo lường kết quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 6 yếu tố nội bộ doanh nghiệp gồm: (1) Mức độ đa chiều của bộ chỉ số đo lường; (2) Quyết tâm của lãnh đạo; (3) Đào tạo về PMS; (4) Sự tham gia của nhân viên; (5) Sự gắn kết thành tích với lợi ích; (6) Thái độ của người lao động đối với PMS. Biến phụ thuộc là "Việc áp dụng PMS" (được đánh giá qua hiệu quả đầu ra của hệ thống). Đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo có quy mô từ 10 lao động trở lên.
- Phạm vi không gian: Các DNSX có nhà máy đặt tại miền Bắc Việt Nam, trọng tâm là Hà Nội và các tỉnh lân cận.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập đến năm 2017; dữ liệu sơ cấp thu thập qua phỏng vấn và khảo sát từ tháng 04/2017 đến tháng 05/2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh PMS theo các nhóm nội dung:
- Quá trình phát triển và các mô hình PMS: Suwit Srimai và cộng sự (2011) tổng hợp lịch sử PMS qua hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1980 (tập trung kiểm soát chi phí, chỉ số tài chính ngắn hạn) và giai đoạn từ những năm 1980 đến nay (chuyển sang kiểm soát chiến lược, đa chiều, tích hợp các yếu tố phi tài chính). Kaplan và Norton (1992, 1996) giới thiệu Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) kết hợp 4 khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển. Neely và cộng sự (2001) đưa ra mô hình Performance Prism tập trung vào sự hài lòng và đóng góp của các bên liên quan.
- Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng PMS:
- Heather và cộng sự (2013) sử dụng phương pháp tổng quan hệ thống (SLR) tổng hợp 43 yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng PMS. Đến năm 2016, Heather chắt lọc còn 29 yếu tố thuộc 9 nhóm tác động (chất lượng thiết kế, phương pháp triển khai, sự tham gia của nhân viên, đào tạo, quyết tâm lãnh đạo, môi trường đo lường, văn hóa tổ chức, gắn kết thành tích với lợi ích) dựa trên khảo sát 242 tổ chức tại 27 quốc gia.
- Amy Tung và cộng sự (2011) khảo sát 455 DNSX tại Úc, khẳng định 5 yếu tố ảnh hưởng thuận chiều đến hiệu quả PMS: sử dụng PMS đa chiều, cam kết của lãnh đạo, đào tạo về PMS, sự tham gia của nhân viên và sự gắn kết kết quả thực hiện với lợi ích.
- Rahat và cộng sự (2012) khảo sát 540 giám đốc tài chính DNSX tại Úc, chứng minh mối liên hệ giữa chiến lược kinh doanh, văn hóa làm việc nhóm, hệ thống công nghệ thông tin với việc áp dụng các thước đo đa chiều và hiệu quả PMS.
- Nghiên cứu về thước đo và quy trình trong DNSX: Carlos F. Gomes (2007, 2011) xác định 63 thước đo thuộc 12 khía cạnh tại các DNSX Bồ Đào Nha; Gosselin (2005) khảo sát 73 chỉ số tại Canada. Dermawan (2011) đề xuất quy trình 9 bước thiết kế PMS trong doanh nghiệp sản xuất.
- Nghiên cứu PMS trong các lĩnh vực khác: PMS trong khu vực công và phi lợi nhuận (Jusoh Ruzita và cộng sự, 2012; Lewis, 2012; Francesco, 2010); PMS trong doanh nghiệp dịch vụ (Aki và cộng sự, 2014; Harri, 2014) nhấn mạnh sự khác biệt về vai trò của khách hàng và đặc thù không lưu kho của sản phẩm dịch vụ.
