Luận Văn Thạc Sĩ Về Xóa Bỏ Các Hình Thức Lao Động Trẻ Em Tồi Tệ Nhất Ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls pháp luật về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở việt nam luận văn ths pháp, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

130
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ XÓA BỎ CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ NHẤT

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

1.3. Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÓA BỎ CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ NHẤT Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng lao động trẻ em và các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất tại Việt Nam

2.2. Các đặc điểm ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

2.3. Một số kết quả trong xây dựng và thực hiện pháp luật xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

2.4. Một số hạn chế trong xây dựng và thực hiện pháp luật về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam

2.5. Nguyên nhân hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với pháp luật về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÓA BỎ CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ NHẤT Ở VIỆT NAM

3.1. Dự báo xu hướng các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất tại Việt Nam

3.2. Phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam

3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam

3.4. Một số giải pháp hỗ trợ khác

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Xóa Bỏ Lao Động Trẻ Em Tồi Tệ Nhất Ở Việt Nam

Lao động trẻ em là một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam, ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em. Theo thống kê, có khoảng 1,75 triệu trẻ em đang tham gia vào lao động, trong đó có 1,3 triệu trẻ em làm việc trong các ngành nghề bị cấm. Việc xóa bỏ lao động trẻ em tồi tệ nhất không chỉ là trách nhiệm của chính phủ mà còn là của toàn xã hội. Các tổ chức quốc tế như ILO đã đặt ra mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn lao động trẻ em tồi tệ nhất vào năm 2016, nhưng thực tế vẫn còn nhiều thách thức.

1.1. Khái Niệm Lao Động Trẻ Em Và Quyền Con Người

Lao động trẻ em được định nghĩa là việc trẻ em tham gia vào các hoạt động lao động có thể gây hại cho sức khỏe, sự phát triển và giáo dục của trẻ. Quyền con người của trẻ em bao gồm quyền được bảo vệ khỏi lao động tồi tệ, quyền được học tập và phát triển toàn diện.

1.2. Tình Trạng Lao Động Trẻ Em Ở Việt Nam

Tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam vẫn còn phổ biến, đặc biệt trong các ngành nghề nặng nhọc, độc hại. Nhiều trẻ em phải làm việc để hỗ trợ gia đình, dẫn đến việc bỏ học và thiếu hụt về mặt giáo dục. Các số liệu cho thấy rằng trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến 17 thường xuyên tham gia vào các công việc nguy hiểm.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Việc Xóa Bỏ Lao Động Trẻ Em

Việc xóa bỏ lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam gặp nhiều thách thức. Một trong những nguyên nhân chính là tình trạng nghèo đói và thiếu hiểu biết về quyền trẻ em. Nhiều gia đình vẫn coi lao động trẻ em là một giải pháp để cải thiện thu nhập. Hơn nữa, việc thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng vi phạm vẫn diễn ra.

2.1. Nguyên Nhân Gây Ra Lao Động Trẻ Em

Nghèo đói, thiếu giáo dục và nhận thức kém về quyền trẻ em là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lao động trẻ em. Nhiều gia đình không có đủ điều kiện kinh tế để cho con cái đi học, buộc trẻ em phải tham gia vào lao động sớm.

2.2. Hạn Chế Trong Thực Thi Pháp Luật

Mặc dù Việt Nam đã có nhiều quy định pháp luật về lao động trẻ em, nhưng việc thực thi còn yếu kém. Các chế tài xử phạt chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm, và công tác giám sát còn nhiều thiếu sót.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Lao Động Trẻ Em Tồi Tệ Nhất

Để xóa bỏ lao động trẻ em tồi tệ nhất, cần có những giải pháp đồng bộ từ chính phủ, tổ chức xã hội và cộng đồng. Các chương trình giáo dục, hỗ trợ tài chính cho gia đình và nâng cao nhận thức về quyền trẻ em là những biện pháp cần thiết.

3.1. Tăng Cường Giáo Dục Và Đào Tạo

Giáo dục là chìa khóa để xóa bỏ lao động trẻ em. Cần có các chương trình giáo dục miễn phí và hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, giúp trẻ em có cơ hội học tập và phát triển.

