Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP GIÁM SÁT, GIÁO DỤC VÀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm, bản chất pháp lý biện pháp giám sát, giáo dục và biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Theo cuốn Thuật ngữ tư pháp người dưới 18 tuổi của Bộ Tư pháp phối hợp cùng tổ chức UNICEF thì không chính thức có khái niệm biện pháp giám sát, giáo dục nhưng lại có thuật ngữ “biện pháp không chính thức”. Theo đó, biện pháp không chính thức (Informal Measures) [48, tr.5] là biện pháp xử lý vi phạm pháp luật không áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự hoặc thủ tục xử lý vi phạm hành chính mà dựa vào cộng đồng để giáo dục, răn đe người có hành vi vi phạm. Ở Việt Nam có những biện pháp xử lý không chính thức như hòa giải, giám sát, phê bình, kiểm điểm, nhắc nhở, giáo dục tại dòng họ, kỷ luật tại nhà trường v.
Ở nhiều nước trên thế giới, những biện pháp xử lý không chính thức đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thường được gọi là “biện pháp xử lý chuyển hướng” vì người dưới 18 tuổi được đưa ra khỏi (chuyển hướng) hệ thống tố tụng chính thức để xử lý tại cộng đồng [49]. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về điều kiện áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự như sau: Cơ quan điều tra , Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biê ̣n pháp khiển trách , hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, nế u người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i hoặc người đa ̣i diê ̣n hơ ̣p 6 pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong c ác biê ̣n pháp này [33, Điều 92]. Trong liñ h vực tư pháp hiǹ h sự , Bộ luật hình sự đã ghi nhâ ̣n mô ̣t nguyên tắ c quan tro ̣ng trong viê ̣c xử lý người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i, đó là: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ , tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm ; 4. Khi xét xử, Tòa án chỉ áp du ̣ng hiǹ h pha ̣t đố i với người dưới 18 tuổi phạm tô ̣i nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mu ̣c 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa [33].
Xét về bản chấ t , có thể thấy rằng , quy đinh ̣ của khoản 3 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng xem xét đình chỉ điề u tra , đình chỉ vu ̣ án và giao người dưới 18 tuổi pha m ̣ tô ̣i cho gia đình , cơ quan, tổ chức ta ̣i cô ̣ng đồ ng tổ chức viê ̣c giám sát, giáo dục mà không cần tiếp tục xử lý bằng hệ thống tư pháp hình sự. Khái niệm, bản chất pháp lý của biện pháp giám sát, giáo dục 1. Khiển trách Trong pháp luật của nhiều nước thì khiển trách là việc nhắc nhở của cảnh sát đối với người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật thay cho khởi tố về hình sự hoặc xử phạt hành chính đối với người đó [16, tr. Nhắc nhở của cảnh sát có thể được thực hiện đối với người dưới 18 tuổi ngay tại nơi xảy ra vi phạm hoặc chính thức hơn trước mặt cha mẹ của người dưới 18 tuổi vi phạm.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, “Khiển trách” được quy định tại 7 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau: 1. Khiể n trách đươ ̣c áp du ̣ng đố i với người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i trong những trường hợp sau đây nhằ m giúp ho ̣ nhâ ̣n thức rõ hành vi phạm tội và hâ ̣u quả gây ra đố i với cô ̣ng đồ ng , xã hội và nghĩa vụ của họ: a) Người từ đủ 16 tuổ i đế n dưới 18 tuổ i lầ n đầ u phạm tộ i it́ nghiêm tro ̣ng; b) Người dưới 18 tuổi là người đồ ng pha ̣m có vai trò không đáng kể trong vụ án. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách. Viê ̣c khiể n trách đố i với người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoă ̣c người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
Người bị khiển trách phải thực hiê ̣n các nghĩa vụ sau đây: a) Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; b) Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; c) Tham gia các chương trình học tập , dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Tuỳ từng trường hợp cụ thể cơ quan có thẩm quyền ấn đinh ̣ thời gian thực hiê ̣n các nghiã v ụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điề u này từ 03 tháng đến 01 năm [33, Điều 93]. Hòa giải tại cộng đồng Hòa giải tại cộng đồng (Mediation at Grass Root Levels) [16, tr.10], là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp để họ tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng 8 đồng dân cư. Hòa giải ở cộng đồng (cơ sở) được thực hiện thông qua Tổ hòa giải (hòa giải viên) hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, bản, ấp, tổ dân phố, cụm dân cư, phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân.
Ngoài ra, “hòa giải” có thể được định nghĩa là “nỗ lực của một bên thứ ba trung lập nhằm giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn thông qua việc tổ chức các cuộc gặp mặt trực tiếp. Trong những cuộc gặp mặt đó, bên thứ ba không có thẩm quyền áp đặt một phương án phân xử nào đối với các đương sự mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ họ thiết lập một phương án giải quyết mâu thuẫn phù hợp với tất cả các bên” [60] Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: 1. Hòa giải ta ̣i cô ̣ng đồ ng đươ ̣c áp du ̣ng đố i với người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i trong những trường hợp sau đây: a) Người từ đủ 16 tuổ i đế n dưới 18 tuổ i pha ̣m tội it́ nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng; b) Người từ đủ 14 tuổ i đế n dưới 16 tuổ i pha ̣m tô ̣i rấ t nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này. Cơ quan điều tra , Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Người đươ ̣c áp du ̣ng biê ̣n pháp hòa giải ta ̣i cô ̣ng đồ ng phải thực hiê ̣n các nghĩa vụ sau đây: a) Xin lỗi người bi ̣ha ̣i và bồi thường thiê ̣t ha ̣i; b) Nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều 93 của Bộ luật này [32, Điều 94]. 9 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 xác định rõ việc hòa giải chỉ được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp: mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải, vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính; ;mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật. Điều đáng lưu ý là một trong những nguyên tắc hòa giải quan trọng được quy định tại Điều 4 của Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 là phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở; bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân, phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư, quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi. Việc hòa giải phải có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải cơ sở thì hòa giải ở cơ sở được áp dụng để giải quyết đối với các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư, kể cả vi phạm pháp luật của người dưới 18 tuổi, bao gồm: - Mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong gia đình hoặc mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân trong quan hệ xóm giềng như sử dụng lối đi chung, sử dụng điện, nước, công trình phụ, gây mất vệ sinh chung.; - Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự như quan hệ tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất; 10 - Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn nhân, gia đình như thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; - Tranh chấp phát sinh từ những vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật hành vi đó chưa đến mức bị xử lý hình sự hoặc hành chính như: trộm cắp vặt, đánh chửi nhau gây mất trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích nhẹ, va quệt xe cộ gây thương tích nhẹ.