- Thực tiễn thất bại khi áp dụng PMS: Ander và cộng sự (2008) chỉ ra tỷ lệ thất bại của các dự án PMS là 56%, xuất phát từ 10 nguyên nhân chính như thiếu văn hóa đo lường, thiếu cam kết của lãnh đạo, xung đột mục tiêu, và quá tải chỉ số đo lường.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Phần lớn các công trình thực nghiệm trước đây được tiến hành tại các nước phát triển (Mỹ, Úc, Canada, Tây Âu). Thiếu vắng các nghiên cứu định lượng kiểm định mô hình các yếu tố tác động đến việc áp dụng PMS trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam – nơi có sự kết hợp giữa cơ chế thị trường và sự điều tiết của Nhà nước với đa dạng hình thức sở hữu. Thêm vào đó, thang đo cho các biến "Sự tham gia của nhân viên" và "Sự gắn kết thành tích với lợi ích" từ các nghiên cứu quốc tế trước đó (như của Amy Tung và cộng sự, 2011) còn đơn giản, cần được điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát để phản ánh đúng thực tế quản trị tại doanh nghiệp sản xuất Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Lý thuyết nền tảng: Luận án sử dụng Lý thuyết quản trị theo tình huống (Contingency Theory) được phát triển bởi Lawrence và Lorsch (1967), Burns và Stalker (1961), Chandler (1962). Luận điểm trung tâm là không có một mô hình quản trị hay hệ thống kiểm soát duy nhất phù hợp cho mọi tổ chức; việc thiết kế và áp dụng PMS phụ thuộc vào các yếu tố bối cảnh bên trong (quy mô, cơ cấu, phong cách lãnh đạo, văn hóa) và môi trường bên ngoài (sự biến động thị trường, áp lực cạnh tranh) (Chenhall, 2003; Patrizia và cộng sự, 2007).
- Khái niệm PMS: Luận án tiếp cận theo định nghĩa của Neely và cộng sự (2003): PMS là quá trình lượng hóa hiệu quả và hiệu suất của hoạt động, bao gồm quá trình lựa chọn, thiết kế các thước đo, thu thập phân tích số liệu, quản lý thông tin và đánh giá kết quả thực hiện.
- Cấu trúc nội hàm PMS: Theo Franco-Santos và cộng sự (2007), PMS gồm 3 thành phần (thước đo hoạt động, cơ sở hạ tầng hỗ trợ, sự liên kết chiến lược) và 13 quy trình vận hành. Theo De Tone và S. Tonchia (2001), PMS trong DNSX có ba đặc tính: tính thống nhất, tính liên kết (với hệ thống kế toán, hệ thống kế hoạch và kiểm soát sản xuất, hệ thống hoạch định chiến lược) và tính ứng dụng.
- Khung mô hình nghiên cứu: Gồm 6 biến độc lập tác động trực tiếp đến 1 biến phụ thuộc:
- Biến độc lập: (1) Mức độ đa chiều của bộ chỉ số đo lường, (2) Quyết tâm của lãnh đạo, (3) Đào tạo về PMS, (4) Sự tham gia của nhân viên, (5) Sự gắn kết thành tích với lợi ích, (6) Thái độ của người lao động đối với PMS.
- Biến phụ thuộc: Việc áp dụng PMS.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính:
- Phỏng vấn sâu 7 chuyên gia (gồm 3 chuyên gia tư vấn quản lý và 4 lãnh đạo doanh nghiệp) nhằm tham vấn tính phù hợp của khung lý thuyết.
- Nghiên cứu tình huống thực tế tại 2 DNSX trong tháng 04 và 05/2017: Công ty Cổ phần Kinh Đô Miền Bắc (đại diện doanh nghiệp quy mô lớn) và Công ty Cổ phần Dược phẩm Novaco (đại diện doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ) để rà soát thực trạng áp dụng PMS và hiệu chỉnh thang đo.
- Khảo sát sơ bộ: Thực hiện trên 136 cán bộ nhân viên tại các DNSX để thử nghiệm và đánh giá sơ bộ độ tin cậy của bảng câu hỏi.
- Phương pháp định lượng chính thức:
- Thiết kế mẫu: Chọn mẫu phi xác suất thuận tiện. Bảng câu hỏi gửi tới 1.115 DNSX tại miền Bắc.
- Thu thập dữ liệu: Tiến hành trong 7 tháng (từ tháng 10/2017 đến tháng 04/2018). Sau khi làm sạch, thu được 219 phiếu hợp lệ từ cán bộ nhân viên thuộc 185 DNSX.