3.2. Chính Sách Hỗ Trợ Gia Đình

Cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho các gia đình nghèo để giảm bớt áp lực kinh tế, từ đó giảm thiểu tình trạng trẻ em phải lao động sớm. Các chương trình hỗ trợ cần được triển khai rộng rãi và hiệu quả.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Lao Động Trẻ Em

Nghiên cứu về lao động trẻ em đã chỉ ra rằng việc áp dụng các chính sách và chương trình hỗ trợ có thể giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em. Các mô hình thành công từ các địa phương cần được nhân rộng và áp dụng trên toàn quốc.

4.1. Mô Hình Thành Công Trong Xóa Bỏ Lao Động Trẻ Em

Một số địa phương đã triển khai thành công các chương trình giáo dục và hỗ trợ gia đình, giúp giảm thiểu số lượng trẻ em tham gia lao động. Các mô hình này cần được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tác Động Của Lao Động Trẻ Em

Nghiên cứu cho thấy rằng lao động trẻ em không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà còn tác động tiêu cực đến xã hội. Việc xóa bỏ lao động trẻ em sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển bền vững.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Lao Động Trẻ Em Ở Việt Nam

Xóa bỏ lao động trẻ em tồi tệ nhất là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết. Cần có sự chung tay của toàn xã hội để bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Tương lai của trẻ em phụ thuộc vào những hành động cụ thể và quyết liệt từ hôm nay.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Vệ Quyền Trẻ Em

Bảo vệ quyền trẻ em không chỉ là trách nhiệm của chính phủ mà còn là của toàn xã hội. Mỗi cá nhân cần nhận thức rõ về quyền lợi của trẻ em và hành động để bảo vệ những quyền lợi đó.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Trong Việc Xóa Bỏ Lao Động Trẻ Em

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các chính sách hiệu quả nhằm xóa bỏ lao động trẻ em. Sự hợp tác giữa các tổ chức quốc tế, chính phủ và cộng đồng là rất quan trọng để đạt được mục tiêu này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở việt nam luận văn ths pháp luật về quyền con người

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng, 9 tiết. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ XÓA BỎ CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ NHẤT 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm trẻ em và quyền trẻ em Khái niệm trẻ em Trẻ em là khái niệm tồn tại trong nhiều ngành khoa học và mỗi ngành đƣa ra định nghĩa khác nhau dựa trên các tiêu chí và góc độ tiếp cận đặc thù chuyên ngành.

Về mặt sinh học trẻ em là con ngƣời ở giai đoạn từ khi sinh ra cho đến khi cơ thể dậy thì, việc xác định trẻ em dựa trên sự phát triển hoàn thiện về mặt thể chất sinh lý của con ngƣời. Từ góc độ xã hội học thì trẻ em không phải là ngƣời lớn thu nhỏ nhƣng là một ngƣời ở cấp dƣới của sự trƣởng thành cần đƣợc ngƣời lớn chăm sóc và nuôi dƣỡng. Trong ngành tâm lý học, trẻ em là giai đoạn đầu của thời kỳ trƣởng thành về tâm lý và nhân cách. Trẻ vận động và phát triển theo quy luật riêng, sự phát triển tâm lý đó là một quá trình trong đó có khủng hoảng và đột biến.

Sự hoạt động của trẻ qua các giai đoạn phát triển thể chất dƣới dự hƣớng dẫn của ngƣời lớn, sự tác động từ môi trƣờng hay giáo dục làm cho tâm lý của trẻ đƣợc hình thành và phát triển. Trong lĩnh vực pháp lý, khái niệm trẻ em thƣờng đƣợc tiếp cận theo độ tuổi, nghĩa là một ngƣời sẽ đƣợc coi là trẻ em khi ở dƣới một độ tuổi theo quy định. Trẻ em là những ngƣời ở dƣới độ tuổi trƣởng thành, là đối tƣợng cần đƣợc chăm sóc và bảo vệ. Một ngƣời sẽ đạt đƣợc sự trƣởng thành về thể chất và tâm lý ở độ tuổi nhất định.

Việc ngành khoa học pháp lý tiếp cận khái niệm trẻ em theo độ tuổi là phù hợp với sự phát triển của con ngƣời cả về mặt sinh học và xã hội. Theo Công ƣớc của LHQ về Quyền trẻ em (CRC): “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định tuổi thành niên sớm hơn” [22, Điều 1]. Có thể thấy, CRC đã xác định trẻ em là ngƣời dƣới 18 tuổi song đồng thời công ƣớc cũng có quy định mở về độ tuổi của trẻ em. Quy định 18 tuổi là mức tuổi trần nhƣng công ƣớc không bắt buộc mà cho phép các quốc gia lấy tuổi thành niên có thể thấp hơn 18.

