Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm, đặc điểm của người lao động nước ngoài 1. Khái niệm người lao động nước ngoài Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế của mỗi quốc gia tạo ra sự phân công lao động ngày càng sâu sắc trên phạm vi toàn cầu. Di cư quốc tế, hay sự dịch chuyển lao động xuyên quốc gia đã trở thành một phần vô cùng quan trọng của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế quốc tế.
Theo dữ liệu được Liên Hợp Quốc công bố vào ngày 11/9/2013, 4/10 nước có mật độ người lao động nhập cư cao nhất, gồm có: Mỹ, Nga, Đức và Arap Saudi, trong đó Mỹ vẫn là quốc gia có số người nhập cư đông nhất (với 45,8 triệu người. Từ 1990 đến nay, bình quân mỗi năm nhận thêm khoảng 1 triệu người). Một số nước có tỷ lệ người nhập cư rất cao so với tổng dân số: năm 2010, tỷ lệ nhập cư ở Qatar là 87%, Ả rập thống nhất (70%), Cô-oét (69%), Singapore (41%). Phần lớn những người di cư từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển và có xu hướng tăng nhanh (từ 82 triệu người năm 1990 lên 128 triệu người năm 2010).
Xu thế nhập cư ngược lại (từ các nước phát phát triển sang các nước đang phát triển) cũng tăng (từ 73 triệu lên 86 triệu). Bên cạnh đó, di cư quốc tế cũng tăng ở các nước có cùng trình độ phát triển (năm 2010 trong nội bộ các nước phát triển khoảng 55 triệu người, trong nội bộ các nước đang phát triển khoảng 73,6 triệu). Khoảng 50-60% người di cư trong nội châu lục, ngoại trừ Bắc Mỹ là nơi di cư trong nội vùng chỉ chiếm 36%. Các quốc gia gửi nhiều người di cư nhất là: Trung Quốc 35 triệu; Ấn Độ: 20 triệu và Philippine 7,0 triệu [42, tr.
Sự dịch chuyển lao động xuyên quốc gia nói trên, thường được đề cập với các thuật ngữ kinh tế học như “Di chuyển lao động quốc tế”, “Di cư lao 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động quốc tế”, “Xuất khẩu lao động”, “Nhập khẩu lao động”, “Lao động nhập cư”, “tiếp nhận lao động nước ngoài”… Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, di chuyển lao động quốc tế là di chuyển lao động phục vụ cho nhu cầu của thị trường lao động quốc tế. Thị trường lao động quốc tế có phạm vi vượt ra khỏi biên giới/lãnh thổ của một nước. Đó là sự khác biệt giữa nơi cung lao động và nơi sử dụng lao động do tác động của quá trình phân công lao động quốc tế và hội nhập quốc tế. Di chuyển lao động là một hình thức di chuyển dân cư vì mục đích lao động.
Đó là quá trình di chuyển dân cư hay sự chuyển cư (di dân) về mặt không gian của bộ phận dân số thuộc lực lượng lao động trong một khoảng thời gian xác định (trong các cuộc điều tra thường là 5 năm). Theo Luật pháp quốc tế, thời gian để tính lao động di chuyển là 6 tháng trở lên để phân biệt với quá trình đi du lịch của người dân (dưới 6 tháng). Quá trình di chuyển lao động quốc tế chính là quá trình người lao động di chuyển từ nước này sang nước khác để cung cấp dịch vụ lao động (người mua dịch vụ lao động là chủ doanh nghiệp/tổ chức ngoài biên giới) với mục đích có việc làm, có thu nhập cao hơn thị trường trong nước; đó là “sự cung cấp dịch vụ lao động xuyên biên giới với sự hiện diện của người cung cấp với tư cách là thể nhân” [46]. Việc di chuyển vì các các mục tiêu khác như kết hôn, học tập, tỵ nạn…, sau đó làm việc theo pháp luật các nước cũng như pháp luật quốc tế hầu hết không được coi là di chuyển lao động quốc tế.
Việc di chuyển lao động quốc tế được phân thành hai loại: Dòng lao động ra, còn gọi là dòng lao động xuất cư, dòng lao động dời cư, hay xuất khẩu lao động, được hiểu là người lao động ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động nước ngoài (có tổ chức hoặc không có tổ chức). Dòng lao động vào, còn gọi là dòng lao động nước ngoài nhập cư, là dòng di chuyển lao động từ nước này vào nước khác làm việc (theo hợp đồng hoặc không theo hợp đồng lao động) tại một cơ sở kinh tế của một nước. “Dòng lao động vào” nói trên chính là đề cập đến những người lao 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động sang nước khác làm việc mà nước tiếp nhận lao động thường gọi là “người lao động nước ngoài”. Trong pháp luật quốc tế, người ta nhắc đến khái niệm lao động di trú (migrant worker) từ rất lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại.