- Công cụ và kỹ thuật phân tích: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để thực hiện thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson, mô hình hồi quy tuyến tính bội (MLR) và kiểm định ANOVA để so sánh sự khác biệt theo quy mô, ngành nghề và hình thức sở hữu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về hệ thống đo lường kết quả hoạt động
Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa, vai trò và lịch sử phát triển của PMS. Tác giả tổng hợp các mô hình PMS điển hình qua các giai đoạn:
| Năm giới thiệu |
Mô hình PMS |
Các khía cạnh đo lường chính |
| 1985 |
Mô hình Sink and Tuttle |
Hiệu quả, hiệu suất, chất lượng, năng suất, chất lượng cuộc sống lao động, sáng kiến, lợi nhuận và ngân sách |
| 1988 |
Hệ thống phân tích đo lường chiến lược và kỹ thuật báo cáo |
Thị trường, tài chính, lựa chọn khách hàng, độ linh hoạt, năng suất, chất lượng, giao hàng, thời gian sản xuất, chi phí |
| 1989 |
Hệ thống đo lường sản xuất World class |
Chất lượng, giao hàng, thời gian sản xuất, mức độ linh hoạt, chi phí |
| 1991 |
Chỉ báo kinh doanh Skandia |
Tài chính, khách hàng, nguồn nhân lực, quy trình, đổi mới và phát triển |
| 1992 |
Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) |
Tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển |
| 1997 |
Mô hình đo lường dựa trên tri thức |
Ba bộ thước đo (đổi mới & phát triển, hiệu suất, độ ổn định) cho ba loại tài sản vô hình (năng lực nhân viên, cấu trúc nội bộ, cấu trúc bên ngoài) |
| 1998 |
Thẻ điểm kinh doanh so sánh |
Giá trị các bên liên quan, mức độ xuất sắc của quy trình, tinh thần học tập trong tổ chức, mức độ hài lòng của các bộ phận |
| 2001 |
Mô hình hiệu suất Prism (Performance Prism) |
Sự hài lòng của các bên liên quan, chiến lược, quy trình, khả năng, đóng góp của các bên liên quan |
| 2003 |
Mô hình hiệu suất đa chiều năng động |
Tài chính, thị trường, quá trình, con người, và trong tương lai |
Chương này cũng phân tích 3 phương thức sản xuất (Make-to-Stock, Make-to-Order, Make-to-Assemble), tổng kết 9 bước thiết kế PMS trong DNSX của Dermawan (2011), và chỉ ra thực trạng ứng dụng BSC/KPI tại Việt Nam qua các tổ chức tư vấn (OCD, iEIT, BSV) cùng các doanh nghiệp lớn (EVN, Traphaco, VNPT).
Chương 2: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày quy trình nghiên cứu chi tiết, xây dựng 6 giả thuyết nghiên cứu và thiết lập hệ thống thang đo.
Dựa trên kết quả nghiên cứu tình huống tại Kinh Đô Miền Bắc và Novaco, tác giả đã bổ sung 2 biến quan sát mới vào bộ thang đo kế thừa từ các nghiên cứu quốc tế:
- Bổ sung biến quan sát "Nhân viên được tham gia thảo luận, giải thích về kết quả hoạt động" vào thang đo biến "Sự tham gia của nhân viên" (nâng tổng số từ 2 mục lên 3 mục).
- Bổ sung biến quan sát "Thành tích được gắn với sự phát triển nghề nghiệp trong tương lai" vào thang đo biến "Sự gắn kết thành tích với lợi ích" (nâng tổng số từ 2 mục lên 3 mục).
Chương 2 hoàn thiện quy trình chọn mẫu, bảng câu hỏi khảo sát và các tiêu chuẩn kiểm định định lượng trên SPSS 20 (hệ số Cronbach's Alpha > 0,6; Factor loading > 0,5).
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng PMS trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam
Chương 3 trình bày các kết quả phân tích số liệu sơ cấp thu thập được:
- Mô tả mẫu khảo sát: 219 phiếu hợp lệ từ 185 DNSX, phản ánh cơ cấu mẫu theo quy mô lao động, quy mô vốn, hình thức sở hữu, ngành nghề sản xuất, chức vụ người trả lời và tần suất đánh giá kết quả thực hiện PMS.
- Kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) và EFA: Tất cả các thang đo cho 6 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc đều đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ, giá trị phân biệt.
- Phân tích hồi quy tuyến tính bội (MLR): Đánh giá mức độ tác động và chiều hướng ảnh hưởng của 6 yếu tố độc lập đến biến phụ thuộc "Việc áp dụng PMS". Kết quả khẳng định vai trò quan trọng của các yếu tố nội bộ, trong đó mức độ đa chiều của chỉ số đo lường và quyết tâm của lãnh đạo là các yếu tố có tác động mạnh mẽ.
