đặt vấn đề và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Chƣơng 2: Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨUHÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ cở dùng tiền tệ làm phƣơng tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hóa là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa giữa các nƣớc.Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia có lợi thì các quốc gia đều quan tâm và mở rộng hoạt động.Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng cho đến xuất khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các công nghệ kỹ thuật cao.Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu là đem lại lợi ích cho các quốc gia. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không gian lẫn điều kiện thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàng năm, có thể đƣợc tiến hành trên phạm vị lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Vai trò của xuất khẩu a) Đối với nền kinh tế Thực tiễn đã xác định xuất khẩu là một mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển kinh tế của một đất nƣớc.
Công tác xuất khẩu đƣợc đánh giá quan trọng nhƣ vậy do: Một là: Xuất khẩu đã tạo nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa đất nƣớc. Công nghiệp hóa với những bƣớc đi phù hợp là con đƣờng tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu. Tuy nhiên, công 6 nghiệp hóa đòi hỏi phải có số lƣợng lớn vốn để nhập khẩu những máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn nhập khẩu có thể tập trung từ các hình thức nhƣ: Đầu tƣ nƣớc ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ xuất khẩu… Các nguồn này tuy quan trọng nhƣng sẽ phải trả dù bằng cách này hay cách khác.
Nhƣ vậy, nguồn vốn quan trọng cho nhập khẩu phần lớn trông chờ vào xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trƣởng của nhập khẩu. Hai là: Xuất khẩu đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới là tất yếu đối với tất cả các nƣớc kém phát triển.
Ba là: Xuất khẩu tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Tác động của xuất khẩu ảnh hƣởng đến rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Sản xuất hàng hóa xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động vào làm việc, tạo ra thu nhập ổn định, đồng thời tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của nhân dân. Bốn là: Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của nƣớc ta trên cơ sở vì lợi ích của các bên, đồng thời gắn liền sản xuất trong nƣớc với quá trình phân công lao động quốc tế.
Xuất khẩu là một trong những nội dung chính trong chính sách kinh tế đối ngoại của nƣớc ta với các nƣớc trên thế giới vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh. Nhƣ vậy, có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo ra động lực cần thiết giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế. Điều này nói lên tính khách quan của việc tăng cƣờng xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế. b) Đối với doanh nghiệp Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nƣớc có cơ hội tham gia và tiếp cận vào thị trƣờng thế giới.Nếu thành công đây sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng và khả năng sản xuất của mình.
7 Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động. Sản xuất hàng hóa xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đƣợc nhiều lao động vào làm việc tạo ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thị trƣờng. Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trƣờng cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển đƣợc thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lƣợng, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm. Đây sẽ là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ a) Hàng thủ công mỹ nghệ Nghề thủ công mỹ nghệ là các nghề thủ công làm ra các sản phẩm mỹ nghệ, hoặc các sản phẩm tiêu dùng đƣợc tạo hình và trang trí tinh xảo giống nhƣ sản phẩm mỹ nghệ.[24] Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lƣợng cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hóa dân tộc, mang bản sắc văn hóa của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng. Ngành hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam có thể đƣợc phân loại thành 10 tiểu ngành. Theo báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì sản xuất hàng thủ công ở tất cả những tiểu ngành này chủ yếu dựa trên một hệ thống gồm 2.017 làng nghề trên toàn quốc.
Một số hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu là: 8 * Tre, mây, cói và lá Từ nguồn dồi dào nguyên liệu thô ở các địa phƣơng nhƣ tre, mây, cói và lá và cũng gồm có các nguyên liệu thô nhƣ guột, bèo tây, chuối hoặc rơm. Việt Nam sản xuất ra những đồ dùng trong gia đình nhƣ rổ, nôi, va-li, túi mua hàng, thảm lót (đĩa, cốc), bình phong và nhiều vật dụng khác. Các sản phẩm đƣợc phục vụ cho mục đích sử dụng và trang trí, sản phẩm rất đa dạng, phục vụ những thị hiếu khác nhau của khách hàng. * Gốm sứ Nghề gốm của Việt Nam có thể đƣợc chia ra làm 04 nhóm tuỳ thuộc vào công nghệ và nhiệt độ nung mà các sản phẩm sẽ là gốm, sứ, sành hay đất nung.
