Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản trị kinh doanh quốc tế của tác giả Bùi Mai Nguyên Anh (Trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II tại TP. Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2012 dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Quốc Trung) tập trung vào hoạt động xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu.

Về bối cảnh thực tiễn, Việt Nam sở hữu tiềm năng tự nhiên thuận lợi cho việc nuôi trồng nhiều chủng loại nấm quanh năm nhờ khí hậu nhiệt đới ẩm cùng nguồn phụ phẩm nông nghiệp ước tính hơn 40 triệu tấn/năm (rơm rạ, mùn cưa, bã mía, thân lõi ngô). Nấm cũng đã được Chính phủ phê duyệt là sản phẩm quốc gia theo Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020. Dù vậy, ngành nấm Việt Nam vẫn chậm phát triển, quy mô sản xuất còn mang tính manh mún, chất lượng sản phẩm không đồng đều. Trong giai đoạn 2005 – 2011, kim ngạch xuất khẩu nấm của Việt Nam ra thế giới duy trì ở mức bình quân khiêm tốn khoảng 20 triệu USD/năm; sản lượng nấm cả nước sản xuất hàng năm đạt trên 250.000 tấn nhưng lượng nấm phục vụ xuất khẩu chỉ đạt khoảng 22,6 nghìn tấn/năm, trong đó sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) chỉ đạt hơn 4 nghìn tấn/năm. Trong khi đó, châu Âu là thị trường tiêu thụ nấm lớn thứ hai trên thế giới (chiếm 31% mức tiêu thụ toàn cầu năm 2010), có nhu cầu cao về thực phẩm sạch, an toàn và giàu dinh dưỡng. Xuất khẩu yếu kém đang kìm hãm sự phát triển của ngành nấm, do đó việc nghiên cứu thị trường châu Âu có ý nghĩa thiết thực nhằm định hình phương thức sản xuất bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu, trọng tâm là khu vực EU, cho giai đoạn 2012 – 2020. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích tiềm năng và vai trò của thị trường châu Âu đối với hoạt động xuất khẩu nấm Việt Nam, đồng thời làm rõ các yếu tố vi mô và vĩ mô tác động đến hoạt động xuất khẩu nấm sang khu vực này.
  2. Phân tích thực trạng xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu (cụ thể là thị trường EU) trong giai đoạn 2005 – 2011.
  3. Khái quát hóa các cơ sở thực tiễn và đề xuất nhóm giải pháp áp dụng cho giai đoạn 2012 – 2020.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu, tập trung đại diện vào thị trường EU (do số liệu của Cơ quan Thống kê Liên Hiệp Quốc giai đoạn 2005 – 2009 cho thấy nhập khẩu nấm từ các nước châu Âu ngoài EU chỉ chiếm khoảng 7% so với nội khối, các nước như Nga, Ukraine có kim ngạch không đáng kể).
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam và thị trường Liên minh châu Âu (EU gồm 27 quốc gia thành viên tại thời điểm nghiên cứu).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu phân tích thực trạng thu thập trong giai đoạn 2005 – 2011; giải pháp đề xuất định hướng đến giai đoạn 2012 – 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng khung phân tích ngoại thương và quản trị kinh doanh xuất khẩu, tiếp cận các nhân tố chi phối hoạt động xuất khẩu theo hai tầng vĩ mô và vi mô:

