Chương 1: Tổng quan về mạng LTE Trình bày sự hình thành và phát triển của hệ thống thông tin di động. Giới thiệu về đặc điểm và các dải tần hoạt động của mạng LTE. Chương 2: Cấu trúc mạng LTE và các kỹ thuật sử dụng trong mạng LTE Trình bày về cấu trúc mạng LTE, các vấn đề kỹ thuật ảnh hưởng đến khả năng triển khai và hoạt động của mạng LTE. Đặt ra giải pháp kỹ thuật truy nhập cho hướng lên và hướng xuống.
2 Luan van Chương 3: Kỹ thuật OFDMA trong mạng LTE Trình bày nền tảng kỹ thuật điều chế và giải điều chế thông tin số, nghiên cứu vấn đề trực giao, và kỹ thuật đa truy nhập ghép kênh phân chia theo tần số trực giao OFDMA, áp dụng OFDMA cho hướng xuống trong kỹ thuật LTE Chương 4: Mô phỏng phát và thu tín hiệu dựa trên kỹ thuật OFDM Mô phỏng mô hình đơn giả của một hệ thống phát và thu tín hiệu OFDM thông qua phần mềm mô phỏng Matlab. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu dựa trên nền tảng cơ bản của kỹ thuật thông tin số, nguyên lý kỹ thuật OFDMA và thực hiện mô phỏng thông qua trên phần mềm Matlab. 3 Luan van CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MẠNG LTE Chương này trình bày sự hình thành và phát triển của hệ thống thông tin di động. Giới thiệu về đặc điểm và các dải tần hoạt động của mạng LTE.
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. Giới thiệu về hệ thống điện thoại di động. Hệ thống điện thoại di động đầu thương mại đầu tiên được triển khai năm 1946; sử dụng băng tần 150 MHz; được đưa vào áp dụng tại Saint Louis – Hoa Kỳ. Hệ thống này có khoảng cách kênh 60 KHz, với số lượng kênh bị hạn chế, chỉ đến 3 kênh.
Đây là hệ thống bán song công, người đàm thoại ở mỗi đầu dây không nói được khi người đàm thoại đầu dây còn lại đang nói. Việc kết nối đàm thoại phụ thuộc vào nhân công (điện thoại viên). Sau đó hệ thống này được cải tiến thành hệ thống IMTS MJ bao gồm 11 kênh ở tần số 150 MHz, và hệ thống IMTS MK bao gồm 12 kênh ở tần số 450 MHz. Các hệ thống này được đưa vào sử dụng từ năm 1969.
Đây là hệ thống song công đầu tiên, mỗi BS có thể phục vụ một vùng bán kính rộng tới 80 Km. Đó là những hệ thống di động đầu tiên được đưa vào phục vụ cho mục đích thông tin liên lạc của con người. Từ những hệ thống di động ban đầu với chất lượng dịch vụ chất lượng thấp, cung cấp dịch vụ đơn thuần là thoại, tính bảo mật thông tin kém. Trải qua gần 70 năm, đến nay hệ thống thông tin di động đã có những bước tiến đáng kể và không ngừng phát triển nhằm gia tăng các phương thức cung cấp và chất lượng dịch vụ.
Ngày nay với sự phát triển hệ thống thông tin di động, chúng ta có thể gửi nhận dữ liệu dung lượng lớn với tốc độ cao. Đàm thoại video chất lượng tốt và dễ dàng truy cập các ứng dụng giải trí trên internet. Các kỹ thuật cơ bản sử dụng trong hệ thống thông tin di động a. Truyền sóng trong thông tin di động [17] Các phương thức truyền sóng cơ bản giữa máy phát và máy thu gồm có truyền song công phân chia theo tần số (FDD) và truyền song công phân chia theo thời gian (TDD).
