CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng Xep hạng tín dụng (Thuật ngữ trong tiếng Anh là credit ratings) đã được đưa ra và nghiên cứu từ khá sớm, có mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử kinh tế hiện đại, đặc biệt là ngành chứng khoán. Thuật ngữ này do John Moody đưa ra đầu tiên vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” (Moody’s Analyses of Railroad Investments) khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gom 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt là AAA đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế).374] Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín dụng như sau: Theo Bohn John A viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại của nó”.374] Theo định nghĩa của công ty Merrill Lynch thì “Xếp hạng tín dụng là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín dụng về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói khác đi, đó là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn”.374] 6 Theo công ty Moody’s thì iiXep hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”. Theo tự điển thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín dụng là cách ước tính chính thức tín dụng từ trước đến nay của cá nhân hay công ty về khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách dụng tín dụng của cá nhân và công ty kinh doanh”.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về XHTD nhưng đều thống nhất ở nội dung là đánh giá khả năng trả nợ của người đi vay và là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro.2 Xếp hạng tín dụng tại các NHTM Việt Nam Cơ sở thực hiện xếp hạng tín dụng Năm 2002, NHNN đã ban hành Quyết định 57/2002/QĐ-NHNN ngày 24/01/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc triển khai thí điểm đề án phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp, trong đó quy định về cách chấm và xếp loại tín dụng doanh nghiệp. Tuy nhiên đến 2012 văn bản này đã hết hiệu lực theo quyết định số 25/2012/TT-NHNN ngày 06/09/2012. Năm 2005, NHNN ban hành Quyết định số 493/2005/QĐ -NHNN về việc “Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng”. Với qui định tại điều 7, Quyết định 493, NHNN đã có định hướng khuyến khích các NHTM chủ động nghiên cứu triển khai XHTD, làm cơ sở để phân loại nợ và trích lập dự phòng theo phương pháp định tính.
Đây là căn cứ để các NHTM xây dựng và triển khai XHTD, phục vụ quản lý rủi ro tín dụng và thực hiện chính sách khách hàng. Sau một thời gian thực hiện XHTD khách hàng đã đạt được một số kết quả bước đầu. Hầu hết các NHTM lớn tại Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của 7 XHTD, chủ động nghiên cứu triển khai trong hoạt động tín dụng. về cơ bản việc XHTD tại các NHTM đều đã tính đến yếu tố định tính và định lượng, chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của khách hàng.
Kết quả XHTD tại một số ngân hàng đã được sử dụng đề xuất cấp tín dụng và đưa ra chính sách lãi suất với khách hàng (trên cơ sở chấm điểm tín dụng dựa trên tính chất tài sản bảo đảm, hạng rủi ro tín dụng của khách hàng, mức độ rủi ro của ngành hàng). Một số NHTM đã được NHNN phê duyệt XHTD và cho phép thự c hiện phân loại nợ theo định tính. Nhờ đó việc quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả hơn, khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng cũng được cải thiện và dần tiệm cận với thông lệ quốc tế. Theo thông lệ, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ có thể được sử dụng trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng sau: ban hành chính sách tín dụng, quy trình cho vay, giám sát rủi ro danh mục tín dụng, lập báo cáo quản trị rủi ro, chính sách dự phòng rủi ro tín dụng, xác định mức vốn an toàn tối thiểu, phân tích hiệu quả sinh lời của danh mục tín dụng và xác định khung lãi suất tiêu chuẩn.
Tóm lại, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là một cấu phần quan trọng và là một công cụ đắc lực trong quản trị kinh doanh ngân hàng. [4] Các đặc điểm về cấu trúc, thiết kế và vận hành của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ có thể khác nhau giữa các ngân hàng, ví dụ như: cơ cấu của các chỉ tiêu đánh giá, trọng số của các chỉ tiêu, số lượng các mức xếp hạng, ước tính mức rủi ro gắn liền với các mức xếp hạng, các chính sách khách hàng, chính sách tín dụng áp dụng cho từng mức xếp hạng. Nhìn chung, khi xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, các ngân hàng đều cân nhắc đến các yếu tố như: chi phí và lợi ích của việc thu thập và đánh giá thông tin, tính nhất quán của các tiêu chí đánh giá, tính hợp lý của các mức xếp hạng tương ứng với các mức rủi ro xác định, các chính sách tín dụng, chiến lược 8 hoạt động kinh doanh của ngân hàng và việc ứng dụng các kết quả xếp hạng vào hoạt động quản trị ngân hàng. Hệ thống xếp hạng nội bộ giúp cho các to chức tài chính quản lý và kiểm soát được rủi ro tín dụng mà họ có thể phải gánh chịu trong hoạt động tín dụng và các hoạt động khác bằng cách phân loại và quản lý mức độ tín nhiệm của người đi vay cũng như chất lượng của các khoản vay.
