Chương 1: Cơ sở khoa học và sự cần thiết nghiên cứu hoạt động xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu; - Chương 2: Thực trạng xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu giai đoạn 2005 – 2011; - Chương 3: Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu giai đoạn 2012 – 2020. Trong quá trình học tập, nghiên cứu để thực hiện khóa luận với đề tài này, tác giả đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ vô cùng quý báu. Tác giả xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô trường Đại học Ngoại thương đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian học tập tại trường. Đặc biệt, tác giả xin gửi lời tri ân đến Thạc sĩ Trần Quốc Trung, người đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả xác định hướng nghiên cứu thích hợp cho đề tài cũng như trong suốt cả quá trình thực hiện khóa luận.
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu cũng như năng lực chuyên môn nên khóa luận không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của Quý Thầy, Cô và người đọc để khóa luận được hoàn chỉnh hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU NẤM CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG CHÂU ÂU 1. Tiềm năng và vai trò của thị trƣờng châu Âu đối với sản phẩm nấm của Việt Nam 1.
Tiềm năng của thị trƣờng châu Âu Châu Âu, với diện tích gần 10,6 triệu km2 gồm 57 quốc gia chiếm 12,26% dân số thế giới (857 triệu người - số liệu năm 2011), là châu lục có nền kinh tế phát triển cao với GDP danh nghĩa năm 2010 đạt mức 19,92 nghìn tỉ USD, đóng góp 32,4% vào GDP toàn cầu. Căn cứ vào sự khác biệt về mức thu nhập và đặc điểm kinh tế của các nước trong khu vực, thị trường châu Âu có thể được phân chia thành hai khối thị trường chính là Liên minh châu Âu (EU) và Khối thịnh vượng chung các quốc gia độc lập (CIS)…. Được đánh giá là thị trường chung lớn nhất thế giới, thị trường EU là một liên hiệp về Hải quan và tiền tệ, cho phép hàng hóa, dịch vụ, con người và vốn được di chuyển một cách tự do dưới sự điều hành của các định chế chung, các hệ thống quy định, chính sách, luật lệ mang tính hoà hợp chung. Thị trường EU có 27 quốc gia thành viên (tính đến thời điểm nghiên cứu), đóng góp vào GDP Thế giới 16,24 nghìn tỉ USD, chiếm 81,52% GDP toàn khu vực châu Âu trong năm 2010 (theo thống kê của Quỹ tiền tệ Quốc tế).
Đối với hoạt động xuất khẩu nấm của Việt Nam nói riêng, thị trường châu Âu, mà quan trọng là EU, được xem là thị trường tiềm năng và đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển lâu dài của ngành nấm Việt Nam. Tiềm năng đó được biểu hiện cụ thể qua các điểm sau: Thứ nhất, liên minh châu Âu đang là thị trường nhập khẩu rau hoa quả hàng đầu thế giới với nhu cầu không ngừng tăng lên. Sự sụt giảm trong sản lượng sản xuất rau quả do thời tiết xấu trong những năm gần đây của Tây Ban Nha, Đức,… cùng với xu hướng tiêu dùng rau quả nhiệt đới ngày một tăng lên đã khiến cho một số nước trong khu vực chuyển sang nhập khẩu rau củ quả từ các nước sản xuất rau quả nhiệt đới. Hơn nữa, người tiêu dùng châu Âu ngày càng ưa chuộng các sản phẩm hữu cơ có lợi cho sức khỏe, trong đó có sản phẩm nấm với giá trị dinh dưỡng cao và giá cả hợp lý.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thứ hai, EU là khu vực tiêu thụ nấm cao thứ hai trên thế giới chỉ sau Trung Quốc, theo số liệu thống kê năm 2010 của Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc. Tỉ lệ tiêu thụ nấm giữa các nƣớc năm 2010 Các nước Canada, 3% khác, 14% Trung Quốc, 38% Hoa Kỳ, 14% EU, 31% (Nguồn: Tổ chức Lương Nông Liên hợp quốc – FAO) Trong năm 2010, tiêu thụ nấm trên thế giới ước tính khoảng 3,4 triệu tấn, trong đó Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ là ba thị trường dẫn đầu với tỉ lệ tương ứng là 38%, 31% và 14%. Các quốc gia còn lại trong những nước tiêu thụ nấm nhiều nhất là Canada, Nhật Bản, Liên Bang Nga,… cũng chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ, khoảng 2 – 3%. Vai trò của thị trƣờng châu Âu trong cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu nấm Việt Nam EU là thị trường quan trọng của sản phẩm nấm Việt Nam, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu thị trường xuất khẩu.
