Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm về tài sản của doanh nghiệp phá sản 1. Khái niệm về tài sản của doanh nghiệp phá sản Về khía cạnh kinh tế thì tài sản được hiểu là vật có giá thị trường hay giá trị trao đổi và nó là một bộ phận cấu thành sở hữu hay của cải của một cá nhân, tổ chức cụ thể, trong kinh tế người ta thường chia tài sản thành tài sản hiện vật hoặc tài sản vô hình như các công cụ, nhà xưởng, … một cách hiểu thông thường khác tài sản là một vật do con người sử dụng, cụ thể và nhận biết được chúng thông qua giác quan tiếp xúc. Về góc độ pháp lý, tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Theo từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “phá sản” được hiểu là “lâm vào tình trạng tài sản không có gì, thường là do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại. Các văn bản pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa thế nào là phá sản, phá sản doanh nghiệp mà chỉ giải thích khi nào thì doanh nghiệp, hợp tác xã được coi là “lâm vào tình trạng phá sản”. LPS năm 2014 đã đưa ra một định nghĩa pháp lý về phá sản, theo đó, thuật ngữ phá sản đã được sử dụng rộng rãi trong cả khoa học pháp lý và cả trong đời sống thực tế.
LPS năm 2014 ra đời đã giải thích đầy đủ và rõ nghĩa thuật ngữ này. Tại khoản 2 Điều 4 LPS năm 2014 quy định “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Theo đó 8 phá sản được xem xét dưới hai góc độ kinh tế và pháp luật thấy rằng: Trên cơ sở vận dụng có chọn lọc những thành tựu của các hệ thống luật tiên tiến trên thế giới kết hợp với việc nghiên cứu quá trình giải quyết phá sản, luận văn đưa ra khái niệm TSPS: Tài sản của doanh nghiệp phá sản là khối sản nghiệp của doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ những tài sản có và tài sản nợ của doanh nghiệp từ thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến thời điểm có quyết định của Tòa án về việc hoàn tất vụ việc phá sản.2 Đặc điểm về tài sản của doanh nghiệp phá sản: Tài sản doanh nghiệp gồm hai loại: tài sản có và tài sản nợ. - Tài sản có: là những tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng hoặc sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định.
Tài sản lưu động là đối tượng lao động được biểu hiện dưới dạng vật chất các thành phần tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ví dụ như: nguyên liệu, vật liệu, các sản phẩm đã hoàn thành chờ tiêu thụ…. Tài sản cố định là tư liệu sản xuất kinh doanh, có giá trị và công năng sử dụng dài, có hình dáng hữu hình hoặc vô hình và thuộc sở hữu của doanh nghiệp dùng vào quá trình sản xuất, kinh doanh, ví dụ như: trụ sở công ty, kho hàng, nhà máy, các loại máy móc, trang thiết bị vận tải, dây chuyền sản xuất, bằng sáng chế, phát minh, bản quyền tác giả… - Tài sản nợ: là những khoản nợ của doanh nghiệp, bao gồm nợ có bảo đảm, nợ có bảo đảm một phần và nợ không có bảo đảm. Nợ có bảo đảm là các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp đó hoặc bằng tài sản của người thứ ba. Nợ có bảo đảm một phần là các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp đó hoặc người thứ ba nhưng giá trị tài sản bảo đảm ít hơn giá trị khoản nợ.
Nợ không có đảm bảo là khoản nợ không được đảm bảo bằng tài sản hiện vật, hiểu theo nghĩa nó chỉ được sử dụng để thanh toán các khoản chi tiêu thường xuyên. Nếu khoản nợ được dùng để mua tài 9 sản hiện vật hay tài chính, thì như vậy nó được đảm bảo bằng tài sản đó, vì khi cần người ta có thể bán nó để trả nợ. Khái niệm, đặc điểm xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản 1. Khái niệm xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản Xuất phát từ bản chất và vai trò của phá sản là bảo vệ và mang lại lợi ích cho các chủ nợ cũng như cho con nợ và lợi ích chung của toàn xã hội, nên xử lý TSPS được hiểu theo nghĩa là việc áp dụng những cách thức, biện pháp nhất định tác động vào khối TSPS để thực hiện các mục tiêu của thủ tục phá sản.
Xử lý là xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ phạm lỗi nào đó 1. Hay có thể hiểu, xử lý TSPS là việc bán TSPS sau khi hoàn tất việc thu hồi TSPS, là một thủ tục đặc biệt vì bản chất của xử lý TSPS là việc Tòa án ra quyết định chấm dứt hoạt động của con nợ và nhân cơ hội đó mà thu hồi tài sản còn lại của con nợ, xác định giá trị tài sản bằng tiền và chia cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định. Đây còn là một thủ tục xử lý nợ mang tính chất tập thể cao, không mang tính cá nhân, riêng lẻ. Việc xử lý TSPS để thanh toán cho các chủ nợ phải được tiến hành tập thể để bảo đảm quyền lợi công bằng cho các chủ nợ, bên cạnh đó, xử lý TSPS của doanh nghiệp cũng góp phần bảo vệ quyền lợi của con nợ, giúp con nợ sử dụng tài sản hợp lý và hiệu quả hơn.