Trong khi phương thức FDD sử dụng kênh tần số ở hai băng tần khác nhau để mang thông tin giữa MS và BS. Thì TDD sử dụng cùng môt kênh tần số để mang thông tin theo hai hướng tại các khe thơi gian luân phiên. FDD sử dụng 2 tần số khác nhau để truyền thông tin giữa BS và MS - Hướng xuống: Thông tin được truyền từ BS đến MS (Downlink ~ Forward Channel). - Hướng lên: Thông tin được truyền từ MS đến BS (Uplink ~ Reverse Channel).
TDD sử dụng chung 1 tần số để truyền thông tin giữa BS và MS Trong thông tin di động, mỗi hệ thống được cấp phát một hoặc nhiều băng tần, mỗi băng tần được chia thành nhiều kênh vô tuyến xác định. Ngoài ra tín hiệu được truyền giữa BS và MS còn chịu ảnh hưởng của suy hao, fading và nhiễu do đó hệ thống thông tin di động cần được thiết kế kỹ lưỡng tín hiệu được truyền đi và nhận được với chất lượng tốt nhất. Mạng tổ ong và vấn đề tái sử dụng tần số Để có thể tăng dung lượng thuê bao phục vụ người ta xây dựng hệ thống điện thoại di dộng theo cấu trúc mạng tố ong và nghiên cứu việc tái sử dụng tần số. Theo đó toàn bộ vùng phục vụ của hệ thống điện thoại được chia thành các vùng phục vụ nhỏ, gọi là các ô, mỗi ô có một trạm gốc phụ trách và được tổng đài điểu khiển nhằm đảm bảo thuê bao có thể duy trì liên lạc khi di chuyển liên tục giữa các ô.
Tần số mỗi máy di động sử dụng không cố định ở một kênh mà kênh đàm thoại xác định nhờ kênh báo hiệu và máy di động được đồng bộ về tần số một cách tự động. Vì vậy các ô kề nhau nên sử dụng tần số khác nhau, và các ô ở xa có thể tái sử dụng lại tần số đã được sử 5 Luan van dụng. Để cho phép các máy di động có thể duy trì cuộc gọi liên tục trong khi di chuyển giữa các ô thì tổng đài sẽ điều khiển các kênh báo hiệu hoặc kênh lưu lượng theo sự di chuyển của máy di động để chuyển đổi tần số một cách tự động. Hệ thống điện thoại tổ ong bao gồm các máy điện thoại di động, BS và MSC ( Trung tâm chuyển mạch điện thoại di động).
Trên điện thoại di động có các bộ thu phát RF, anten và bộ điều khiển. BS bao gồm các bộ thu/phát RF để kết nối máy di động với MSC, anten, bộ điều khiển, đầu cuối số liệu và nguồn. MSC xử lý các cuộc gọi đi và đến từ mỗi BS và cung cấp chức năng điều khiển trung tâm cho hoạt động của tất cả các BS một cách hiệu quả và để truy cập vào tổng đài cảu mạng điện thoại công cộng. MSC bao gồm bộ phận điều khiển, bộ phận kết nối cuộc gọi, các thiết bị ngoại vi và cung cấp chức năng thu thập số liệu cước đối với các cuộc gọi đã hoàn thành.
Các máy di động, BS và MSC được liên kết với nhau thông qua các đường kết nối thoại và số liệu. Mỗi máy di động sử dụng một cặp kênh thu/phát RF. Vì các kênh lưu lượng không cố định ở một kênh RF nào mà thay đổi thành các tần số RF khác nhau phụ thuộc vào sự di chuyển của máy di động trong suốt quá trình cuộc gọi nên cuộc gọi có thể được thiết lập thông qua bất cứ một kênh nào đã được xác định trong vùng đó. Điều đó có nghĩa sẽ có trường hợp tất các các kênh đều bận do đã được kết nối với các máy di động.
