CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ ỨNG XỬ VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SINH VIÊN KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 1. Cơ sở lý luận về văn hóa ứng xử. Khái niệm về văn hóa. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, dưới góc độ nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa lại phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Croeber và Clyde Khluckhohn đã từng thống kê có 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Có sự khác nhau này là do những góc độ tiếp cận và các lĩnh vực khác nhau sẽ có định nghĩa về văn hóa khác nhau. “Văn hóa” là một trong các từ ngữ được dùng rộng rãi nhất không chỉ trong các môn khoa học tinh thần, trong hoạt động văn hóa và du lịch, mà còn cả trong đời thường của mọi người dân. Văn hóa được xem là khái niệm có liên quan tới mọi lĩnh vực trong đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Khái niệm về văn hóa đã được hình thành và phát triển thông qua những nghiên cứu của các nhà khoa học. Với việc nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau thì năm 1871, E. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”. Theo định nghĩa đã được đưa ra thì E.Tylor cho rằng văn hóa có thể đồng nhất với văn minh của con người và được nhìn nhận dưới góc độ bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế - xã hội, pháp luật, văn học.Như vậy, văn hóa theo định nghĩa trên là những mảng liên kết mang tính hệ thống và dàn trải.
Tuy nhiên, đó 10 là xét dưới góc độ của tộc người học nói chung. Song, về cơ bản thì văn hóa là một khái niệm trừu tượng và không thể định hình hoặc so sánh. Vì vậy dưới một góc độ nào đó khó có thể đưa ra định nghĩa toàn vẹn về khái niệm này. Tylor thì AL.
Kroeber và Kluckhohn lại đưa ra khái niệm là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người. Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”. Tác giả cho rằng văn hóa là khái niệm không mang tính chất dàn trải mà khái quát lại trên cơ sở là những đặc trưng, yếu tố cơ bản nhằm xác định một khái niệm về văn hóa mang tính chất thống nhất. Tác phẩm văn cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Như vậy với cách định nghĩa này, nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người. Thứ hai, những giá trị mà con người sáng tạo ra đó phải mang nhân tính, nghĩa là nó phải mang tính người. Điều đó có nghĩa là có những giá trị do con người sáng tạo ra. Tóm lại, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Từ lâu vấn đề ứng xử của con người là một phạm trù được nhiều nhà tâm lí học, xã hội học, sinh vật học quan tâm. Bởi con người muốn tồn tại, trước hết phải dựa vào bản chất tự nhiên nhờ sự tiến hóa của thế giới vật chất, vì thế nó cũng chịu sự chi phối của tự nhiên đồng thời tác động lại tự nhiên nhờ những 11 phản ứng của cơ thể. Những phản ứng đáp lại đối với tự nhiên theo cách này hay cách khác có thể coi là ứng xử. Ứng xử là một từ ghép gồm hai từ “ửng” và “xử”.
Mà ứng và xử lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhau: ứng phó, ứng đáp, ứng đối, ứng biến và xử sự, xử lý, xử trí, xử thế, hành xử. Dưới những góc độ khác nhau thì có nhận định về ứng xử khác nhau, như dưới góc độ xã hội học, tâm lý học, sinh học cũng đều có những nhận định khác nhau về ứng xử. Tổng hòa tất cả các góc độ khác nhau về ứng xử ta có thể rút ra được những đặc điểm cơ bản về ứng xử: Ứng xử là những phản ứng của con người đáp lại đối với tự nhiên; là điều chủ thể cảm thấy nhận thấy, hiểu mình đang đứng trước tình huống nào để tổ chức hoạt động đáp trả lại tình huống đó. - Hay là: Trong ứng xử những suy nghĩ của chủ thể luôn được biểu hiện ra bên ngoài thông qua hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, sắc thái tình cảm.
mà đối tác và những người xung quanh có thể quan sát và nhận biết được - Ứng xử không diễn ra một cách tùy tiện mà thường tuân theo khuôn mẫu nhất định nào đó. - Ứng xử thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán. Sự lựa chọn đó có được dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh và yếu tố bên ngoài tác động vào con người.
