chương I của luận văn sẽ đề cập tới một số nét chung nhất về: - Lịch sử IMS. - Vị trí-vai trò - nhiệm vụ của IMS trong thông tin di động hệ NGN - Kiến trúc IMS theo tiêu chuẩn 3GPP. NGUỒN GỐC KHÁI NIỆM IMS Môi trường thông tin hội tụ di động và cố định. với giải pháp IMS hỗ trợ việc kiểm soát phiên truyền dẫn trên miền PS (chuyển mạch gói), đồng thời cũng mang tới cho PS các chức năng của miền chuyển mạch kênh (CS).
IMS là công nghệ chủ chốt sử dụng cho sự hội tụ mạng (FMC) trên nền NGN được khái quát bởi (Hình 1. IMS trong các mạng hội tụ.1 Từ GSM tới 3GPP Release 7 (phiên bản 7) Viện Nghiên cứu Tiêu chuẩn Viễn thông Châu Âu (ETSI) định nghĩa các tiêu chuẩn liên quan đến hệ thống thông tin di động GSM từ những năm 80 và 90. ETSI cũng đã định nghĩa cấu trúc mạng GPRS. Chuẩn GSM cuối cùng đã được ban hành vào năm 1998 và cùng năm đó 3GPP cũng được hình thành bởi các tổ chức tiêu chuẩn từ châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Trung Quốc để chuẩn hóa cấu trúc hệ thống 3G dựa trên công nghệ truy nhập vô tuyến băng rộng WCDMA, công nghệ truy nhập vô tuyến đa truy nhập phân chia theo thời gian/ mã (TD-CDMA) và mạng lõi GSM, chỉ tiêu kỹ thuật đầu tiên được ban hành trong phiên bản Release 99 của 3GPP.
Trong Release 99, công nghệ truy nhập vô tuyến WCDMA là cải tiến cơ bản nhất đối với hệ thống 3G được xây dựng dựa trên cơ sở GSM. Ngoài WCDMA, phân hệ truy nhập vô tuyến UMTS (UTRAN) sử dụng giao diện Iu với hai khác biệt cơ bản so với các giao diện A và Gb. Trước tiên là sự chuyển đổi mã thoại cho Iu được thực hiện trong mạng lõi, trong GSM thì công việc này được thực hiện ở Trạm gốc (BTS). Thứ hai, sự mã hoá bảo mật và quản lý tính di động mức cell trong giao diện Iu được thực hiện ở Bộ điều Khiển mạng Vô tuyến (RNC), trong GSM thì các chức năng này được thực hiện tại SGSN.
z Trang-19- Cách kiến tạo dịch vụ được thực hiện dựa trên Kiến trúc dịch vụ mở (OSA). Về mặt dịch vụ, mục tiêu là ngừng chuẩn hoá các dịch vụ mới và tập trung vào khả năng phục vụ của dịch vụ, như các công cụ (CAMEL, ứng dụng SIM và OSA). Vai trò của IMS trong các mạng chuyển mạch gói. [3] IMS được giới thiệu trong Release 5 của 3GPP.
IMS được giả định là một cấu trúc chuẩn hoá truy nhập không giới hạn trên nền IP. Cấu trúc IMS hỗ trợ việc thiết lập thông tin ngang hàng IP với tất cả các khách hàng phù hợp với chất lượng dịch vụ yêu cầu. Đồng thời với việc sử dụng tính năng quản lý phiên, cấu trúc IMS cũng hỗ trợ các chức năng cần thiết khác để đảm bảo hỗ trợ dịch vụ (như đăng ký, bảo mật, tính cước, kiểm soát kênh mang, chuyển vùng). Với những tính năng đó, IMS sẽ là phần tử trung tâm của mạng lõi IP (Hình 1.