Người ta thường sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về NLĐ nước ngoài đó là lao động di trú hoặc lao động nhập cư. Khái niệm di trú hay di cư được hiểu nghĩa là “dời đến ở một nước khác để sinh sống” [43, tr. Khái niệm nhập cư trái nghĩa với di cư, là đến một nước khác để sinh sống, làm ăn [43, tr. Để xây dựng một cách cụ thể và thống nhất về khái niệm “người lao động nước ngoài”, trước hết chúng ta cần làm rõ nội hàm của khái niệm này.
Trước hết, khái niệm NLĐ là một khái niệm tương đối phổ biến trong khoa học pháp lý và trong đời sống thực tiễn. Qua nghiên cứu cho thấy hầu hết các định nghĩa về NLĐ đều cho rằng: “Người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động, thường là nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết”. Đồng thời NLĐ là người đến tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động. Từ góc độ kinh tế học, NLĐ là những người trực tiếp cung cấp sức lao động – một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ bản của nền kinh tế.
Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác. Riêng khái niệm về người nước ngoài hầu hết pháp luật về quốc tịch của các nước đều xác định người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước họ, những người này có thể là công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch cư trú và làm việc trên lãnh thổ của quốc gia họ. Trong pháp luật quốc tế, thuật ngữ “lao động di trú”, “lao động di cư”, “lao động nước ngoài” thường được hiểu là những người lao động di chuyển từ nước này qua nước khác, vì mục đích làm việc ở nước ngoài. Theo quan 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm của ILO, thuật ngữ “người lao động di trú vì việc làm - migrant for employment” được hiểu là “là một người di cư vào đất nước khác vì mục đích việc làm bao gồm người đang tìm kiếm việc làm và người đã được tuyển dụng một cách lâu dài” [33, Điều 11].
Khái niệm này không bao gồm những NLĐ qua lại ở các vùng biên giới, những nghệ sĩ và những người có chuyên môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn và các thủy thủ. Như vậy, khái niệm chỉ đưa ra một tiêu chí để xác định “người lao động di trú” dựa trên cơ sở mục đích di trú là vì việc làm. Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc thì thuật ngữ Lao động di trú - migrant worker được hiểu “là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” [19, Điều 2]. Định nghĩa này đã cụ thể hóa và bổ sung định nghĩa trước đó về người lao động di trú được đề cập trong Công ước số 97 năm 1949 của ILO.
Theo Điều 11 Công ước số 97 của ILO, thuật ngữ người di trú vì việc làm được hiểu là một người di cư từ một quốc gia này tới quốc gia khác để tìm kiếm việc làm, bao gồm bất kỳ người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như một người di trú vì việc làm. Khái niệm này không bao hàm: (a) Những lao động qua lại ở các vùng biên giới; (b) Những nghệ sĩ và người có chuyên môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn; và (c) Các thủy thủ. Như vậy, so với định nghĩa này, định nghĩa được nêu trong Công ước của Liên Hiệp Quốc về các quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ mang tính chất cụ thể hơn, vì đã nêu ra 8 dạng người lao động di trú và 6 dạng người không được coi là lao động di trú. Bên cạnh khái niệm trên, Công ước còn nêu ra định nghĩa “các thành viên gia đình”, mà được hiểu là những người kết hôn với những người lao động di trú hoặc có quan hệ tương tự như quan hệ hôn nhân, theo pháp luật hiện hành, cũng như con cái và những người sống phụ thuộc khác được công nhận là thành viên của gia đình theo pháp luật hiện hành và theo các hiệp định song phương và đa phương giữa các quốc gia liên quan [19, Điều 4].
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định nghĩa bổ sung này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về di cư lao động vì thực tế cho thấy nhiều trường hợp, người lao động di trú đang làm việc ở nước ngoài mang theo cả bố, mẹ, vợ, con và những người thân khác trong gia đình họ. Mặc dù đều được coi là lao động di trú, tuy nhiên dựa trên tính pháp lý của việc cư trú và lao động, Điều 2 Công ước chia người lao động di trú và các thành viên gia đình họ thành hai loại: (i) Có giấy tờ hợp pháp (hoặc hợp pháp) (documented migrant) và (ii) Không có giấy tờ (hoặc bất hợp pháp) (undocumented migrant), trong đó dạng (i) là những người được một nước cho phép vào, ở lại và làm công việc được trả lương tại quốc gia đó, còn dạng (ii) là những người không được trao các quyền tương tự. Để làm rõ hơn khái niệm “người lao động di trú”, Điều 2 Công ước nêu rõ những đối tượng được coi là lao động di trú theo định nghĩa của Công ước, bao gồm 8 dạng: 1.