- Kiểm định ANOVA: Phân tích sự khác biệt trong áp dụng PMS khi phân nhóm doanh nghiệp theo quy mô lao động, quy mô vốn, ngành sản xuất và hình thức sở hữu.
- Nhận diện các vấn đề thực tiễn: Chỉ ra các hạn chế trong áp dụng PMS tại các DNSX Việt Nam như sự thiên lệch về chỉ tiêu tài chính ngắn hạn, thiếu truyền thông từ lãnh đạo cấp cao và sự tham gia thụ động của người lao động.
Chương 4: Kiến nghị và đề xuất
Chương 4 đưa ra các giải pháp dựa trên kết quả định lượng:
- Định hướng phát triển và nâng cao năng lực quản trị cho các DNSX Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp triển khai PMS trong DNSX: thiết kế bộ chỉ số đo lường cân bằng giữa tài chính và phi tài chính; nâng cao cam kết của lãnh đạo cấp cao qua 3 khía cạnh (nguồn lực, truyền thông, quyền hạn); tổ chức đào tạo PMS định kỳ; tăng cường cơ chế tham gia hai chiều (top-down và bottom-up); gắn kết kết quả PMS với lương thưởng và cơ hội thăng tiến nghề nghiệp.
- Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức hiệp hội (VCCI) và các đơn vị tư vấn quản trị.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Tổng quan hệ thống hóa các nghiên cứu về PMS trên thế giới và tại Việt Nam, phân loại các yếu tố tác động đến việc áp dụng PMS trong doanh nghiệp.
- Xây dựng và kiểm định thành công mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng PMS trong điều kiện cụ thể của các DNSX tại Việt Nam – một nền kinh tế đang phát triển có sự điều tiết của Nhà nước và đa dạng hình thức sở hữu.
- Xác định và khẳng định mức độ tác động của 6 yếu tố nội bộ gồm: Mức độ đa chiều của bộ chỉ số đo lường, Quyết tâm của lãnh đạo, Đào tạo về PMS, Sự tham gia của nhân viên, Sự gắn kết thành tích với lợi ích, Thái độ của người lao động đối với PMS.
- Bổ sung và kiểm định thành công 2 biến quan sát mới cho thang đo:
- Thang đo "Sự tham gia của nhân viên": Bổ sung mục "Nhân viên được tham gia thảo luận, giải thích về kết quả hoạt động".
- Thang đo "Sự gắn kết thành tích với lợi ích": Bổ sung mục "Thành tích được gắn với sự phát triển nghề nghiệp trong tương lai".
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng bộ chỉ số đo lường đa chiều, tích hợp đầy đủ các thước đo phi tài chính (khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển) bên cạnh các chỉ số tài chính truyền thống để theo dõi hiệu quả dài hạn.
- Làm rõ ba nội dung then chốt của biến "Quyết tâm của lãnh đạo" giúp nâng cao hiệu quả triển khai PMS: (1) Cung cấp nguồn lực phù hợp; (2) Truyền thông hiệu quả về sự ủng hộ đối với PMS; (3) Vận dụng quyền hạn để hỗ trợ thực thi PMS.
- Chỉ rõ vai trò của hoạt động đào tạo liên tục kết hợp với sự tham gia của nhân viên (thiết kế theo cơ chế kết hợp từ trên xuống và từ dưới lên), giúp giảm thiểu phản ứng tiêu cực với sự thay đổi.
- Đưa ra căn cứ để doanh nghiệp thiết lập chính sách đãi ngộ gắn kết thành tích PMS với cả lợi ích tài chính trực tiếp và lộ trình thăng tiến nghề nghiệp lâu dài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về địa bàn khảo sát: Dữ liệu sơ cấp tập trung chủ yếu tại các DNSX có nhà máy đặt ở khu vực miền Bắc (Hà Nội và các tỉnh lân cận), chưa bao phủ toàn diện các vùng kinh tế trọng điểm khác tại Việt Nam.
- Về phương pháp chọn mẫu: Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện với cỡ mẫu 219 phiếu phân tích từ 185 DNSX.
