Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về xây dựng văn hóa ứng xử nói chung và trong trường học nói riêng 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Từ trước đến nay vấn đề văn hóa NT nói chung và VHƯX nói riêng được nhiều học giả nước ngoài quan tâm, nghiên cứu, tuy nhiên do điều kiện về ngôn ngữ nên nhiều nghiên cứu chưa được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam.
Một số tác phẩm tiêu biểu về văn hóa, trong đó có tác phẩm văn hóa công ty của Terrence Deal và Atlan Kennedy được xuất bản tại Mỹ năm 1982 đã làm cho thuật ngữ “văn hóa công ty” phổ biến rộng rãi và để lại dấu ấn sâu đậm trong công tác quản lý tổ chức nói chung. Dưới góc độ VHƯX, qua tác phẩm Ứng xử văn hóa: những ảnh hưởng tích cực và những vấn đề nảy sinh (Cultural behavior: genetic effects and related problems) xuất bản năm 1998. Swartz đã nghiên cứu một cách chi tiết về VHƯX, các cấp độ cũng như biểu hiện của VHƯX, sự hình thành và phát triển của văn hóa trong các loại hình tổ chức khác nhau. Swartz VHƯX bao gồm 3 cấp độ: Thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), Thứ hai: Hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused), Thứ ba: Những quan niệm chung (Basic underlying assumption).
Đến năm 2002, công cụ đánh giá VHƯX được tác giả Tyler Lacoma nghiên cứu và đưa ra thông qua tác phẩm Ứng xử văn hóa nơi công sở (Cultural Behavior in the Workplace). Công cụ này đánh giá chiều kích thước 7 của VHƯX, dựa trên bộ khung lý thuyết về việc các tổ chức vận hành như thế nào và văn hóa của tổ chức ấy đặt nền tảng trên những giá trị gì. Bộ công cụ này xác định cả VHƯX hiện hành lẫn VHƯX mà người ta mong muốn có được trong tương lai. Bộ khung lý thuyết này có thể được dùng như một cách để chẩn đoán và đề xuất những hướng thay đổi bước đầu VHƯX mà các tổ chức tạo ra trên bước đường phát triển của họ.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về VH NT hay VHƯX ở nước ngoài hết sức phong phú nhưng chưa thật sự thống nhất. Trong đó, việc xây dựng VHƯX có thể được tiếp cận theo nhiều phương tiện: xây dựng VH hợp tác, xây dựng năng lực VH trong NT, xây dựng bầu không khí NT, xây dựng VHƯX thân thiện trong NT. Tình hình nghiên cứu trong nước Trước hết, trong công trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm (1999). Trong công trình này, tác giả đã không trình bày khái niệm VHƯX, nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này.
Tác giả cho rằng các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu…) và môi trường xã hội (các quốc gia láng giềng). VHƯX với mỗi loại môi trường có hai hàm nghĩa là tận dụng và ứng phó. Có thể coi đó là thái độ ứng xử. Cách thức thể hiện thái độ này đó là giao lưu và tiếp biến văn hóa.[13] Tác giả Nguyễn Viết Chức với cuốn sách “ Những giá trị lịch sử văn hóa 1000 năm Thăng Long – Hà Nội”, NXB Chính trị Quốc gia năm 2002.
Công trình này đã xác định tương đối đầy đủ và “gồm cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác”. Nghĩa là, VHƯX theo các tác giả, gồm 3 chiều quan hệ: với thiên nhiên, xã hội và bản thân. VHƯX gắn liền với các thước đo mà xã hội dùng để ứng xử. Đó là các chuẩn mực xã hội.
[11] 8 Tác giả Phạm Minh Thảo với cuốn sách “Nghệ thuật ứng xử của người Việt”[3], nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 2003. Công trình đã nêu ra các đặc điểm riêng trong ứng xử của người Việt Nam. Tác giả đã phân tích được các bình diện ứng xử của người Việt như ứng xử cá nhân, gia đình, cộng đồng, ngoại giao, ứng xử truyền thống và hiện đại. Ngoài ra trong các tài liệu nghiên cứu còn có thể kể đến các tài liệu của các tác giả như: Lê Thị Bừng,“ Tâm lý học ứng xử”, NXB Giáo Dục, 2001, Nguyễn Thanh Tuấn(2008)“VHƯX Việt Nam hiện nay” 1.
Các nghiên cứu về quản lý xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học Xây dựng NT theo tiếp cận VHƯX: Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Thành Nghị, … tập trung vào phân tích những nội dung VHƯX và đưa ra một số giải pháp cho các NT phổ thông hiện nay ở Việt Nam ở các vấn đề như vai trò của người quản lý trong việc kiến thiết và phát triển môi trường văn hóa lành mạnh và hiệu quả; vai trò của VHƯX trong việc giúp NT đạt được mục tiêu trong thời kỳ hội nhập thông qua việc hình thành khả năng tư duy chiến lược của NT. Xây dựng NT theo tiếp cận hệ thống giá trị văn hóa của NT của tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đến việc xây dựng Văn hóa NT bằng giáo dục giá trị được thể hiện qua ba mặt của VHƯX: cơ sở vật chất, môi trường giáo dục và giao tiếp ứng xử. Xây dựng một hệ giá trị trong NT để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu đạo đức xã hội giá trị nhân cách hay chúng ta còn gọi là dạy người bên cạnh dạy chữ và dạy nghề. Xây dựng NT thông qua xây dựng văn hóa học đường theo quan niệm của tác giả Vũ Dũng thì văn hóa học đường được đánh giá qua mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong NT và môi trường sư phạm của NT.