  • Tầng vĩ mô: Đánh giá lợi thế cạnh tranh quốc gia (điều kiện tự nhiên, nguồn lao động, phụ phẩm nông nghiệp), hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp và xuất khẩu của Chính phủ Việt Nam; cơ chế thuế quan nhập khẩu của EU theo các diện MFN, Hệ thống Ưu đãi Phổ cập (GSP); hệ thống rào cản kỹ thuật phi thuế quan của EU (Quy định 1863/2004/EC về tiêu chuẩn nấm trồng, Quy định REACH, các tiêu chuẩn ISO 9000, ISO 14001, HACCP và GlobalGAP).
  • Tầng vi mô: Phân tích năng lực của người nông dân (quy mô nông hộ, kỹ thuật lai tạo giống và nuôi cấy, công nghệ thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch); năng lực của doanh nghiệp xuất khẩu (chất lượng nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại, cấu trúc kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp, mức độ liên kết nội ngành); nghiên cứu đặc tính thị hiếu tiêu dùng tại EU và áp lực cạnh tranh từ các nhà cung ứng quốc tế lớn (đặc biệt là Trung Quốc và Thái Lan).
  • Nghiên cứu bài học kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát thực tiễn phát triển ngành nấm của Trung Quốc (tại các trung tâm Phúc Kiến, Quảng Đông, Bắc Kinh và mô hình điển hình tại xã Định Đào thuộc tỉnh Quảng Đông) nhằm rút ra bài học cho Việt Nam về vai trò hỗ trợ của chính quyền địa phương, mô hình liên kết giữa trang trại lớn với nông hộ và đầu tư hệ thống viện nghiên cứu chuyên ngành.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp nghiên cứu tại bàn và điều tra khảo sát thực tế:

  • Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Thu thập, tổng hợp, xử lý dữ liệu thứ cấp từ Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO), Cơ quan Thống kê Liên Hiệp Quốc (UN Comtrade), Ủy ban châu Âu (EC), Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), các niên giám thống kê và văn bản quy phạm pháp luật trong nước.
  • Phương pháp khảo sát thực tế: Sử dụng bảng câu hỏi điều tra gửi qua thư điện tử (email) tới 52 doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nấm thuộc phạm vi quản lý của Hiệp hội Rau quả Việt Nam. Kết quả thu về phản hồi đầy đủ từ 53 doanh nghiệp (trong đó có 19 doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu nấm trực tiếp sang thị trường châu Âu).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học và sự cần thiết nghiên cứu hoạt động xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường EU và xác lập tính cấp thiết của đề tài. Châu Âu có diện tích gần 10,6 triệu km2, dân số 857 triệu người (năm 2011), GDP danh nghĩa năm 2010 đạt 19,92 nghìn tỉ USD (chiếm 32,4% toàn cầu). Trong đó, khối EU gồm 27 quốc gia với GDP đạt 16,24 nghìn tỉ USD (chiếm 81,52% GDP toàn châu Âu). Năm 2010, lượng nấm tiêu thụ toàn cầu đạt khoảng 3,4 triệu tấn, trong đó EU chiếm 31%, đứng thứ hai sau Trung Quốc (38%) và xếp trên Hoa Kỳ (14%). Năm 2011, EU là thị trường nhập khẩu nấm lớn thứ 3 của Việt Nam (chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu nấm, sau Hoa Kỳ 35% và Trung Quốc 29%).

Tác giả phân tích các điều kiện sản xuất trong nước, khẳng định Việt Nam có thế mạnh với hơn 40 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp hàng năm; nếu tận dụng 10 – 15% nguồn này sẽ tạo ra hơn 1 triệu tấn nấm và hàng trăm ngàn tấn phân bón hữu cơ. Nghề trồng nấm có vốn đầu tư ban đầu thấp (khoảng 30 triệu đồng và 100m2 diện tích xưởng cho một lao động, đem lại thu nhập 2,5 – 3 triệu đồng/tháng), giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Tuy nhiên, quy trình nuôi trồng truyền thống qua 5 bước (chuẩn bị nguồn giống, chuẩn bị nguyên liệu, nuôi cấy, chăm sóc, thu hái) còn thiếu tính chuẩn hóa.

Nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc, quốc gia có sản lượng nấm chiếm gần 70% toàn cầu năm 2010 (4,2 triệu tấn), tác giả chỉ ra ba yếu tố then chốt:

  • Chính quyền địa phương đóng vai trò kiến tạo cơ sở hạ tầng, thành lập hợp tác xã và thu hút đầu tư (tiêu biểu tại xã Định Đào, tỉnh Quảng Đông quy hoạch hơn 300 ha sản xuất nấm mỡ, sản lượng hơn 4.500 tấn với 3.000 hộ tham gia, thu hút Tập đoàn Lider của Tây Ban Nha đầu tư 48 triệu NDT xây dựng dây chuyền chế biến 8.000 tấn/năm).
  • Các trang trại quy mô lớn (từ 1 ha trở lên) thực hiện chuyển giao công nghệ, cung cấp cơ chất, bao tiêu sản phẩm cho các nông hộ nhỏ lẻ.
  • Nhà nước đầu tư mạnh cho hệ thống viện nghiên cứu khoa học chuyên biệt như Viện Đất trồng và Phân bón, Viện Nghiên cứu Nấm thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Thượng Hải, Viện Nghiên cứu Nấm Tam Minh.

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu giai đoạn 2005 – 2011

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về sản lượng, kim ngạch và cơ cấu nấm xuất khẩu của Việt Nam sang EU dựa trên số liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra thực tế.

Trong giai đoạn 2005 – 2011, sản lượng nấm xuất khẩu sang EU giữ mức tương đối ổn định nhưng chiếm thị phần rất nhỏ (chỉ tương đương khoảng 2% tổng mức nhập khẩu nấm hàng năm của EU):

Năm Khối lượng xuất sang EU (nghìn tấn) Tỷ trọng trong tổng lượng xuất khẩu của VN (%) Kim ngạch xuất sang EU (triệu USD) Tỷ trọng trong tổng kim ngạch nấm của VN (%)
2005 4,1 16,7% 4,1 -
2006 4,7 - 4,5 -
2007 5,3 26,3% 5,4 -
2008 3,9 - 4,2 ~22,0%
2009 4,2 - 4,6 -
2010 5,6 22,7% 6,3 -
2011 5,1 - 5,9 ~15,0%

Sự sụt giảm trong năm 2008 xuất phát từ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, trong khi mức giảm nhẹ vào năm 2011 chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng nợ công tại khu vực đồng tiền chung châu Âu khiến người tiêu dùng EU thắt chặt chi tiêu.

Về cơ cấu chủng loại, theo thống kê giai đoạn 2005 – 2009, mặt hàng nấm xuất khẩu sang EU phân bố theo 4 nhóm mã HS:

  • Nấm tươi hoặc ướp lạnh (mã HS 0709).
  • Nấm đông lạnh (mã HS 0710).
  • Nấm bảo quản tạm thời chưa dùng ngay (mã HS 0711).
  • Nấm khô các loại bao gồm mộc nhĩ (mã HS 0712).

Nhóm nấm bảo quản tạm thời (mã HS 071159) giữ vai trò chủ lực, đóng góp trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu nấm sang EU mỗi năm. Tiêu biểu là nấm rơm muối đóng lon và đóng hộp xuất sang Italia: năm 2009, kim ngạch nấm rơm muối sang thị trường này đạt 3,5 triệu USD (tăng 75,2% so với 2008), nấm rơm đóng lon đạt 1,9 triệu USD (tăng 87,3%), nấm rơm đóng hộp đạt 1 triệu USD (tăng 769,6%). Nấm khô và nấm tươi chiếm tỷ trọng dao động từ 10 – 20%.

Chương 2 cũng chỉ ra sự thua thiệt lớn về giá bán: nấm Việt Nam xuất khẩu sang EU có đơn giá chỉ bằng 50 – 60% giá nấm của Trung Quốc hay Thái Lan. Điển hình, nấm hương Việt Nam xuất khẩu sang EU chỉ đạt mức giá 1.530 USD/tấn, trong khi sản phẩm cùng loại của Trung Quốc được nhập khẩu với giá khoảng 2.500 USD/tấn. Tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch nông sản dạng củ quả của Việt Nam ở mức hơn 22% (cao gấp đôi mức 10% của các nước trong khu vực), do việc thu hoạch, đóng gói và vận chuyển thủ công, sử dụng sọt mềm nén chặt làm dập nát sản phẩm.