Xử lý TSPS thực chất là một thủ tục pháp lý đặc biệt – thủ tục thanh lý tài sản của danh nghiệp mắc nợ đang lâm vào tình trạng phá sản để thanh toán nợ cho các chủ nợ trên cơ sở những quy định chặt chẽ của pháp luật. Như vậy, thủ tục xử lý TSPS liên quan đến ba hoạt động: thu hồi tài sản, xử lý tài sản và thanh toán tiền cho các chủ nợ. Xử lý TSPS thực chất là một thủ tục pháp lý đặc biệt - thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ đang lâm vào tình trạng phá sản để thanh 1 Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, 2003, tr.1163 10 toán nợ cho các chủ nợ trên cơ sở những quy định chặt chẽ của pháp luật. Xử lý TSPS là vấn đề quan trọng nhất, là mục đích của pháp luật phá sản.
Xử lý TSPS khách quan, minh bạch và hiệu quả giúp cho pháp luật phá sản thực hiện được các mục đích đã đặt ra, đồng thời góp phần tăng tính hiệu quả của việc quản lý TSPS. Bởi vì, cơ chế xử lý TSPS sẽ tác động lớn tới các chủ thể quản lý TSPS, giúp các chủ thể này phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc quản lý TSPS nhằm hạn chế thấp nhất việc tẩu tán, mất mát TSPS để bảo toàn TSPS. Và việc xử lý TSPS không khách quan và không công bằng sẻ ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan đến việc giải quyết phá sản, đặc biệt là những chủ thể tham gia vào quá trình quản lý TSPS. Thủ tục này được pháp luật phá sản nói chung và LPS nói riêng quy định có những đặc điểm rất khác biệt so với thủ tục quản lý TSPS và thủ tục thanh toán nợ trong dân sự.
Đặc điểm xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản - Đối tượng của việc xử lý TSPS: Khác với hoạt động quản lý TSPS là việc quản lý cả hai khối tài sản nợ và tài sản có của doanh nghiệp, đối tượng của hoạt động xử lý TSPS chỉ là những gì còn lại của khối tài sản có sau khi trừ đi giá trị của các nghĩa vụ tài sản (tài sản nợ của doanh nghiệp), nghĩa là, việc xử lý tài sản và thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở số tài sản còn lại của doanh nghiệp. Mặc dù vậy, nhưng không có nghĩa là nợ bao nhiêu thì trả bấy nhiêu như trong các vụ kiện đòi nợ dân sự. Nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ sẽ chấm dứt sau khi dùng toàn bộ tài sản có của doanh nghiệp để trả nợ, mặc dù có thể chưa thanh toán đủ cho các chủ nợ. Đối với pháp nhân, khi hoàn thành nghĩa vụ này cũng đồng thời chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân đó thì việc xoá nợ cho doanh nghiệp bị phá sản là đương nhiên.
Nhưng với chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh do phải chịu trách nhiệm vô hạn nên không chỉ phải trả nợ bằng 11 tài sản đã góp vào doanh nghiệp (tài sản có) mà còn phải trả nợ bằng tài sản của cá nhân, nếu tài sản của cá nhân không còn thì sau khi doanh nghiệp bị phá sản trong thời gian nhất định (tuỳ theo quy định của pháp luật mỗi nước, chẳng hạn ở Úc, sau thời hạn 03 năm kể từ ngày có quyết định tuyên bố phá sản) nếu xuất hiện tài sản mới thì người bị tuyên bố phá sản vẫn có trách nhiệm bằng tài sản đó mà tiếp tục trả nợ. - Phương thức xử lý tài sản phá sản: Phương thức thực hiện xử lý TSPS là những nguyên tắc được áp dụng để xử lý TSPS, cách thức phân chia tài sản và thứ tự thanh toán nợ cho các chủ nợ, đây là những vấn đề quan trọng mà các chủ thể thực hiện khi quản lý và xử lý TSPS trong quá trình giải quyết một vụ phá sản cụ thể. Những vấn đề này đều được pháp luật phá sản các nước quan tâm điều chỉnh ở những mức độ khác nhau. Trước hết, về nguyên tắc việc thanh toán các khoản nợ từ TSPS chỉ được tiến hành theo thủ tục được quy định chặt chẽ, trên cơ sở quyết định của Toà án và phải được tiến hành thông qua một cơ quan đại diện có thẩm quyền - đó là chủ thể có quyền quản lý và thanh lý tài sản.
Thủ tục tư pháp này không chỉ áp dụng để giải quyết các quan hệ vay nợ, tranh chấp kinh tế đơn thuần mà nó được áp dụng để giải quyết đồng loạt mọi mối quan hệ thanh toán trong khuôn khổ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.