Trong số 25 quốc gia nhập khẩu mặt hàng nấm của Việt Nam vào tháng 01/2010, Italia là thị trường đạt mức cao nhất về khối lượng và kim ngạch, chạm mức 436,6 tấn, kim ngạch 889,9 nghìn đô la, tăng 489% về lượng và 510,6% về kim ngạch so với cùng kỳ 2009 (Rau, Hoa, Quả Việt Nam, 2010). Ngoài ra, chỉ tính riêng trong 9 tháng đầu năm 2011, mức kim ngạch xuất khẩu rau củ quả của Việt Nam vào thị trường EU là 57 triệu USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ 2010. Trong đó, riêng mặt hàng nấm đạt mức kim ngạch 4,3 triệu đô la, chiếm 7,54% tổng kim ngạch xuất khẩu rau củ quả (Rau, Hoa, Quả Việt Nam, 2010). Bên cạnh đó, trong cả năm 2011, EU là thị trường nhập khẩu nấm lớn thứ 3 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ và Trung Quốc, chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch nấm xuất khẩu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu nấm của Việt Nam năm 2011 (phân theo kim ngạch xuất khẩu) Các nước khác Nhật 9% Bản Hoa Kỳ 12% 35% EU 15% Trung Quốc 29% (Nguồn : Tổng hợp từ Cơ quan thống kê Liên hợp quốc và các báo cáo thường niên của Hiệp hội Rau quả Việt Nam, và trang tin Rau Hoa Quả Việt Nam) Trong thời gian tới, tình hình xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trường châu Âu, đặc biệt là EU, được dự báo vẫn duy trì tốc độ tăng do ảnh hưởng phần lớn từ xu hướng tiêu thụ ngày càng nhiều các loại rau quả hữu cơ có lợi cho sức khỏe của người dân châu Âu. Một lý do khác là do các sản phẩm nấm của Việt Nam có lợi thế giá rẻ hơn so với các nước khác, trong khi người tiêu dùng châu Âu rất quan tâm đến vấn đề giá cả khi tiêu dùng kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, và gần đây là khủng hoảng nợ công năm 2011 (Thông tin thương mại giao nhận vận tải, 2010). Điều này chứng tỏ, trong tương lai, thị trường châu Âu vẫn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu thị trường xuất khẩu nấm của Việt Nam.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động xuất khẩu nấm của Việt Nam sang thị trƣờng châu Âu 1. Các yếu tố vĩ mô 1. Về phía Việt Nam a. Lợi thế trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu nấm Trong ngoại thương, sở hữu lợi thế nhất định trong sản xuất một mặt hàng nào đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với một quốc gia trong việc củng cố và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mặt hàng đó sang các quốc gia khác.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, thì việc khai thác hiệu quả những lợi thế có được trong các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ngành hàng nhằm phục vụ cho sản xuất xuất khẩu đóng vai trò quyết định để đảm bảo giao thương với các nước trên thế giới. Trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu nấm của Việt Nam, những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển có thể kể đến là: - Lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu; - Lợi thế về nguồn lao động nông nghiệp dồi dào; - Lợi thế về chính sách hỗ trợ của Chính phủ; - Giá trị kinh tế do hoạt động sản xuất nấm mang lại cao; - Sự mở rộng của thị trường nấm trong nước và trên thế giới;… b. Chính sách của Chính phủ Môi trường pháp lý có tác động trực tiếp đến sự phát triển của tất cả các ngành trong nền kinh tế của một quốc gia. Môi trường pháp lý có thuận lợi thì nền kinh tế mới có thể có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển.
Các chính sách của Chính phủ, một nhân tố nằm trong môi trường đó, có tác động thúc đẩy sự phát triển của các ngành thông qua các biện pháp hỗ trợ tích cực, nhưng đồng thời cũng gây khó khăn cho hoạt động của ngành bằng các qui định ràng buộc khắt khe. Đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh nấm xuất khẩu nói riêng, cũng như các mặt hàng nông sản nói chung, Chính phủ đã ban hành các chính sách hỗ trợ tích cực cho người nông dân và doanh nghiệp. Các chính sách được ban hành hướng đến các vấn đề về hỗ trợ nguồn vốn, thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ,… 1. Phía thị trƣờng châu Âu a.
Thuế quan nhập khẩu đối với mặt hàng nấm Thuế nhập khẩu là loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Tại thị trường EU, thuế suất thuế nhập khẩu phụ thuộc vào loại hàng và xuất xứ của hàng nhập khẩu. Biểu thuế quan của EU có các mức thuế khác nhau được tính cho 3 nhóm nước: - Nhóm thứ 1: áp dụng đối với nhập khẩu từ các nước có thực hiện quy chế tối huệ quốc (MNF); - Nhóm thứ 2: thuế quan ưu đãi, áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển được hưởng đơn thuần ưu đãi từ Hệ thống ưu đãi thuế phổ cập LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 (GSP) của EU; - Nhóm thứ 3: là thuế quan đặc biệt, thực hiện đối với hàng nhập khẩu từ một số nước đang phát triển được hưởng ưu đãi GSP kèm với những ưu đãi theo hiệp định song phương. Việt Nam nằm trong nhóm nước được hưởng thuế quan ưu đãi từ EU, và nhóm hàng nông sản, trong đó có mặt hàng nấm, cũng thuộc nhóm hàng được hưởng ưu đãi GSP.
Nhờ đó, hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam có thể được miễn thuế nhập khẩu hoặc được giảm thuế. Các rào cản phi thuế quan đối với mặt hàng nấm Thị trường EU có những những quy định rất nghiêm ngặt được đưa ra nhằm đảm bảo sức khoẻ thực vật và con người trong khối EU.