Về môi trường pháp lý, tác giả tổng hợp 10 văn bản quy phạm pháp luật hỗ trợ nông nghiệp (như Quyết định 01/2012/QĐ-TTg, Quyết định 63/2010/QĐ-TTg, Nghị định 61/2010/NĐ-CP, Nghị định 41/2010/NĐ-CP). Đồng thời, tác giả phản ánh bất cập tại Thông tư 88/2011/TT-BTC khi khống chế mức hỗ trợ tổ chức hội chợ triển lãm định hướng xuất khẩu trong nước tối đa không quá 6 triệu đồng/doanh nghiệp và tổ chức đoàn giao dịch thương mại tại nước ngoài không quá 40 triệu đồng/doanh nghiệp, mức kinh phí này chưa đủ sức tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Khảo sát thực tế 19 doanh nghiệp có xuất khẩu nấm sang EU cho thấy:

  • Về nguồn nhân lực: 26,32% doanh nghiệp rất quan tâm và đầu tư đúng mức; 42,11% có quan tâm nhưng đầu tư chưa đáng kể; 31,58% có quan tâm nhưng chưa đầu tư.
  • Về xúc tiến thương mại: Chỉ 9% doanh nghiệp đầu tư đúng mức cho việc xây dựng thương hiệu, tham gia triển lãm quốc tế và quảng bá trực tuyến; gần 60% doanh nghiệp thừa nhận chưa có sự đầu tư đáng kể.

Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu giai đoạn 2012 – 2020

Trên cơ sở phân tích thực trạng và triển vọng thị trường, Chương 3 xây dựng hệ thống các giải pháp đồng bộ theo hai nhóm vĩ mô và vi mô:

  • Nhóm giải pháp vĩ mô (thuộc trách nhiệm của Nhà nước và cơ quan quản lý):
    • Quy hoạch các vùng sản xuất nấm tập trung gắn liền với tiêu chuẩn GlobalGAP, đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa nhằm tạo vùng nguyên liệu lớn.
    • Sửa đổi cơ chế tài chính hỗ trợ xúc tiến thương mại tại Thông tư 88/2011/TT-BTC nhằm nâng định mức kinh phí hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm nông sản tại châu Âu.
    • Thành lập các viện, trung tâm nghiên cứu chuyên trách về công nghệ sinh học nấm để lai tạo giống thuần chủng, kiểm định và chuyển giao kỹ thuật nuôi cấy sạch bệnh.
    • Triển khai mô hình liên kết "bốn nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) nhằm bảo đảm đầu ra và kiểm soát chất lượng từ khâu trồng trọt đến xuất khẩu.
    • Xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm nấm Việt Nam, chuẩn bị năng lực cạnh tranh trước nguy cơ mất chế độ ưu đãi thuế quan GSP sau ngày 31/12/2013.
  • Nhóm giải pháp vi mô (thuộc trách nhiệm của nông dân và doanh nghiệp):
    • Đối với nông dân: Chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã; tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật phối trộn cơ chất, khử trùng; áp dụng công nghệ thu hoạch, sơ chế và bảo quản lạnh ngay tại nông trại để hạ tỷ lệ hao hụt xuống dưới 10%.
    • Đối với doanh nghiệp: Chủ động tuyển dụng và đào tạo nhân lực chuyên môn về kiểm soát chất lượng (đạt chuẩn ISO 9000, ISO 14001, HACCP); tăng cường đầu tư công nghệ chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu; chủ động liên kết giữa các doanh nghiệp nội ngành để đáp ứng các đơn hàng lớn từ EU; xây dựng thương hiệu riêng và chủ động tham gia hệ thống kênh phân phối rau quả tươi, sản phẩm đóng hộp tại các nước châu Âu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp chuỗi dữ liệu định lượng cụ thể về hoạt động xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu giai đoạn 2005 – 2011:

  • Xác lập số liệu sản lượng nấm xuất khẩu sang EU đạt từ 3,9 nghìn tấn (năm 2008) đến đỉnh điểm 5,6 nghìn tấn (năm 2010); kim ngạch xuất khẩu đạt từ 4,1 triệu USD (năm 2005) lên mức cao nhất 6,3 triệu USD (năm 2010), chiếm tỷ trọng bình quân 18%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu nấm của cả nước.
  • Bóc tách cấu trúc mặt hàng xuất khẩu sang EU, chỉ rõ nấm rơm muối đóng lon, đóng hộp (thuộc nhóm HS 071159) là mặt hàng xuất khẩu trọng điểm, đóng góp trên 40% kim ngạch toàn ngành nấm sang EU, với thị trường tiêu thụ mạnh nhất là Italia.
  • Cung cấp số liệu khảo sát thực tế từ 53 doanh nghiệp ngành nấm, phản ánh định lượng mức độ quan tâm của doanh nghiệp đối với chất lượng nhân lực (chỉ 26,32% đầu tư đúng mức) và hoạt động xúc tiến thương mại (gần 60% đầu tư chưa đáng kể).
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Đây là công trình đầu tiên tại thời điểm 2012 nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện về chuỗi giá trị xuất khẩu nấm của Việt Nam sang riêng thị trường châu Âu; kết hợp giữa phân tích chính sách kinh tế đối ngoại với dữ liệu khảo sát thực tế doanh nghiệp; đồng thời hệ thống hóa chi tiết các rào cản kỹ thuật của EU (Quy định 1863/2004/EC, REACH, GlobalGAP) và biểu thuế ưu đãi GSP đối với từng mã HS ngành nấm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn được tác giả ghi nhận từ thực tế thu thập dữ liệu:

  • Về phạm vi dữ liệu: Số liệu thống kê chi tiết về cơ cấu mặt hàng theo mã HS từ Cơ quan Thống kê Liên Hiệp Quốc chỉ cập nhật được đến năm 2009, chưa bao quát toàn diện các chuyển dịch cơ cấu hàng hóa trong hai năm 2010 và 2011.
  • Về không gian thị trường: Dữ liệu phân tích thực trạng chủ yếu tập trung vào thị trường EU; các thị trường tiềm năng ngoài EU thuộc lục địa châu Âu (như Nga, Ukraine, Thụy Sĩ) chưa được đánh giá sâu do nguồn số liệu hải quan ghi nhận không đáng kể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu sang phân tích chuỗi cung ứng logistics lạnh cho nấm tươi xuất khẩu bằng đường hàng không; khảo sát mở rộng trên quy mô các hợp tác xã nông dân sản xuất nấm theo chuẩn GlobalGAP tại các vùng nông nghiệp trọng điểm phía Bắc và Tây Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế làm tài liệu tham khảo về phương pháp phân tích thực trạng xuất khẩu nông sản sang thị trường phát triển.
  • Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu rau quả và nấm: Tham khảo biểu thuế nhập khẩu GSP chi tiết theo từng mã HS (0709, 0710, 0711, 0712) và danh mục các yêu cầu kỹ thuật bắt buộc khi thâm nhập thị trường EU (Quy định 1863/2004/EC, GlobalGAP, nhãn mác bao bì).
  • Các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp và cơ quan xúc tiến thương mại: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về những bất cập trong hạn mức hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm quốc tế theo Thông tư 88/2011/TT-BTC, từ đó điều chỉnh các cơ chế kích cầu xuất khẩu nông sản phù hợp hơn.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong năm 2010, thị trường Liên minh châu Âu (EU) chiếm bao nhiêu phần trăm tổng lượng nấm tiêu thụ trên toàn thế giới? Theo số liệu thống kê của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) được dẫn trong khóa luận, tổng lượng tiêu thụ nấm trên thế giới năm 2010 ước đạt khoảng 3,4 triệu tấn. Trong đó, EU chiếm 31% tổng lượng tiêu thụ toàn cầu, đứng thứ hai thế giới sau Trung Quốc (chiếm 38%) và xếp trên Hoa Kỳ (chiếm 14%).