Các thông tin thoại và báo hiệu giữa máy và BS được truyền qua kênh RF, các đường kết nối thoại và số liệu cố định được sử dụng để truyền thông tin thoại và dùng cho báo hiệu giữa BS và MSC. Để thuận tiện cho mô phỏng và tính toán, người ta sử dụng các ô lục giác để đại diện cho các cell, trên thực tế Trên thực tế, hình dạng cell là không xác định, việc quy hoạch vùng phủ sóng (coverage area) cần quan tâm đến các yếu tố địa hình và mật độ thuê bao, từ đó sẽ xác định số lượng trạm gốc BTS, kích thước cell và phương thức phủ sóng thích hợp. Số lượng Cell trong một vùng địa lý phụ thuộc vào mật độ thuê bao và các yếu tố địa hình (Các toàn nhà, cây cối, đồi núi, ao hồ…) 6 Luan van c. Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA Ở kỹ thuật TDMA phổ tần số quy định cho liên lạc di động được chia thành các dải tần liên lạc, mỗi dải tần liên lạc này được dùng chung cho N kênh liên lạc, mỗi kênh liên lạc là một khe thời gian (Time slot) trong chu kỳ một khung.
Tin tức được tổ chức dưới dạng gói, mỗi gói có bit chỉ thị đầu gói, chỉ thị cuối gói, các bit đồng bộ và các bit dữ liệu. Không như hệ thống FDMA, hệ thống TDMA truyền dẫn dữ liệu không liên tục và chỉ sử dụng cho dữ liệu số và điều chế số. TDMA có thể phân phát thông tin theo hai phương pháp là phân định trước và phân phát theo yêu cầu. Trong phương pháp phân định trước, việc phân phát các cụm được định trước hoặc phân phát theo thời gian.
Ngược lại trong phương pháp phân định theo yêu cầu các mạch được tới đáp ứng khi có cuộc gọi yêu cầu, nhờ đó tăng được hiệu suất sử dụng mạch. Trong TDMA các kênh được phân chia theo thời gian nên nhiễu giao thoa giữa các kênh kế cận giảm đáng kể. TDMA sử dụng một kênh vô tuyến để ghép nhiều luồng thông tin thông qua việc phân chia theo thời gian nên cần phải có việc đồng bộ hóa việc truyền dẫn để tránh trùng lặp tín hiệu. Ngoài ra, vì số lượng kênh ghép tăng nên thời gian trễ do truyền dẫn đa đường không thể bỏ qua được, do đó sự đồng bộ phải tối ưu.
Hệ thống CDMA a. Giới thiệu mạng CDMA Thiết bị di động được nghiên cứu sớm nhất gần như chỉ sử dụng phương thức đa truy nhập phân chia theo tần số FDMA (Frequency Division Multiple Access). Theo phương thức đa truy nhập này, mỗi đôi thiết bị cùng thu phát sóng đồng thời, sử dụng phương pháp truyền sóng FDD Lý thuyết về mạng CDMA được xây dựng từ những năm 1950 và được ứng dụng trong thông tin quân sự từa những năm 1960. Với sự phát triển của công nghệ bán dẫn và lý thuyết thông tin trong những năm 1980, CDMA đã được thương mại hóa từ 7 Luan van phương pháp thu GPS và Ommi-TRAC, phương pháp này cũng đã được đề xuất trong hệ thống tổ ong của Qualcomm – Mỹ vào năm 1990.
Trong CDMA nhiều người sử dụng chung thời gian và tần số, mã PN (Mã tạp âm giả ngẫu nhiên) với sự tương quan chéo thấp được ấn định cho mỗi người sử dụng. Người sử dụng truyền tín hiệu nhờ trải phổ tín hiệu truyền có sử dụng mã PN đã ấn định. Đầu thu tạo ra một dãy giả ngẫu nhiên như ở đầu phát và khôi phục lại tín hiệu dự định nhờ việc trải phổ ngược các tín hiệu đồng bộ thu được. Nguyên lý phát/thu tín hiệu CDMA Đối với hệ thống CDMA, tất cả người dùng sẽ sử dụng cùng lúc một băng tần.