Như vậy “ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ 12 động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tùy thuộc vào trí thức, kinh nghiệm và cả tính nhằm đạt được kết quả giao tiếp cao nhất. Khái niệm văn hóa ứng xử. Văn hóa ứng xử là hệ thống giá trị, chuẩn mực vật chất và tinh thần thể hiện chân, thiện, mỹ, sự nhận thức, khả năng vận dụng tri thức vào đời sống thực tiễn được cụ thể hóa thành hành vi, thái độ, cử chỉ, lời nói của cá nhân, tập thể phù hợp với môi trường, hoàn cảnh.
Văn hóa ứng xử có khả năng chi phối hành vi của con người, những tác động của ứng xử thể hiện qua nhiều cách thức, chủ yếu được nhìn nhận qua mối quan hệ giữa con người với con người thông qua tri thức và các giá trị văn hóa mà người đó tiếp nhận được trong giáo dục, do đó, vấn đề ứng xử được đặt ra như một nhu cầu của quá trình phát triển văn hóa nói riêng và phát triển xã hội nói chung. Hiện nay, hoạt động văn hóa mang tính chất quốc tế xuất hiện trong mọi hoạt động của xã hội từ giáo dục, sách báo, phim ảnh, truyền hình và là điều kiện để giao lưu, tiếp biến văn hóa. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số quan niệm về văn hóa ứng xử, văn hóa học đường, văn hóa ứng xử trong nhà trường. Do cách tiếp cận và quan niệm khác nhau nên có nhiều khái niệm về văn hóa ứng xử.
“Văn hóa ứng xử là thế ứng xử, là sự thể hiện triết lí sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ vi mô (gia đình) đến vĩ mô (nhân gian). Theo Đỗ Long“Văn hóa ứng xử là hệ thống thái độ và hành vi được xác định để xử lí các mối quan hệ giữa người với người trên các căn cứ pháp lí và đạo lí nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng, của xã hội”. Có thể hiểu ứng xử là “ cách sống, cách đối nhân xử thế, cách cư xử, thái độ và hành vi của cá nhân, của nhóm xã hội đối với một vấn đề một cá nhân hay một nhóm xã hội khác”. 13 Văn hóa ứng xử: Theo Trần Ngọc Thêm (1999), “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000), “Ứng xử là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự”. Theo Nguyễn Thị Thúy Dung (2020), “Văn hóa ứng xử là đặc trưng ứng xử của con người thể hiện qua thái độ, hành động, lời nói trong các mối quan hệ với tự nhiên, xã hội, bản thân; phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và thuần phong mĩ tục của dân tộc”. Như vậy đề cập tới ứng xử là đề cập đến “thái độ, hành động, lời nói trong tình huống nhất định, và hành vi được xem như là phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một người trong hoàn cảnh cụ thể”. Dù tiếp cận trên phương diện nào, văn hóa giao tiếp, ứng xử vẫn phản ánh những giá trị cốt lõi như: tính chuẩn mực, tính đạo đức, tính trí tuệ, tính thẩm mĩ trong đối xử với con người, trong các tình huống khác nhau của cuộc sống.
Trong những năm qua, sự du nhập của văn hóa phương Tây tác động đến nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa dân tộc bị biến đổi, đảo lộn, đặc biệt là một bộ phận không nhỏ thanh niên, sinh viên mất phương hướng trong việc định hình giá trị. Mỗi trường đại học, cao đẳng hiện nay như một xã hội thu nhỏ với nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp, nhiều tệ nạn như ma túy, cờ bạc, cá độ bóng đá, bạo lực học đường… đã len lỏi vào trong môi trường giáo dục. Không ít các chuẩn mực, giá trị, niềm tin văn hóa truyền thống của nhà trường đã bị thay đổi.