Pháp luật về xử lý nợ xấu của các TCTD ở Việt Nam hiện nay

Tìm hiểu quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Cập nhật thông tin mới nhất về khung pháp lý và biện pháp xử lý nợ.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

2022

91
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TCTD

1.1. Khái quát về nợ xấu của các TCTD

1.1.1. Khái niệm nợ xấu và xử lý nợ xấu

1.1.1.1. Khái niệm nợ xấu
1.1.1.2. Khái niệm xử lý nợ xấu

1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu

1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật xử lý nợ xấu của các TCTD

1.2.1. Khái niệm “pháp luật về xử lý nợ xấu”

1.2.2. Nội dung pháp luật về xử lí nợ xấu của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới pháp luật về xử lí nợ xấu

1.3. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của NHTM ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của NHTM ở một số quốc gia trên thế giới

1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TCTD VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng quy định pháp luật về xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam

2.1.1. Quy định về nợ xấu và phân loại nợ xấu

2.1.2. Quy định về chủ thể tham gia quan hệ xử lý nợ xấu tại các TCTD

2.1.3. Quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ xử lí nợ xấu

2.1.4. Quy định về phương thức xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng

2.2. Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về xử lý nợ xấu ở các TCTD ở Việt Nam hiện nay

2.2.1. Thực trạng nợ xấu hiện nay

2.2.2. Thực tiễn thực hiện quy định về nợ xấu và xử lý nợ xấu

2.2.3. Thực tiễn thực hiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán nợ xấu

2.2.4. Thực tiễn thực hiện quy định về xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng

2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu ở Việt Nam hiện nay

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TCTD Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của các TCTD ở Việt Nam hiện nay

3.1.1. Định hướng, chính sách của Đảng

3.1.2. Chính sách của Chính phủ

3.1.3. Kiến nghị từ quan điểm chỉ đạo của Đảng và chính sách của Nhà nước

3.2. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý nợ xấucủa các TCTD ở Việt Nam hiện nay

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấucủa các TCTD ở Việt Nam hiện nay

3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu của các TCTD ở Việt Nam hiện nay

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục tiêu nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Ý nghĩa lý luận:

7. Ý nghĩa thực tiễn:

8. Kết cấu đề tài

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Xử Lý Nợ Xấu TCTD Việt Nam 55 ký tự

Sự phát triển của hoạt động kinh doanh tiền tệ dẫn đến sự xuất hiện của các tổ chức tín dụng (TCTD). Hoạt động tín dụng là then chốt, mang tính nghề nghiệp đặc trưng, đem lại thu nhập lớn nhất. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng cũng không nhỏ, đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu TCTD gia tăng. Các TCTD đã coi nhẹ việc thu hồi và xử lý nợ xấu. Tình hình dịch bệnh càng khiến việc thu hồi các khoản nợ khó giải quyết. Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực xử lý nợ xấu vẫn luôn được chú trọng hoàn thiện. “Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình xử lý nợ cũng đã xuất hiện nhiều lỗ hổng pháp lý. Các TCTD “đau đầu” trong xử lý các tài sản đảm bảo thế chấp hay những khó khăn trong giải quyết các vụ kiện thu hồi nợ tại tòa án luôn là những chủ đề nóng. Khi không thu hồi được cả gốc lẫn lãi, các TCTD phải đối mặt với nguy cơ suy giảm khả năng thanh khoản, thậm chí phá sản. Nghị quyết 42 năm 2017 thí điểm về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng ra đời là một trong những văn bản pháp lý có tính chất đột phá, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng cho TCTD xử lý nợ xấu. Sau gần 5 năm thực hiện, Nghị quyết đã giúp giải quyết số lượng lớn những khoản nợ, gia tăng nguồn vốn lớn và giúp cho các tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả hơn rất nhiều. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng đã bộc lộ những điểm yếu cần thiết phải khắc phục và từ đó đặt ra yêu cầu cần có một giải pháp cụ thể để xử lý nợ xấu trong thời gian sắp tới khi Nghị quyết hết thời hạn thi hành. Việc tập trung giải quyết vấn đề nợ xấu là rất cần thiết để đảm bảo sự an toàn, ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.