CRC không quy định rõ khi nào một ngƣời đƣợc coi là trẻ em nhƣng có quy định “trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý từ trước cũng như sau khi ra đời” [22, tr. Theo công ƣớc thì việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em cần đƣợc thực hiện ngay từ giai đoạn bào thai chứ không đợi đến lúc trẻ chào đời. Do đó, Trẻ em theo công ƣớc CRC có thể hiểu là ngƣời đƣợc tính từ lúc là thai nhi cho tới dƣới 18 tuổi. Tuy nhiên, với quy định mở của công ƣớc các quốc gia thành viên có thể quy định các quyền trẻ em đƣợc bắt đầu ngay khi mang thai hay sau khi ra đời; và về độ tuổi đƣợc coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với công ƣớc.

Công ƣớc số 182 của ILO xác định: thuật ngữ trẻ em sẽ áp dụng cho những người dưới 18 tuổi [32, Điều 1]. Khác với Công ƣớc về Quyền trẻ em, Công ƣớc 182 không để mở khả năng cho phép quốc gia thành viên quy định độ tuổi trẻ em thấp hơn 18. Xuất phát từ mục đích của công ƣớc là xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất do đó việc xác định tuổi của trẻ em dƣới 18 tuổi đảm bảo cho những cá thể dƣới 18 tuổi đƣợc bảo vệ khỏi các hình thức lao động tồi tệ khi chƣa đủ trƣởng thành về thể chất và tinh thần. Là thành viên của cả hai công ƣớc CRC và Công ƣớc 182, Việt Nam cũng có những quy định về trẻ em phù hợp với pháp luật quốc tế.

Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi [30, Điều 1]. Việc quy định trẻ em là công dân đồng nghĩa với việc xác định tuổi của trẻ em là từ khi sinh ra cho tới dƣới 16 tuổi. Dù Việt Nam quy định độ tuổi trẻ em là dƣới 16 tuổi, thấp hơn so với độ tuổi trẻ em của CRC, nhƣng không bị coi là trái Công ƣớc CRC do phù hợp với quy định mở của Công ƣớc này. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, trong lĩnh vực pháp lý trẻ em đƣợc xác định là một ngƣời ở độ tuổi nhất định, độ tuổi này tùy thuộc vào pháp luật của từng quốc gia nhƣng không trái với quy định của luật quốc tế.

Trẻ em phát triển và trƣởng thành dần theo thời gian từng độ tuổi, pháp luật các quốc gia có thể căn cứ vào từng độ tuổi khác nhau mà quy định cho trẻ em tham gia vào các quan hệ pháp luật tùy theo khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm về hành vi của trẻ. Khái niệm quyền trẻ em Quyền trẻ em là thuật ngữ đƣợc nhắc đến kể từ sau Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1924. Trong lịch sử, trẻ em đƣợc coi là “tài sản” của cha mẹ, không có quyền quyết định hay tham gia vào các vấn đề của chính bản thân mình. Việc bảo vệ trẻ xuất phát từ tình thƣơng, sự che chở chứ không phải từ nghĩa vụ bảo vệ quyền [14, tr.

Trong một thời gian dài quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu kéo theo tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em một cách phổ biến. Đỉnh điểm là cuộc Chiến tranh Thế Giới lần thứ nhất với những hậu quả nặng nề đã đẩy rất nhiều trẻ em vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: không đƣợc chăm sóc hay nuôi dƣỡng đầy đủ, đói nghèo và bệnh tật, bị phân biệt đối xử - đặc biệt là các trẻ em gái. Năm 1919, một số tổ chức cứu trợ trẻ em đã đƣợc thành lập ở Anh và Thụy Điển. Năm 1924, khi Tuyên bố Geneva về quyền trẻ em đƣợc Hội Quốc liên thông qua thì vấn đề bảo vệ “quyền trẻ em” mới chính thức đƣợc đề cập.

