Chương 1. Những vấn đề lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng Chương 2. Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội Chương 3. Phƣơng hƣớng và giải pháp bảo đảm công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Luan van 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 1. Khái quát chung về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng 1. Vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính a) Vi phạm hành chính Vi phạm pháp luật là một hiện tƣợng xã hội, bao gồm những hành vi của một số cá nhân hoặc tổ chức đi ngƣợc lại với ý chí nhà nƣớc đƣợc quy định trong pháp luật. Những hành vi này vi phạm hệ thống các quy tắc xử sự chung mà nhà nƣớc đặt ra, buộc mọi công dân trong quốc gia đó phải thực hiện, do vậy, chúng luôn bị nhà nƣớc tìm cách lên án và loại bỏ.
Vi phạm pháp luật là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật chia ra các loại nhƣ: vi phạm hình sự, vi phạm dân sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật. Ở một số nƣớc trên thế giới, vi phạm hành chính thƣờng đƣợc hiểu chung là các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các chế tài hành chính. Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung hoa năm 1996 (Điều 3) định nghĩa vi phạm hành chính là “Hành vi vi phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định”.
Trong khi đó Luan van 8 theo quy định của Bộ luật xử phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa liên bang Nga thì vi phạm hành chính đƣợc định nghĩa là “Hành động (không hành động) của thế nhân hoặc pháp nhân, trái pháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc các luật của Cộng hòa liên bang Nga quy định phải chịu trách nhiệm hành chính’’. Ở Việt Nam, hành vi vi phạm hành chính từ trƣớc tới nay đã đƣợc quy định ở nhiều văn bản khác nhau trong đó có một số văn bản đáng chú ý nhƣ: - Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 do Hội đồng nhà nƣớc ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/1/1990. - Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 6/7/1995 do Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/8/1995. Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Định nghĩa này sau đó đã đƣợc áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đƣa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2008) đều thống nhất về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này. Khái quát những dấu hiệu bản chất đó, Khoản 1 Điều 2 Luật xử lý VPHC năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã trực tiếp đƣa ra định nghĩa về VPHC, theo đó: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. [29] Luan van 9 Từ định nghĩa đó có thể nhận biết vi phạm hành chính thông qua những dấu hiệu cơ bản sau đây: Một là, hành vi đó phải là một hành vi khách quan (hành động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu vật chất của vi phạm.
Hai là, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây là dấu hiệu xác định chủ thể của vi phạm. Ba là, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nƣớc; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức độ thấp, chƣa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt, xử lý vi phạm hành chính. Đây chính là dấu hiệu pháp định của vi phạm. Bốn là, hành vi đó là một hành vi có l i, tức là ngƣời vi phạm nhận thức đƣợc vi phạm của mình, hình thức l i có thể là cố ý, nếu ngƣời vi phạm nhận thức đƣợc tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trƣớc hậu quả của vi phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức đƣợc hậu quả và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức l i vô ý trong trƣờng hợp ngƣời vi phạm thấy trƣớc đƣợc hậu quả của hành vi nhƣng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn đƣợc hậu quả hoặc không thấy trƣớc hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trƣớc và có thể thấy trƣớc đƣợc hậu quả của vi phạm.
Vi phạm hành chính là một dạng vi phạm pháp luật, do đó nó cũng bao gồm các yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm pháp luật bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý của VPHC sẽ đƣợc xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau. - Mặt khách quan: là những biểu hiện ra bên ngoài của VPHC, bao gồm: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, thời gian, địa điểm, phƣơng tiện VPHC. Luan van 10 - Khách thể: là những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc đƣợc pháp luật bảo vệ bị hành vi VPHC xâm hại tới.
- Mặt chủ thể: là cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đầy đủ đã thực hiện một hành vi VPHC. Đối với tổ chức, năng lực pháp luật và năng lực hành vi xuất hiện cùng thời điểm từ khi tổ chức đó có quyết định thành lập hoặc đƣợc công nhận hợp pháp. Do đó, khi các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp… vi phạm hành chính, sẽ bị xử phạt về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Sau đó, tổ chức cần xác định rõ ngƣời có l i trực tiếp gây ra VPHC để truy cứu trách nhiệm kỷ luật hoặc bồi thƣờng, bồi hoàn vật chất.
Đối với cá nhân, năng lực pháp luật phát sinh khi cá nhân đƣợc sinh ra và mất khi cá nhân đó chết đi. Năng lực hành vi đƣợc phát sinh sau khi có năng lực pháp luật mà tự mình có thể nhận thức và điều khiển hành vi bản thân, thể hiện ngƣời đó thỏa mãn một số điều kiện do luật định nhƣ đạt đến một độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi. Độ tuổi phải chịu trách nhiệm hành chính là ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hành chính về VPHC do l i cố ý, ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi hành vi VPHC do mình gây ra. - Mặt chủ quan: là thái độ tâm lý bên trong của ngƣời thực hiện hành vi VPHC, bao gồm yếu tố l i, động cơ, mục đích VPHC.
L i là yếu tố bắt buộc của VPHC thể hiện dƣới hình thức cố ý (cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp) hoặc vô ý (vô ý vì cẩu thả, vô ý vì quá tự tin). Những trƣờng hợp loại trừ tính có l i của hành vi đã đƣợc pháp luật quy định không xử phạt VPHC: thực hiện hành vi VPHC trong tình thế cấp thiết; phòng vệ chính đáng; sự kiện bất ngờ; sự kiện bất khả kháng; ngƣời thực hiện hành vi VPHC khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm hạn chế khả Luan van 11 năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi; chƣa đủ 14 tuổi. Động cơ: là động lực bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Mục đích: là mô hình đƣợc hình thành bên trong ý thức của chủ thể VPHC mà chủ thể đó mong muốn đạt đƣợc khi thực hiện hành vi VPHC.
Động cơ và mục đích chỉ có trong các VPHC đƣợc thực hiện do l i cố ý trực tiếp. b) Xử phạt vi phạm hành chính Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 6/7/1995 thay thế cho Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 định nghĩa xử phạt hành chính tại khoản 2 Điều 1 “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định “Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”.