1.1. Khái quát về tình hình nợ xấu TCTD hiện nay

Tình hình nợ xấu tại các TCTD Việt Nam hiện nay đang tiềm ẩn nhiều rủi ro do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng được kiểm soát dưới 2%, nhưng nếu tính cả các khoản nợ được cơ cấu lại và nợ bán cho VAMC, tỷ lệ này lên đến 6,31%. Tốc độ xử lý nợ xấu cũng chậm lại do khách hàng gặp khó khăn về tài chính và việc xử lý tài sản đảm bảo gặp nhiều vướng mắc. Các ngân hàng ghi nhận sự gia tăng nợ xấu trong năm 2021. Nhờ các giải pháp hỗ trợ từ Chính phủ và NHNN, một lượng lớn nợ đã được cơ cấu lại và lãi suất đã được miễn giảm. Tuy nhiên, Nghị quyết 42 đã góp phần quan trọng trong việc xử lý nợ xấu, với hơn 1,3 triệu tỷ đồng nợ xấu được xử lý.

1.2. Pháp luật Việt Nam về xử lý nợ xấu Tổng quan

Pháp luật về xử lý nợ xấu của các TCTD bao gồm các quy định do các cơ quan có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các khoản nợ xấu khó đòi từ giai đoạn chưa phát sinh đến khi giải quyết các khoản nợ. Đặc điểm của pháp luật này là nội dung quy định về các chế định xử lý nợ xấu, quyền thu giữ và xử lý tài sản đảm bảo, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, và quy định về khởi kiện, thi hành án. Hình thức pháp luật thường nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ Luật Dân sự, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, và các nghị định, thông tư hướng dẫn. Nghị quyết 42/2017/QH14 là một văn bản quan trọng, có tính chất đột phá trong việc xử lý nợ xấu.

II. Thực Trạng Pháp Luật Xử Lý Nợ Xấu tại TCTD 56 ký tự

Để kiểm soát và ngăn chặn tình trạng nợ xấu, việc ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại mỗi quốc gia là một điều vô cùng cần thiết. Để tạo hành lang pháp lý trong quá trình xử lý nợ xấu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 843/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng” và “Đề án Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam”. NHNN đã ban hành Quyết định 1459/QĐ-NHNN về việc thành lập Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam, Thông tư 19/2013/TT-NHNN quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của công ty này, và Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro. Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”. Hệ thống các quy định pháp luật đã dần hoàn thiện giúp cả hệ thống TCTD xử lý nợ xấu đạt được kết quả khả quan. Nợ được phân loại thành 5 nhóm, từ nợ đủ tiêu chuẩn đến nợ có khả năng mất vốn, để đánh giá chính xác mức độ rủi ro.

2.1. Chi tiết quy định về phân loại nợ xấu TCTD

Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư 02/2013/TT-NHNN, nợ xấu được chia ra làm 5 nhóm: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), và Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Việc phân loại nợ vào các nhóm này dựa trên các tiêu chí định lượng và định tính, bao gồm thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. Quy định này giúp các TCTD xác định mức độ rủi ro của từng khoản nợ và có biện pháp quản lý phù hợp. Mức trích lập dự phòng rủi ro cũng khác nhau tùy theo từng nhóm nợ.

2.2. Các chủ thể tham gia xử lý nợ xấu TCTD Ai

Thông tư 09/2015/TT-NHNN quy định về chủ thể tham gia quan hệ xử lý nợ xấu. Bên bán nợ là TCTD sở hữu nợ xấu phát sinh từ hoạt động cho vay. Bên mua nợ bao gồm TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC, DATC, AMC, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, và các tổ chức, cá nhân khác. NHNN có vai trò xây dựng khuôn khổ pháp lý, kiểm tra, giám sát, và đưa ra các chính sách hỗ trợ. Các TCTD và doanh nghiệp cần chủ động phối hợp trong việc xử lý nợ xấu. DATC hỗ trợ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. AMC trực thuộc ngân hàng thương mại giúp xử lý nợ tồn đọng. VAMC là công cụ đặc biệt của Nhà nước trong việc mua nợ xấu của các TCTD.

2.3. Phân tích Quyền nghĩa vụ trong xử lý nợ xấu

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ xử lý nợ xấu được quy định rõ ràng trong Thông tư 09/2015/TT-NHNN và Nghị quyết 42/2017/QH14. Bên bán nợ có quyền yêu cầu bên mua nợ thanh toán và nghĩa vụ thông báo cho bên nợ và chuyển giao hồ sơ khoản nợ. Bên mua nợ có quyền yêu cầu bên bán nợ cung cấp thông tin và kế thừa các quyền của bên bán nợ, đồng thời có nghĩa vụ thanh toán và kế thừa các nghĩa vụ của bên bán nợ. Bên môi giới có quyền nhận phí môi giới và nghĩa vụ phản ánh trung thực thông tin. Nghị quyết 42 quy định quyền thu giữ tài sản đảm bảo cho các TCTD và nghĩa vụ giao tài sản đảm bảo cho bên bảo đảm. Điều này giúp các bên thực hiện các giao dịch hiệu quả, song vẫn còn nhiều bất cập khi triển khai trên thực tế.

III. Phương Pháp Xử Lý Nợ Xấu TCTD theo Pháp Luật 60 ký tự

Khi xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu phải tuân thủ 4 nguyên tắc: công khai, minh bạch, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, phù hợp với cơ chế thị trường, không sử dụng ngân sách nhà nước, và cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu trách nhiệm. Việc mua bán nợ xấu giúp chủ nợ thu hồi một phần vốn. Các tổ chức tín dụng có thể bán nợ xấu, bán tài sản bảo đảm theo quy định. Tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được mua khoản nợ xấu đang hạch toán trong, ngoài bảng cân đối kế toán, được chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt thành khoản nợ xấu mua theo giá thị trường. Nghị quyết 42 cũng quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Xử lý nợ xấu bằng việc trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro giúp thay đổi hạch toán đối với khoản nợ. Giảm, miễn lãi giúp giảm bớt khó khăn cho khách hàng. Biện pháp pháp lý là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp khác không hiệu quả.

3.1. Mua bán nợ xấu và tài sản bảo đảm

Theo Nghị quyết 42, các tổ chức tín dụng có thể bán khoản nợ xấu hay tài sản bảo đảm từ khoản nợ xấu theo quy định. Khoản nợ xấu có thể là tài sản có hoặc tài sản không có trên bảng cân đối kế toán của TCTD, chỉ trừ các tổ chức tín dụng liên doanh và 100% vốn nước ngoài. Tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được phép mua các khoản nợ xấu với giá mua tương đương với giá trị định giá của một tổ chức định giá độc lập. Sau đó, tổ chức tín dụng sẽ được phân chia giá trị còn lại sau khi trừ đi giá mua và chi phí xử lý.

3.2. Thu giữ và xử lý tài sản đảm bảo nợ xấu

Theo Điều 8 của Nghị quyết 42, bên bảo đảm, bên giữ tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu có nghĩa vụ bàn giao tài sản bảo đảm, cùng các giấy tờ, hồ sơ liên quan đến tổ chức tín dụng, tổ chức mua bán và xử lý nợ xấu để xử lý theo như thỏa thuận trong hợp đồng, hoặc văn bản khác. Nếu bên giữ tài sản không chịu giao, tổ chức tín dụng có quyền thu giữ tài sản đảm bảo khi đáp ứng các điều kiện: Khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản, hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận, giao dịch đảm bảo đã đăng ký, tài sản bảo đảm không có tranh chấp, tổ chức tín dụng đã công khai thông tin. Để thu giữ thành công TSBĐ, cần sự hỗ trợ của cơ quan công an các cấp.

IV. Thực Tiễn Thi Hành Pháp Luật về Nợ Xấu TCTD 53 ký tự

Sau khi các văn bản pháp luật có liên quan đến nợ xấu được ban hành, việc thực hiện và áp dụng luật vào công tác xử lý nợ xấu được thực hiện và giám sát sát sao. NHNN đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố để rà soát những bất cập, khó khăn, những xung đột pháp lý còn tồn tại giữa hệ thống pháp luật ngành Ngân hàng và các văn bản pháp luật khác nhằm tạo lập nên một khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ để tiến tới việc triển khai thành công các Nghị quyết, Thông tư, đặc biệt là Nghị quyết số 42/2017/QH14.

4.1. Kết quả thực hiện quy định về nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn từ 2016 đến 2020 được duy trì ở dưới mức 3%. Các hình thức xử lý nợ xấu được các tổ chức tín dụng vận dụng đa dạng, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, lũy kế tính từ ngày 15/8/2017 - 31/5/2020, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được hơn 293.880 tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết số 42. Từ ngày 15/8/2017 đến 31/5/2020 tổng số nợ xấu được xử lý đạt trung bình khoảng 7.150 tỷ đồng/tháng, cao hơn 3.630 tỷ đồng/tháng so với giai đoạn trước đó.

4.2. Khó khăn trong thực hiện xử lý tài sản đảm bảo

Quyền thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ) đi kèm với điều kiện hồ sơ thế chấp phải có thỏa thuận về điều khoản thu giữ TSBĐ, trong khi đó tính đến thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực, nhiều hợp đồng thế chấp chưa có điều khoản này. Việc thực hiện quyền thu giữ TSBĐ của các TCTD vẫn cần đến sự hỗ trợ của cơ quan Công an các cấp. Bộ Công an chưa có văn bản hướng dẫn về cơ chế, cách thức thực hiện cưỡng chế. Việc xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản theo Điều 10 Nghị quyết 42 gặp vướng mắc do phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về đầu tư.

V. Bàn Luận Vướng Mắc trong Pháp Luật Xử Lý Nợ Xấu 58 ký tự

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, quá trình thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu vẫn còn nhiều vướng mắc. ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 khiến cho việc phát huy quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ xử lý nợ xấu trở nên khó khăn hơn. Có nhiều bất cập liên quan đến hoạt động của VAMC, DATC và sàn giao dịch mua bán nợ.

5.1. Ảnh hưởng của Covid 19 đến hoạt động xử lý nợ

Năm 2021, hoạt động mua bán, xử lý nợ theo giá trị thị trường của VAMC chịu tác động nghiêm trọng của đại dịch COVID-19. Các nhà đầu tư, khách hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch tài chính, dẫn đến việc phối hợp cùng chi nhánh giải quyết, mua các khoản nợ theo kế hoạch bị ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ đề ra. Các ngân hàng cho vay đối với những nhà đầu tư mua nợ cũng hạn chế cấp tín dụng trong giai đoạn này.

5.2. Hoạt động của DATC và VAMC còn hạn chế

DATC có thẩm quyền xử lý các khoản nợ xấu liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước, nhưng số vụ việc mà cơ quan này cần phải xử lý là không nhiều, trong khi hoạt động xử lý nợ xấu ở các thành phần kinh tế khác có xu hướng ngày càng gia tăng. VAMC có thành lập sàn giao dịch mua bán nợ theo thẩm quyền, nhưng hoạt động của sàn giao dịch chưa mang đến hiệu quả cao do vẫn còn sơ khai, thiếu sự tham gia của các doanh nghiệp, các tổ chức nước ngoài.

VI. Giải Pháp Nào Hoàn Thiện Pháp Luật Nợ Xấu TCTD 56 ký tự

Để nâng cao hiệu quả của pháp luật về xử lý nợ xấu, cần có các giải pháp đồng bộ, bao gồm hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường năng lực cho các tổ chức xử lý nợ, và cải thiện môi trường kinh doanh. Giải pháp cần tập trung vào việc giải quyết các vướng mắc trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm, tạo điều kiện cho VAMC và DATC hoạt động hiệu quả hơn, và phát triển thị trường mua bán nợ thứ cấp.

6.1. Hoàn thiện khung pháp lý về xử lý nợ xấu TCTD

Để hoàn thiện khung pháp lý về xử lý nợ xấu, cần rà soát và sửa đổi các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, hoặc chưa phù hợp với thực tiễn. Cần có hướng dẫn cụ thể về việc thu giữ tài sản bảo đảm, đặc biệt là trong trường hợp bên bảo đảm chống đối. Cần tạo điều kiện cho VAMC và DATC mở rộng phạm vi hoạt động và nâng cao năng lực tài chính.

6.2. Phát triển thị trường mua bán nợ xấu TCTD

Để phát triển thị trường mua bán nợ thứ cấp, cần có các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư tham gia. Cần có các quy định minh bạch về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, và cần có các công cụ để định giá các khoản nợ xấu. Cần tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng và các tổ chức mua bán nợ chia sẻ thông tin về các khoản nợ xấu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TCTD 1. KHÁI QUÁT VỀ NỢ XẤU CỦA CÁC TCTD 1. Khái niệm nợ xấu và xử lý nợ xấu 1. Khái niệm nợ xấu Trong Tiếng Anh, nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing loan” (NPL), “doubtful debt”.

Thông thường nợ xấu được hiểu: “là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi khách hàng vay đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản”. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn đang tồn tại khá nhiều và chưa có một sự thống nhất nào trong cách hiểu khái niệm nợ xấu. Cụ thể có thể nhắc tới một số khái niệm nợ xấu tiêu biểu như sau: - Theo Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF): “A loan is considered unprofitable (bad debt) when principal and/or interest payments are overdue for 90 days or more; or interest payments up to 90 days or more that have been restructured or extended, or payments under 90 days but there are reasons to doubt that repayment will be made in full. Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ.

- Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): những hướng dẫn về thông lệ chung ở nhiều quốc gia trên thế giới về vấn đề quản lý rủi ro tín dụng đã xác định rằng: “Việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày” (Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu 6 trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam : luận văn thạc sĩ luật học / Nguyễn Vân Anh ; TS. Nguyễn Minh Hằng hướng dẫn). Dựa trên hướng dẫn đó, nhận thấy rằng nợ xấu sẽ có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ và các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày. - Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS): thường đề cập “các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming) và chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị.

Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra. Về cơ bản IAS chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn”. (Nguyễn Vân Anh (2016), Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam) Trên cơ sở những quan điểm này, hiện nay pháp luật Việt Nam đang quan niệm về nợ xấu như sau: Theo Khoản 8 Điều 3 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài của NHNN Việt Nam. Nợ xấu ở đây được khẳng định là nợ xấu phát sinh từ hoạt động cho vay của NHTM.

Theo đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trong đó Nợ nhóm 3 (thời gian quá hạn từ 90 – 180 ngày); nợ nhóm 4 (thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày); nợ nhóm 5 (thời gian quá hạn trên 360 ngày). Việc phân loại nợ vào các nhóm 3,4,5 dựa trên 2 phương pháp định tính và định lượng. Và về cơ bản cũng dựa trên 2 dấu hiệu được nhắc đến, đó là: các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và khách hàng khó có khả năng trả nợ.

Tóm lại, nhận thấy điểm thống nhất giữa các quan điểm về nợ xấu là ở chỗ, hầu hết các ý kiến đều thừa nhận rằng nợ xấu là những khoản nợ khó có khả năng thu hồi, do bên nợ có nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản hoặc thậm chí phá sản. *Đặc điểm của nợ xấu Thứ nhất, trong hoạt động của các TCTD, nợ xấu là những khoản nợ dưới chuẩn. Theo quan điểm chung của nhiều quốc gia trên thế giới, nợ dưới chuẩn được hiểu là nợ đã quá hạn trên 90 ngày và khách hàng vay không có những dấu hiệu để 7 nghi ngờ về khả năng trả nợ thì vẫn chưa được xếp vào nhóm “nợ xấu” trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Thứ hai, nợ xấu trong hoạt động của các TCTD là những bằng chứng nghi ngờ về khả năng trả nợ của người vay như: người vay bỏ trốn, tẩu tán tài sản, thua lỗ dẫn đến nguy cơ phá sản, người vay chấm dứt sự tồn tại trong khi tài sản còn lại không đủ thanh toán nợ.

Sự chậm trễ bất thường, không lý do trong việc cung cấp các báo cáo tài chính và trả nợ theo thỏa thuận hay chậm trễ trọng việc liên lạc với cán bộ tín dụng cũng được xem là có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ của người vay. Việc nợ xấu tồn tại sẽ có những ảnh hưởng, tác động tới sự hoạt động, sự vận hành bình thường của hệ thống TCTD. Nhu cầu tất yêú chỉ ra rằng trong hoạt động kinh doanh của các TCTD thì không bao giờ có thể đạt được trạng thái lý tưởng là không có nợ xấu bởi hoạt động kinh tế luôn có sự cạnh tranh, thị trường thì luôn có cả những doanh nghiệp kinh doanh thành công, phát triển và cả những doanh nghiệp kinh doanh thất bại do vậy sự xuất hiện của nợ xấu là tất yếu. Một khi kinh doanh thất bại thì sẽ có rất nhiều lý do cho việc không trả được nợ.