Nghề gốm đã có ở Việt Nam từ hàng ngàn năm nay và các cơ sở sản xuất gốm phân bổ trên khắp cả nƣớc. Tuy nhiên, một số trung tâm sản xuất sản phẩm gốm lớn nằm ở Hà Nội (Bát Tràng), Đồng Nai và Bình Dƣơng. Gần đây, các sản phẩm nghệ thuật làm từ sành phục vụ nhu cầu trang trí nhà và vƣờn đã phát triển mạnh ở các tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Long, Hà Nam, Bắc Ninh và đã thu hút đƣợc sự chú ý đặc biệt của các nhà nhập khẩu trên khắp thế giới. * Thêu ren và các sản phẩm dệt Các sản phẩm thêu ren bằng tay hầu hết là khăn trải bàn, quần áo, váy, túi và những vật dụng sử dụng thông thƣờng.
Những sản phẩm này đƣợc tạo ra chủ yếu ở các làng nghề trong các tỉnh Hà Tây (cũ), Thái Bình, Ninh Bình và Hà Nam. Sản phẩm dệt ở Việt Nam đƣợc tạo ra từ 432 làng nghề, trong đó có nhiều sản phẩm từ các dân tộc thiểu số. Các nguyên liệu sử dụng phổ biến là lụa, cotton, len và sợi lanh. Hầu hết 90% các làng nghề dệt đan phân bổ ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là khu vực đồng bằng Sông Hồng.
Nhóm khác gồm có các dân tộc thiểu số sống ở các khu vực miền núi sử dụng các khung cửi và một số nguyên liệu đặc biệt và nhuộm màu tự nhiên. Đây là các nhóm sản phẩm có tiềm năng phát triển rất tốt nếu chúng ta phát triển các thị trƣờng ngách cũng nhƣ tập trung vào thị trƣờng thƣơng mại 9 bình đẳng. Đối với các sản phẩm dệt và các sản phẩm của ngƣời dân tộc thiểu số định hƣớng để xuất khẩu, điều vô cùng quan trọng quyết định đến thành công là sự sẵn có của nguyên liệu thô chất lƣợng cao, cải thiện chất lƣợng và phát triển thị trƣờng [4]. * Sơn mài, khảm trai Sơn mài đƣợc coi là một trong các chất liệu hội họa ở Việt Nam.Đây là sự tìm tòi và phát triển kỹ thuật của nghề sơn thủ công truyền thống của Việt Nam thành kỹ thuật sơn mài.Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn nhƣ sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng thếp, vỏ trai, v.
vẽ trên nền vóc màu đen. Đầu thập niên 1930, những họa sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trƣờng Mỹ thuật Đông Dƣơng đã tìm tòi phát hiện thêm các vật liệu màu khác nhƣ vỏ trứng, ốc, cật tre, v. và đặc biệt đƣa kỹ thuật mài vào tạo nên kỹ thuật sơn mài độc đáo để sáng tác những bức tranh sơn mài thực sự. Thuật ngữ sơn mài và tranh sơn mài cũng xuất hiện từ đó Nghề khảm trai là một nghề cần nhiều công sức, lắm công phu, có 6 công đoạn cơ bản: vẽ mẫu cho bức tranh, cƣa trai theo nét vẽ, đục gỗ và gắn trai vào gỗ, mài khảm, thể hiện đƣờng nét và cuối cùng là dùng bột đen sơn để làm rõ các chi tiết của bức tranh.
Để có đƣợc một sản phẩm khảm trai tinh xảo, sống động, ngƣời nghệ nhân phải trải qua rất nhiều công đoạn khác nhau: từ vẽ mẫu, cắt theo họa tiết mẫu, dán miếng cắt đó vào gỗ và đục theo các họa tiết, đến dán miếng trai, dùng đá mài mài phẳng và dùng dao bằng thép tách tỉa ra các họa tiết nhỏ, dùng giấy ráp đánh cho nổi họa tiết lên.