2. Kim ngạch và khối lượng nấm xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU đạt mức cao nhất vào năm nào trong giai đoạn 2005 – 2011? Cả khối lượng và kim ngạch xuất khẩu nấm của Việt Nam sang EU đều đạt mức cao nhất của toàn giai đoạn vào năm 2010. Cụ thể, khối lượng nấm xuất khẩu sang EU năm 2010 đạt 5,6 nghìn tấn (chiếm 22,7% tổng sản lượng nấm xuất khẩu của Việt Nam) và kim ngạch thu về đạt hơn 6,3 triệu USD.

3. Mặt hàng nấm nào của Việt Nam chiếm tỷ trọng kim ngạch cao nhất khi xuất khẩu sang thị trường EU giai đoạn 2005 – 2009? Nhóm hàng mang lại kim ngạch lớn nhất là các loại nấm đã được bảo quản tạm thời nhưng chưa dùng ngay (mã HS 0711), trong đó phân nhóm HS 071159 (các loại nấm khác ngoài nấm mỡ chi Agaricus) chiếm tỷ trọng cao nhất, mang về trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu nấm sang EU mỗi năm. Nổi bật nhất trong nhóm này là mặt hàng nấm rơm muối đóng lon và đóng hộp xuất khẩu mạnh sang Italia.

4. Khảo sát thực tế trong khóa luận phản ánh như thế nào về mức độ quan tâm của doanh nghiệp đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ xuất khẩu nấm sang EU? Trong số 19 doanh nghiệp có xuất khẩu nấm sang EU tham gia khảo sát, chỉ có 5 doanh nghiệp (tương ứng 26,32%) khẳng định rất quan tâm và đã đầu tư đúng mức cho phát triển chất lượng nguồn nhân lực; 42,11% doanh nghiệp nhận định có quan tâm nhưng mức đầu tư chưa đáng kể; và 31,58% doanh nghiệp thừa nhận có quan tâm nhưng chưa tiến hành đầu tư.

5. Mô hình phát triển ngành nấm tại xã Định Đào (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) cung cấp bài học kinh nghiệm gì cho Việt Nam? Xã Định Đào cho thấy hiệu quả của việc chính quyền địa phương đứng ra quy hoạch hơn 300 ha đất chuyên sản xuất giống nấm mỡ, hỗ trợ thành lập Hiệp hội nấm cấp thị xã cùng gần 70 hợp tác xã kinh tế, xây dựng kho xưởng trữ đông, đồng thời thu hút Tập đoàn Lider (Tây Ban Nha) đầu tư 48 triệu NDT (khoảng 7,6 triệu USD) vào dây chuyền sản xuất 8.000 tấn/năm. Hệ thống doanh nghiệp đầu tàu đã tổ chức các trạm thu mua trực tiếp tại làng nghề, giúp giải quyết triệt để đầu ra cho nông dân và chuẩn hóa chất lượng nấm xuất khẩu.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Bùi Mai Nguyên Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu trong giai đoạn 2005 – 2011. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý giữa tiềm năng nông nghiệp phong phú với kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn sang EU (đạt đỉnh 6,3 triệu USD năm 2010), nguyên nhân chủ yếu do sản xuất manh mún, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch cao và năng lực xúc tiến của doanh nghiệp còn hạn chế. Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2012 – 2020 nhấn mạnh vào quy hoạch vùng nguyên liệu đạt chuẩn GlobalGAP, hoàn thiện chính sách tài chính xúc tiến thương mại và tăng cường liên kết chuỗi giá trị giữa nông dân với doanh nghiệp xuất khẩu.