Xây dựng NT theo mô hình văn hóa “ trường học thân thiện, HS tích 9 cực” của nhóm tác giả Phạm Văn Khanh, Lê Ngọc Việt…lại phân tích mô hình văn hóa học đường dưới góc độ của mô hình trường học thân thiện, HS tích cực do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Nhìn chung, những quan niệm, định nghĩa được các tác giả đưa ra còn chưa hệ thống và chưa đi sâu vào bản chất thực sự của VHƯX. Hiện nay cũng có một số cách hiểu về VHƯX trong vấn đề quản lý NT như sau: Một là, đồng nghĩa VHƯX với các hoạt động cơ bản, bề nổi như: nghe, nói, đọc, viết. Bề sâu của nó là ứng xử, là cách thức nhìn nhận, những quan điểm về cuộc sống, công việc và thời gian.
Hai là, coi VHƯX là sự đã rồi và không thể, không cách nào thay đổi. Ba là, coi VHƯX là sản phẩm từ bên ngoài và nếu muốn áp dụng thì NT chỉ cần áp dụng một mô hình nào đó được coi là thành công để đưa vào tổ chức của mình. Bốn là, hiện nay hầu hết các NT đều chưa có quy định về VHƯX và bây giờ đang phải xây dựng. Đây là một hạn chế trong quá trình phát triển của VHNT.
Vì trên quan điểm đúng đắn nhất quản lý NT, trên quan điểm tiếp cận văn hóa chính là việc xem VHƯX như là một công cụ để quản lý mà trong đó VHƯX như một “ cái cây” đã có sẵn ổn định lâu đời chỉ có điều nhà quản lý tiếp tục vun trồng “ cái cây” phát triển tốt hơn. Theo tác giả Lê Thị Ngọc Thúy thì lại nhấn mạnh đến các loại hình văn hóa trong NT như: văn hóa quản lý, văn hóa giảng dạy và văn hóa học tập trong NT tạo nên các thể hiện sinh động của VHƯX. Đồng thời đề xuất bộ tiêu chí đánh giá VHƯX và được xem như vừa là công cụ vừa là mục tiêu để NT hướng tới xây dựng tổ chức có văn hóa cao. Qua những nghiên cứu kể trên có thể thấy VHƯX là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý lãnh đạo của NT.
VHƯX có ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục của NT. Tuy nhiên, các nghiên cứu còn chung chung, 10 hoặc chỉ dừng lại ở một trường học cụ thể. VHƯX của nhiều trường THPT chưa có nghiên cứu đề cập đến nhiều. Vì vậy, việc xây dựng VHƯX cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm về văn hóa ứng xử trong trường học 1. Khái niệm ứng xử “Ứng xử” là từ ghép gồm “ứng” và “xử”. Trong đó “ứng” được hiểu là ứng đối, ứng phó; “xử” được hiểu là xử lý, xử thế, xử sự.
Theo nhà nghiên cứu Triệu Quốc Vinh: “Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng – tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất”. Văn hóa ứng xử Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Tuấn: “ VHƯX là hệ thống các khuôn mẫu ứng xử được thể hiện ở thái độ, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và bản thân, trên cơ sở những chuẩn mực văn hóa – xã hội nhất định, để bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng nhằm làm cho cuộc sống của cá nhân và cộng đồng giàu tính người hơn” [13]. Từ quan niệm về VHƯX trên, có thể thấy rằng đây là loại hình văn hóa hành động của con người trong mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và bản thân.
Nó góp phần thể hiện hành vi đạo đức, diện mạo nhân cách của cá nhân trong xã hội. VHƯX mang trong nó những giá trị đạo đức, thẩm mỹ phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là sự kết tinh giữa cái truyền thống và hiện đại, cái dân tộc và cái quốc tế. Nó mang tính chuẩn mực xã hội 11 cho nhiều thế hệ, trở thành một khuôn mẫu, quy ước chung về nếp sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc.
Tuy nhiên, VHƯX của mỗi cá nhân là khác nhau. Vì, nó được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội. Quản lý Quản lý là một trong vô số các hoạt động của con người, nhưng đó là một loại hình đặc biệt, là lao động siêu lao động, nghĩa là nó lấy các loại hình cụ thể làm đối tượng để tác động tới nhằm phối kết hợp chúng lại thành một hợp lực, từ đó tạo nên sức mạnh chung của một tổ chức.