Việc tối ưu môi trường thông tin di động được thiết kế dựa trên sự nhận thực và phân quyền thuê bao theo số nhận dạng di động, dựa trên các quy luật tại giao diện của thuê bao với mạng để thực hiện nén bản tin SIP và các cơ chế kiểm soát chính sách và bảo mật. Ngoài ra, các khía cạnh quan trọng theo quan điểm của nhà khai thác được xác định khi phát triển kiến trúc như hệ thống tính cước, chính sách tính cước và điều khiển dịch vụ. Cấu trúc cơ bản IMS đƣợc định nghĩa trong Release 5 của 3GPP Cấu trúc IMS về cơ bản cho trên Hình 1. Cấu trúc các phần tử chức năng cơ bản của IMS [3GG] Các thực thể chức năng cơ bản của IMS được thể hiện trên hình vẽ bao gồm: Thực thể Chức năng điều kiển cuộc gọi ủy quyền - Proxy-Call State Control Function (P-CSCF): Đây là điểm truy nhập đầu tiên của IMS.
Thực thể này nằm trong cùng một mạng với GGSN. Chức năng cơ bản của thực thể này là chọn I-CSCF phù hợp trong mạng thường trú của thuê bao. Ngoài ra, nó cũng thực hiện một số tính năng nội bộ (vd: đọc số nhận thuê bao, xác định chính sách QoS. CSCF tham vấn - Interrogating-CSCF (I-CSCF): Đây là phần tử chức năng cổng giao tiếp chính của IMS trong mạng thường trú.
Phần tử này có chức năng chọn S-CSCF phù hợp để phục vụ cho thuê bao (chức năng này được thực hiện với sự trợ giúp của HSS). SCSCF phục vụ - Serving-CSCF (S-CSCF): Phần từ này thực hiện việc xử lý phiên truyền dẫn: xử lý các yêu cầu SIP, thực hiện các công việc phù hợp (như: yêu cầu mạng thường trú và tạm trú thiết lập các kênh mang) và chuyển tiếp yêu cầu đó tới S- CSCF / mạng IP bên ngoài của thuê bao đầu bên kia (khi cần). Một S-CSCF có thể cung cấp một số dịch vụ nhất định. Các thực thể và chức năng liên mạng không được thể hiện trên Hình 1.
Các thực thể này được chuẩn hóa để thực hiện chức năng kết nối IMS với các mạng truyền thống (PSTN, GSM, GSM+GPRS, UMTS….) bao gồm các thực thể như: BGCF, IMS- MGW. Lưu ý: từ phiên bản Release 5 trở đi, chức năng HLR được gọi là "HSS" (Home Subscriber Server) để thể hiện rằng cơ sở dữ liệu này không chỉ chứa các số liệu liên quan đến vị trí mà còn chứa các số liệu đăng ký như: danh sách các dịch vụ có thể sử dụng của thuê bao và các tham số liên quan khác. Trình tự làm việc của hệ thống mạng lõi có IMS: Đầu tiên, thiết lập kênh mang trong miền PS (ngữ cảnh PDP trong mạng GPRS) để sử dụng truyền tải báo hiệu IMS giữa UE và S-CSCF. Sau khi thỏa thuận, các kênh mang miền PS khác được thiết lập giữa UE và đầu cuối tham gia thông tin để truyền tải số liệu tạo ra bởi ứng dụng IMS.3 Các vấn đề liên quan đến mã hóa và dịch vụ hội thoại Trong IMS, có tính năng được thực hiện nhằm đảm bảo các dịch vụ hội thoại đa phương tiện có thể được cung cấp trong miền PS.
Tính năng này định nghĩa các bộ chuyển mã cần thiết và các phần tử được sử dụng trong dịch vụ hội thoại đa phương tiện di động PS. Tiêu chuẩn TS 26.235 chứa một bộ các bộ mã hóa mặc định sử dụng cho các ứng dụng đa phương tiện hội thoại PS trong hệ thống IMS. Việc thông tin âm thanh và hình ảnh cũng được chuẩn hóa. Các ứng dụng đề suất là các ứng dụng yêu cầu trễ thấp và tính năng thời gian thực.