Trong một thời gian dài, nhiều tổ chức tín dụng thực thiện quản lý rủi ro dựa trên việc giám sát mức độ tín nhiệm của từng người đi vay riêng biệt. Theo cách này, quá trình quyết định cho vay của tổ chức tín dụng cũng tương đối đơn giản, thông thường là quyết định cho vay hoặc là không mà thôi. Tuy nhiên, ngay cả khi người vay vốn bị phá sản, thì phần tổn thất của bên cho vay hầu như đã được bù đắp bằng số tài sản cố định thế chấp. Sau những biến động bất lợi về thị trường, chi phí tín dụng của các tổ chức tài chính gia tăng đáng kể do sự gia tăng số lượng người đi vay bị phá sản và sự sụt giảm giá trị của tài sản thế chấp.
Vì lẽ đó, việc kiểm soát rủi ro tín dụng trở thành một công việc quản lý quan trọng đòi hỏi được xem xét lại. Ngoài ra, những thay đổi của các chính sách kinh tế vĩ mô cũng buộc các tổ chức tài chính phải tìm kiếm một mô hình về quản lý rủi ro tín dụng đáng tin cậy hơn. Vì thế, phương pháp quản lý và phân tích rủi ro tín dụng dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ ngày càng được sử dụng rộng rãi. Ngày càng có nhiều tổ chức tài chính, bao gồm cả ngân hàng quy mô nhỏ, sử dụng hệ thống xếp hạng nội bộ để phân loại khách hàng vay vốn.3 Phân loại xếp hạng tín dụng ❖ Theo đối tượng đi vay: V XHTD cá nhân: áp dụng đối với các khách hàng cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng của các NHTM.
Việc XHTD cá nhân được 9 thực hiện dựa trên lịch sử vay - trả nợ, số lượng và loại tài sản đảm bảo mà cá nhân đó đang sở hữu, những khoản thanh toán chậm hoặc nợ quá hạn. S XHTD doanh nghiệp: XHTD doanh nghiệp về cơ bản dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp để đánh giá. S XHTD quốc gia: đánh giá mức độ tin cậy của một quốc gia để có thể so sánh môi trường đầu tư giữa các quốc gia. Việc XHTD các quốc gia dựa trên các chỉ số phát triển chung như: chỉ số phát triển các ngành, chỉ số an toàn vốn đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, mức độ ổn định chính trị,.
❖ Phân loại theo công cụ đầu tư: S XHTD các công cụ đầu tư như: trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kì phiếu ngân hàng, co phiếu ưu đãi, co phiếu thường,. Việc XHTD các công cụ được thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu như: khả năng thanh khoản, kì hạn, lãi suất, mệnh giá, các rủi ro có thể gặp phải. Ớ nước ta hiện nay mới chỉ tập trung xếp hạng các doanh nghiệp và cá nhân. Xếp hạng quốc gia và các công cụ đầu tư thì chúng ta chưa thực hiện mà chỉ có những tổ chức xếp hạng lớn như Moody’s, S&P hay Fitch.4 Ý nghĩa của xếp hạng tín dụng ❖ Đối với Ngân hàng: Khi sử dụng hệ thống xếp hạng nội bộ, các tổ chức tài chính sẽ có được nhiều lợi ích.
Thứ nhất, dựa vào hệ thống xếp hạng nội bộ sẽ cho phép các ngân hàng đưa ra quyết định cho vay có hiệu quả hơn và giảm bớt công việc hành chính trong quá trình quản lý nợ. 10 Thứ hai, nó giúp cho việc kiểm soát mức độ tín nhiệm tín dụng của người đi vay và hiệu quả giao dịch tín dụng bằng một hệ thống tiêu chuẩn thống nhất. Ngoài ra, bằng cách giám sát sự thay đoi của số tiền cho vay và số lượng người vay trong mỗi hạng, tổ chức tài chính có thể đánh giá hiệu quả của các khoản cho vay trong toàn bộ danh mục cho vay. Bằng cách xếp hạng tín nhiệm, người ta cũng có thể tính toán được mức độ rủi ro bằng cách ước tính khả năng người đi vay không trả được nợ.
Những phân tích mang tính nhất quán, toàn diện và khách quan này làm nền tảng cho việc quản trị ngân hàng một cách khoa học. Việc xây dựng một hệ thống xếp hạng tín nhiệm không chỉ mang lại lợi ích trong vệc cải thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng.