CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ BĂNG RỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1.1 “Khái niệm và ƣu thế của dịch vụ băng rộng viễn thông “ 1.1“ Xu hướng phát triển của băng rộng viễn thông“ “Cáp quang (tốc độ download 10 Gigabit/giây) nhanh gấp 200 so với ADSL (20 Megabit/giây) đã tạo ra xu thế sử dụng băng rộng ngày một phổ biến hơn trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Xu thế băng rộng này góp phần lớn thúc đẩy sự phát triển cho các doanh nghiệp cung cấp nội dung như IPTV (truyền hình tương tác), VoD (xem phim theo yêu cầu), Video Conference (hội nghị truyền hình), IP Camera, game online, Internet of Things. “ “Hiện những dịch vụ này đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam và trong tương lai sẽ còn hứa hẹn “tăng tốc” nhiều hơn nữa bởi sự bùng nổ của mạng Internet, các công nghệ di động, kết nối không dây 3G, 4G, 5G cùng các dịch vụ giải trí, mua sắm trực tuyến “… “Công nghệ viễn thông trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ qua nhiều thế hệ: “ “Thế hệ thông tin di động thứ nhất (1G) xuất hiện đầu tiên trên thế giới vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, là hệ thống giao tiếp thông tin qua kết nối tín hiệu tương tự (analog). “ “Thế hệ thông tin di động thứ hai (2G) xuất hiện trên thế giới vào năm 1991, là thế hệ kết nối thông tin di động mang tính cải cách và khác hoàn toàn so với thế hệ đầu tiên, sử dụng các tín hiệu kỹ thuật số (digital) thay cho tín hiệu tương tự, có phạm vi kết nối rộng hơn và đặc biệt là sự xuất hiện của tin nhắn ngắn dạng văn bản SMS.
“ “Thế hệ thông tin di động thứ ba (3G), tiên tiến hơn hẳn các thế hệ trước đó, nó cho phép người dùng di động truyền tải cả dữ liệu thoại và dữ liệu phi thoại (email, tin nhắn, hình ảnh, âm thanh, video clip.), trong số các dịch vụ của 3G, điện thoại thấy hình (video) được coi là dịch vụ tiêu biểu, nổi bật; 3G cũng đánh dấu một bước tiến lớn trong việc chuyển tiếp giữa điện thoại di động thông thường và điện thoại thông minh. “ “Nhưng công nghệ 3G không thể đáp ứng được yêu cầu của các thiết bị thông minh và dẫn đến sự ra đời của thế hệ thông tin di động thứ tư (4G) với tốc độ nhanh hơn hàng trăm lần so với 3G, hỗ trợ truyền hình di động và cuộc gọi video chất lượng cao; 4G dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của thiết bị di động thông minh và điện thoại có thể làm tất cả mọi thứ. “ “4G đang phổ biến trên toàn thế giới, nhưng giờ đây người ta bắt đầu nói về công nghệ kế nhiệm của nó, 5G. Hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của Internet vạn vật (IoT) trên toàn thế giới và công nghệ nhà thông minh và thành phố thông minh, 4G sẽ nhanh chóng bị thay thế là điều không tránh khỏi.
Với tốc độ truyền dữ liệu cực cao, khả năng kết nối cực lớn, độ trễ thấp, công suất lớn, nguồn tiêu thụ nhỏ, 5G sẽ làm được nhiều việc mà 4G không đáp ứng được. Để tải về cùng một bộ phim dài hai tiếng, mạng 3G mất 26 giờ, mạng 4G mất 06 phút, nhưng mạng 5G chỉ mất 3,6 giây. Công nghệ 5G sẽ tạo ra một cuộc cách mạng về kết nối, 2G/3G/4G kết nối 07 tỷ người thì 5G sẽ kết nối hàng tỷ thiết bị, chuyển tải toàn bộ thế giới vật lý vào thế giới ảo, giúp mọi vật giao tiếp với nhau, những hệ thống tự động hóa sẽ thực hiện đúng như ý muốn con người. 5G sẽ thay đổi cơ bản cuộc sống của loài người“.
“Ngày nay, bất cứ ai khi sử dụng Internet tại nhà, gần như chắc chắn họ đang sử dụng một dạng thức của băng thông rộng. Băng thông rộng có thể được định nghĩa theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau ví dụ như khả năng truyền dữ liệu lên tới 1. Tốc độ này cần thiết để có thể stream một file video chuẩn HD, chơi game online và cho phép gửi đi và nhận về một lượng lớn dữ liệu. Vậy bạn đang kết nối tới mạng Internet toàn cầu bằng cách nào.
Những công nghệ Internet băng thông rộng tại gia đình đang được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. “ “Công nghệ sử dụng cáp truyền hình (cable modem) “ “Tại Mỹ, sử dụng đường mạng truyền hình cáp đang là một trong số những cách phổ biến nhất để truy cập Internet hộ gia đình. Tương tự như cáp quang và DSL (được đề cập ở dưới đây), mạng cáp truyền hình đóng vai trò cung cấp truy cập “last mile” từ nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) tới người dùng cuối. “Last mile” ở đây để chỉ khâu cuối cùng trong mạng lưới viễn thông, khi thực sự vươn tới khách hàng sử dụng dịch vụ.
“ “Công nghệ này đòi hỏi có một modem đặt ở người dùng cuối và hệ thống CMTS- một thiết bị được đặt ở nhà cung cấp dịch vụ, thực hiện chức năng điều chế tín hiệu trước khi đưa đến cable modem. Hai hệ thống này được kết nối qua cáp đồng trục – tương tự như cáp TV. Khoảng cách giữa modem và và nhà cung cấp có thể lên tới 100 dặm với cơ sở hạ tầng tốt. Tốc độ sử dụng trên đường cáp này được chia sẻ giữa các người dùng và hệ thống được thiết kế để có thể phân phối tối ưu nhất tốc độ truyền.
Nếu quá nhiều người truy cập một lượng lớn dữ liệu, thì bộ phận xử lý backend sẽ điều chỉnh hạ thấp tốc độ xuống cho tất cả người dùng. “ “Để hạn chế người dùng chiếm hết băng thông, modem được lập trình để phân loại băng thông theo giá cước. Gói sử dụng với giá cước cao hơn sẽ được cấp tốc độ cao hơn. Trong một vài năm trở lại đây, một số lượng lớn các nhà cung cấp băng thông rộng đã chuyển sang sử dụng chính sách phân bổ theo lưu lượng, người dùng truy cập nhiều dữ liệu hơn đồng nghĩa với việc trả tiền nhiều hơn.
“ “Về mặt lý thuyết tốc độ với công nghệ này có thể đạt 100Mbit/s khi download và 20 Mbit/s khi upload. “ DSL “Đối thủ cạnh tranh trực tiếp với cáp Internet là DSL, viết tắt của Digital Subscriber Line (Đường Thuê bao số). “ “Nếu như trong cable modems, người dùng sử dụng đường truyền cáp tivi làm thiết bị cuối thì kỹ thuật DSL sử dụng đường truyền điện thoại nội hạt có sẵn. DSL được truyền đồng thời trên dây điện thoại mà không làm gián đoạn dịch vụ thoại hiện tại.
Phần lớn DSL cung cấp tới hộ gia đình dưới dạng ADSL, với tốc độ download có thể nhanh hơn tốc độ upload. Còn với kỹ thuật ít phổ biến hơn là SDSL, tốc độ download và upload là tương đương nhau. “ “Giống như công nghệ sử dụng mạng cáp truyền hình, DSL vận hành bằng cách kết nối ISP tới điểm cuối là người dùng. Tuy nhiên kết nối giữa đường truyền điện thoại của người dùng và tổng đài điện thoại bị giới hạn ở khoảng cách 2 dặm.
Khoảng cách xa hơn sẽ dẫn tới băng thông bị suy giảm. Vì thế mà DSL phát huy hiệu quả tốt nhất ở những khu vực gần với tổng đài điện thoại. Hiện nay tốc độ download trên đường truyền DSL hộ gia đình bị giới hạn ở 40Mbit/s và tốc độ trung bình có thể thấp hơn thế nhiều. “ “Cáp quang“ “Trong những năm trở lại đây, cable và DSL đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ đối thủ là công nghệ sử dụng đường truyền cáp quang.
Lợi ích của công nghệ này so với cáp đồng trục hay đường dây điện thoại nằm ở chỗ nó có thể cung cấp tốc độ cao hơn nhiều ở phạm vi khoảng cách xa hơn.Trên thực tế, phần lớn mạng Internet đang sử dụng cáp quang làm nền tảng hạ tầng. Sau đó, hệ thống sẽ chuyển sang sử dụng các loại công nghệ khác nhau để đưa mạng tới người dùng cuối. “ “Tốc độ truyền tải lên tới 100Mbit/s không còn xa lạ gì trong công nghệ này. Thậm chí hạ tầng mạng cáp quang của Google có thể cung cấp cho người dùng hộ gia đình kết nối 1000Mbit/s theo cả hai chiều up lên và tải xuống.
“ “LTE“ “Với những ưu việt rõ rệt so với kĩ thuật kết nối Internet qua dây, công nghệ mạng không dây đang nhanh chóng trở thành sự thay thế hữu hiệu đối với băng thông rộng quy mô hộ gia đình. LTE là viết tắt của Long-Term Evolution là công nghệ mạng không dây thế hệ mới. Ở Mỹ, các nhà mạng Verizon, AT&T and Sprint đều đã sử dụng công nghệ LTE và họ có thể cung cấp cho người dùng tốc độ băng thông rộng đúng nghĩa từ các thiết bị di động và modem không dây. “ “Không giống như công nghệ cable, sợi quang và DSL, LTE không đòi hỏi phải trang bị kết nối sử dụng dây nối để truy cập.
Thay vào đó, người dùng sử dụng điện thoại LTE hoặc máy tính bảng, USB để kết nối. Hiện nay tốc độ có thể đạt tới 50Mbit/s khi download và 30Mbit/s khi upload. Trong tương lai khi Công nghệ cải tiến của LTE gọi là LTE Advanced đi vào hoạt động, người dùng hoàn toàn có thể truy cập với tốc độ cao hơn. “ “Khía cạnh tích cực nhất của LTE đó là nó có thể giải quyết triệt để vấn đề last mile.
Trong khi cable và sợi quang có thể vận hành tốt ở phạm vi khoảng cách trung bình, những hệ thống này đang nằm trong vòng tranh luận liệu có phù hợp với những khu vực nông thôn ở các nước đang phát triển hay không, nơi mà hạ tầng viễn thông vẫn còn lạc hậu. “ “Trái lại, LTE có thể hoạt động ở phạm vi khoảng cách xa hơn nhiều và hạ tầng hỗ trợ chỉ cần mạng lưới các trạm thu phát tín hiệu. Bên cạnh đó, một lợi thế khác của LTE là người dùng có thể vẫn truy cập được khi di chuyển. Không như các công nghệ sử dụng dây để kết nối, LTE có thể được truy cập từ vô số các địa điểm.
Người dùng có thể sử dụng iPad có kết nối LTE từ truy cập từ bất kì địa điểm nào hỗ trợ LTE. Nếu LTE không tồn tại ở khu vực đó, tín hiệu mặc định sẽ chuyển thành 3G. “ Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ băng rộng viễn thông“ “* Khái niệm băng rộng : “ “Trong lĩnh vực lưu trữ website, thuật ngữ “băng rộng” thường được sử dụng để mô tả số lượng dữ liệu tối đa mà người dùng được phép trao đổi (bao gồm upload và download) qua lại giữa website (hoặc server) và người sử dụng trong một đơn vị thời gian (thường tính bằng giây).