Vấn đề không trả được nợ đó của các doanh nghiệp đều làm cho vốn của các TCTD bị ứ đọng nặng nề hơn là bị mất vốn hoàn toàn. Từ đó, làm cho tính thanh khoản tại các TCTD cũng bị ảnh hưởng kéo theo đó là sự ảnh hưởng của các chỉ tiêu an toàn mà hệ thống các TCTD cần phải đáp ứng. Vì thế, không thể xây dựng được một môi trường hoạt động mà không có sự tồn tại của nợ xấu. Vậy, thế nào là khái niệm xử lý nợ xấu và hoạt động xử lý nợ xấu có các dấu hiệu nhận dạng như thế nào? 1.

Khái niệm xử lý nợ xấu Dù đã được đề cập, thảo luận lẫn giải quyết trong cả khoa học kinh tế và khoa học pháp lý nhưng dường như vẫn chưa thể thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của con người và thực sự cũng chưa đủ cơ sở lý luận để có một khái niệm “xử lý nợ xấu” cụ thể, hoàn chỉnh. Tuy nhiên, thông qua các quy định pháp luật, qua các thi hành trong thực tiễn và qua sự tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động xử lý nợ xấu của các TCTD thì để có một cái nhìn tổng quan về vấn đề xử lý nợ xấu thì có thể hiểu khái niệm “xử lý nợ xấu” theo hai nghĩa sau: Theo nghĩa rộng, trong hoạt động cho vay của TCTD: “xử lý nợ xấu là quá trình mà các chủ thể liên quan sử dụng kết hợp các biện pháp vi mô và vĩ mô để có thể đạt được mục tiêu là làm giảm tỷ lệ nợ xấu tại mỗi TCTD nói riêng và cả hệ 8 thống TCTD nói chung đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội”. Với cách hiểu này, có thể nhận thấy hoạt động xử lý nợ xấu không chỉ là công việc, trách nhiệm riêng của mỗi TCTD mà còn là của toàn bộ hệ thống TCTD và Nhà nước là người có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra các giải pháp xử lý. Cũng theo nghĩa này thì việc xử lý nợ xấu có phạm vi rất rộng không chỉ là xử lý trong một TCTD nào đó mà là cả một hệ thống TCTD.

Theo nghĩa hẹp, “xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của TCTD là việc TCTD sử dụng những biện pháp nghiệp vụ tài chính lẫn công cụ pháp lý nhằm giảm tỷ lệ các khoản nợ được coi là nợ xấu của TCTD, góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi một TCTD trong nền kinh tế”. Với cách hiểu này thì chính xác hoạt động xử lý nợ xấu đơn thuần chỉ là công việc có tính kỹ thuật – nghiệp vụ của từng TCTD do vậy mỗi TCTD cần đưa ra những giải pháp, chủ động giải quyết đồng thời không phụ thuộc vào Nhà nước hay các chủ thể khác trong nền kinh tế. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 1. Nguyên nhân từ phía khách hàng Khách hàng là người trực tiếp sử dụng khoản vay, là người được câp tín dụng do vậy khách hàng là nguyên nhân chính gây nên những rủi ro tín dụng làm phát sinh nợ xấu TCTD.

Thứ nhất, rủi ro đạo đức.“Khách hàng sử dụng vốn không đúng với mục đích mà mình đã cam kết xin vay đã nêu trong phương án và trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với TCTD do vậy mà những nguồn tiền không được sử dụng với đúng mục đích xin vay đã chứa đựng nhiều rủi ro hơn, gây thất thoát tiền vốn từ đó làm giảm hay thậm chí là mất đi khả năng trả nợ đối với khoản vay đó. Thậm chí, có những trường hợp khách hàng còn cố tình cung cấp hồ sơ giả, đưa những thông tin không chính xác, lợi dụng những khe hở của pháp luật để tính toán lừa đảo chiếm dụng vốn vay mà ngay từ khi lập hồ sơ đã có ý định lừa đảo, chiếm dụng vốn của TCTD. Một số khách hàng còn cố tình không thực hiện đúng như đã cam kết trong hợp đồng.” Thứ hai, dòng tiền hoặc khả năng thanh toán gặp khó khăn, trở ngại.“Năng lực tài chính không cao là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả kinh 9 doanh. Sự yếu kém về năng lực điều hành, quản lý kinh doanh cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.

Phán đoán xu hướng phát triển thị trường không chính xác hay tham gia kinh doanh quá nhiều mặt hàng, vay vốn mở rộng quy mô sản xuất vượt khả năng quản lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