Tiêu chuẩn TS 26.236 chứa các giao thức yêu cầu trong 3GPP sử dụng đối với các dịch vụ đa phương tiện hội thoại PS dựa trên IMS. IMS là một phân hệ chứa các dịch vụ đa phương tiện hội thoại IP; cấu trúc của các dịch vụ này, các thủ tục xử lý tính năng phương tiện và thủ tục điều khiển cuộc gọi được định nghĩa trong tiêu chuẩn TS 24.229, và dựa trên giao thức SIP (được 3GPP chấp thuận sử dụng). Từng loại phương tiện được mã hóa độc lập và đóng gói trong các gói Giao thức thời gian thực- Real Time Protocol (RTP) phù hợp. Sau đó, những gói này sẽ được truyền từ đầu cuối đến đầu cuối trong các gói UDP trên kết nối IP thời gian thực đã được thỏa thuận và được thực hiện giữa các đầu cuối trong thời gian phiên truyền SIP (thủ tục này được định nghĩa trong tiêu chuẩn TS 24.
Các UE hoạt động trong IMS cần được hỗ trợ mã hóa/ giải mã và thực hiện các chức năng đóng/mở gói. Các chức năng logic liên quan đến các luồng lưu lượng được xử lý tại lớp phiên SIP và việc đồng bộ giữa các phương tiện ở thiết bị thu đuợc thực hiện nhờ sử dụng các nhãn thời gian RTP.2 VỊ TRÍ- VAI TRÒ IMS TRONG THÔNG TIN DI ĐỘNG THẾ HỆ MỚI.1 Cấu trúc chức năng của mạng NGN di động Cấu trúc mạng NGN-mobile được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: Hội tụ thoại và dữ liệu: sử dụng cùng một công nghệ, cùng một mạng cho cả hai dịch vụ thoại và dữ liệu. Phân tách các lớp: tách chức năng chuyển mạch và chức năng xử lý cuộc gọi. Trong phần này, chúng ta phân tích mô hình chức năng của mạng NGN-Mobile.
Trong đó, các phần tử chức năng có thể là một phần tử vật lý, được tích hợp bên trong phần tử vật lý hoặc được phân bố trên một số phần tử vật lý. Về cơ bản mô hình chức năng của mạng NGN- Mobile có thể được cho trên Hình 1. Trong mô hình này, mạng NGN- Mobile được chia thành các phân lớp cơ bản: lớp truy nhập, lớp truyền tải, lớp điều khiển và lớp ứng dụng. Mỗi phân lớp có chứa một số phần tử chức năng cơ bản như: máy chủ cuộc gọi (Call Sever, MSC Server) hay còn gọi là Chuyển mạch z Trang-22- mềm (SoftSwitch), Cổng truy nhập (Media Gateway), Cổng báo hiệu (Signalling Gateway) và Máy chủ dịch vụ (Feature Server).
Cấu trúc phân lớp của mạng NGN- Mobile.2 Các chức năng cơ bản của IMS trong hệ thống NGN di động [5] Cấu trúc NGN di động đựa trên phiên bản 3GPP R4 với việc sử dụng phần tử điều khiển cuộc gọi Call server là Softswitch ở lớp điều khiển cuộc gọi được thể hiện trên Hình 1. Khi phiên bản IMS đầu tiên (ứng với 3GPP R5) được triển khai trong cấu trúc này. Về cơ bản các phần tử chức năng chính (CSCF) của IMS sẽ thực hiện việc xử lý cuộc gọi tại lớp điều khiển. Ngoài ra, trong IMS còn có một số phần tử chức năng khác hỗ trợ kết nối với các hệ thống mạng hiện có và các hệ thống IMS khác.
Lớp chuyển tải vẫn tận dụng cấu trúc mạng cũ (như các phần tử SGSN/GGSN). Bên cạnh đó, các máy chủ ứng dụng SIP (thuộc lớp ứng dụng) cũng là những thành phần không thể thiếu được trong cấu trúc hệ thống IMS. Như vậy, IMS sẽ đem đến những thay đổi trong cấu trúc mạng cũ chủ yếu tại lớp điều khiển và lớp ứng dụng. Các chức năng cơ bản của IMS tại lớp điều khiển và lớp ứng dụng trong cấu trúc IMS bao gồm: Điều phối và quản lý phiên Multimedia: IMS sử dụng giao thức SIP để điều phối và quản lý phiên multimedia.
IMS về bản chất là một mạng SIP di động được thiết kế để hỗ trợ chức năng này, trong đó IMS hỗ trợ định tuyến, định vị mạng, và các chức năng đánh địa chỉ.