- Về phạm vi yếu tố: Nghiên cứu tập trung vào 6 yếu tố thuộc nhóm nội bộ doanh nghiệp, chưa phân tích sâu tác động định lượng của các biến số môi trường vĩ mô bên ngoài.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu quy trình thiết kế và cơ chế vận hành PMS theo từng ngành công nghiệp chế biến chế tạo đặc thù.
- Khảo sát và kiểm định mô hình áp dụng PMS trên các đối tượng khác như doanh nghiệp phi sản xuất (khu vực dịch vụ), các tổ chức công lập và các tổ chức phi lợi nhuận.
- Mở rộng phạm vi khảo sát trên quy mô toàn quốc và áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Lãnh đạo và nhà quản lý doanh nghiệp sản xuất: Cung cấp khung 9 bước thiết lập PMS, các tiêu chí đánh giá cam kết lãnh đạo và phương thức xây dựng bộ chỉ số KPI/BSC cân bằng giữa tài chính và phi tài chính.
- Chuyên gia tư vấn quản trị: Tham khảo mô hình phân tích các yếu tố cản trở và thúc đẩy việc áp dụng PMS, từ đó thiết kế các chương trình tư vấn quản trị hiệu suất phù hợp với đặc thù doanh nghiệp Việt Nam.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh ngành Quản trị kinh doanh: Cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu về các mô hình PMS quốc tế, khung phân tích dựa trên lý thuyết quản trị theo tình huống và bộ thang đo đã được hiệu chỉnh, bổ sung biến quan sát thực chứng.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm PMS được luận án tiếp cận theo định nghĩa của tác giả nào?
Luận án tiếp cận khái niệm PMS theo định nghĩa của Neely và cộng sự (2003): PMS là quá trình lượng hóa hiệu quả và hiệu suất của hoạt động, bao gồm các công đoạn lựa chọn, thiết kế thước đo, thu thập và phân tích số liệu, quản lý thông tin và đánh giá kết quả thực hiện.
2. Hai biến quan sát mới được tác giả bổ sung vào bộ thang đo là gì?
Tác giả đã bổ sung 2 biến quan sát từ nghiên cứu tình huống thực tế:
- Thang đo "Sự tham gia của nhân viên": Bổ sung biến "Nhân viên được tham gia thảo luận, giải thích về kết quả hoạt động".
- Thang đo "Sự gắn kết thành tích với lợi ích": Bổ sung biến "Thành tích được gắn với sự phát triển nghề nghiệp trong tương lai".
3. Nghiên cứu tình huống định tính được thực hiện tại các doanh nghiệp nào?
Nghiên cứu tình huống được thực hiện vào tháng 04 và 05/2017 tại 2 doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Kinh Đô Miền Bắc (đại diện cho khối doanh nghiệp lớn) và Công ty Cổ phần Dược phẩm Novaco (đại diện cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ).
4. Cỡ mẫu khảo sát định lượng chính thức của luận án là bao nhiêu?
Phiếu khảo sát được gửi tới 1.115 DNSX tại miền Bắc; sau quá trình sàng lọc và làm sạch, dữ liệu phân tích chính thức bao gồm 219 phiếu trả lời hợp lệ từ cán bộ nhân viên thuộc 185 DNSX.
5. Ba nội dung thể hiện yếu tố quyết tâm của lãnh đạo trong việc áp dụng PMS là gì?
Gồm 3 nội dung: (1) Lãnh đạo cấp cao cung cấp nguồn lực phù hợp để hỗ trợ PMS; (2) Lãnh đạo cấp cao truyền thông hiệu quả về những ủng hộ của họ đối với PMS; (3) Lãnh đạo cấp cao thực hiện các quyền hạn của mình để hỗ trợ PMS.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Anh Thư đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hệ thống đo lường kết quả hoạt động (PMS) dựa trên nền tảng lý thuyết quản trị theo tình huống, đồng thời làm rõ thực trạng quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất ngành chế biến chế tạo tại Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phỏng vấn chuyên gia, nghiên cứu tình huống và khảo sát định lượng trên 219 phiếu hợp lệ từ 185 doanh nghiệp, tác giả đã kiểm định mô hình gồm 6 yếu tố nội bộ ảnh hưởng đến việc áp dụng PMS. Kết quả nghiên cứu bổ sung 2 biến quan sát mới cho thang đo nghiên cứu và cung cấp cơ sở thực tiễn để các nhà quản trị hoàn thiện hệ thống đo lường hiệu suất hoạt động doanh nghiệp.