Tuyên bố đánh dấu sự ra đời của khái niệm “quyền trẻ em” và là bƣớc ngoặt quan trọng trong nhận thức và hành động về bảo vệ trẻ em từ góc độ quyền. Tuyên bố thể hiện quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của trẻ em cũng nhƣ bảo vệ trẻ em trƣớc những bạo lực và sự xâm hại, trẻ em cần có các quyền để sống và phát triển lành mạnh và an toàn. Quyền trẻ em đảm bảo cho trẻ không còn chỉ là ngƣời tiếp thu thụ động lòng nhân từ của ngƣời lớn mà là chủ thể tham gia của quá trình phát triển. Cha mẹ, các chủ thể khác trong xã hội có nghĩa vụ pháp lý trong bảo vệ trẻ em.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cùng với sự phát triển của luật nhân quyền quốc tế, quyền của trẻ em đƣợc xem là quyền con ngƣời và trẻ em trở thành chủ thể đƣợc hƣởng đầy đủ các quyền con ngƣời bình đẳng nhƣ những ngƣời trƣởng thành. Tuy nhiên, trẻ em là đối tƣợng có sự phát triển về thể chất và tinh thần chƣa hoàn thiện, còn non nớt và cần đƣợc ngƣời lớn chăm sóc, nuôi dƣỡng. Do đó trẻ em cần đƣợc quy định riêng với các quyền đặc thù để đảm bảo sự chăm sóc, giáo dƣỡng và bảo vệ đặc biệt. Dựa trên cách tiếp cận đó, năm 1959 LHQ đã thông qua Tuyên bố LHQ về Quyền trẻ em và là tiền đề để xây dựng Công ƣớc về quyền trẻ em năm 1989.

Cho đến nay CRC vẫn là công ƣớc cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em. Là công ƣớc có nhiều thành viên nhất của hệ thống luật nhân quyền quốc tế, CRC đã cho thấy quyền trẻ em đã trở thành khái niệm đƣợc thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới. CRC đã đƣa ra bốn nhóm quyền cơ bản mà trẻ em trên toàn thế giới đƣợc hƣởng, bao gồm: - Nhóm quyền đƣợc sống còn (các Điều 5, 6, 24, 26, 27): đảm bảo trẻ đƣợc sống và đáp ứng các nhu cầu tồn tại tối thiểu. - Nhóm quyền đƣợc bảo vệ (các Điều 2, 7, 8, 9, 10, 11, 16, 19, 20, 21, 22, 23, 25, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40): bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ - Nhóm quyền đƣợc phát triển (các Điều 17, 18, 28, 29, 31, 32): Bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính quy và không chính quy) và quyền đƣợc có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ.

Quyền đƣợc chăm sóc sức khoẻ, đƣợc học tập và phát triển - Nhóm quyền đƣợc tham gia (các Điều 12, 13, 14, 15, 17, 30): Bao gồm quyền đƣợc bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có liên quan tới bản thân, quyền đƣợc lắng nghe và đƣợc kết giao hội họp. Quyền đƣợc tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên thực tế không có văn kiện pháp lý nào đƣa ra định nghĩa quyền trẻ em là gì. Tuy nhiên, tiếp cận từ góc độ là một quyền con ngƣời thì quyền trẻ em sẽ mang đầy đủ các đặc trƣng của quyền con ngƣời nói chung.

Đồng thời do trẻ em là đối tƣợng thuộc nhóm dễ bị tổn thƣơng cần có những quy định đảm bảo cho trẻ nhận đƣợc sự chăm sóc, bảo vệ có hiệu quả và phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và xã hội. Nhƣ vậy có thể khái quát: Quyền trẻ em là những quyền tự nhiên, vốn có mà trẻ em được hưởng, được tôn trọng, bảo vệ và thực thi nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện của trẻ [1, tr. Khái niệm lao động trẻ em Hiện nay trong hệ thống pháp luật quốc tế chƣa có một quy định chung thống nhất về khái niệm lao động trẻ em.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Xóa Bỏ Lao Động Trẻ Em Tồi Tệ Nhất Ở Việt Nam: Luận Văn Thạc Sĩ Về Quyền Con Người" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề lao động trẻ em tại Việt Nam, nhấn mạnh những thách thức và giải pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Luận văn không chỉ phân tích tình hình hiện tại mà còn đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm xóa bỏ tình trạng này, từ đó nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền trẻ em. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá giúp họ hiểu rõ hơn về quyền con người và trách nhiệm của xã hội trong việc bảo vệ trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn thạc sĩ luật học thực tiễn bảo vệ quyền của con khi cha mẹ ly hôn, nơi khám phá quyền lợi của trẻ em trong bối cảnh gia đình tan vỡ. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh bắc ninh sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các tội xâm hại trẻ em và cách thức xử lý. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ trẻ em là nạn nhân bị xâm hại tình dục theo pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp pháp lý bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại tình dục. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào các khía cạnh khác nhau của quyền trẻ em và các vấn đề pháp lý liên quan.