phần mở đầu và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan và cơ sở lý luận về văn hóa tổ chức. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Đánh giá thực trạng công tác xây dựng văn hoá tổ chức tại Chi cục Thuế Quận Nam Từ Liêm.
Chƣơng 4: Một số giải pháp xây dựng văn hoá tổ chức tại Chi cục Thuế Quận Nam Từ Liêm. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA TỔ CHỨC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Văn hóa tổ chức là đề tài còn rất mới mẻ ở nƣớc ta. Ở Việt Nam từ trƣớc đến nay, vấn đề xây dựng văn hóa tổ chức nói chung còn chƣa đƣợc đề cập nhiều đến cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn.
Một số đề tài đã nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: - Đề tài khoa học cấp bộ của PGS. TS Nguyễn Thu Linh “Văn hóa tổ chức – Lý thuyết, thực trạng và giải pháp phát triển văn hóa tổ chức ở Việt Nam” (2004). Nghiên cứu đã chỉ ra một cách khái quát và đầy đủ về lý thuyết của văn hóa tổ chức, các yếu tố ảnh hƣởng đến việc hình thành văn hóa của một tổ chức. Đề tài đã đƣa ra một số nghiên cứu khảo sát văn hóa tổ chức theo hai loại: tổ chức hành chính và doanh nghiệp dựa trên cơ sở các thành tổ chính của văn hóa tổ chức.
Đề tài đƣa ra bài học kinh nghiệm xây dựng văn hóa tổ chức tại một số tổ chức thành công và đƣa ra một số giải pháp cơ bản để xây dựng văn hóa tổ chức tại Việt Nam. - “Văn hóa tổ chức Đại học quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới và hội nhập” (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh số 25/2009; trang 230-238) của Tiến sĩ Nguyễn Viết Lộc, Đại học quốc gia Hà Nội. Bài viết đã nhấn mạnh văn hóa tổ chức có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nên sự phát triển đột phá và bền vững cho tổ chức nhờ phát huy nguồn lực nội sinh và tìm kiếm, dung nạp các nguồn lực ngoại sinh. Bài viết đã khái quát đƣợc các đặc trƣng cơ bản của văn hóa tổ chức ĐHQGHN và đề xuất mô hình xây dựng văn hóa tổ chức ĐHQGHN dựa trên 11 bƣớc của hai tác giả Julie Heifetz & Richard Hagberg trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Xây dựng văn hóa tổ chức tại cơ quan Huyện ủy Hòa Vang” (2013) của tác giả: Bùi Nguyễn Xuân Anh. Tác giả thông qua thực trạng văn hóa tổ chức tại cơ quan đề xây dựng hệ thống các giải pháp xây dựng văn hóa tổ chức tại cơ quan Huyện ủy Hòa vang trong giai đoạn từ 2014 đến năm 2020. Trên thế giới khái niệm về văn hóa tổ chức đƣợc biết đến rộng rãi vào cuối năm 1980 và đầu những năm 1990. Tiêu biểu cho các nghiên cứu về văn hóa tổ chức là các tác giả nhƣ Edgar Schein, Hofstede, Andrew Brown.
Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo của Edgar Schein (1985, 1992, 2004) trình bày phƣơng pháp tiếp cận để có đƣợc những hiểu biết sâu sắc và toàn diện về văn hóa doanh nghiệp cùng với những hàm ý dành cho công tác lãnh đạo. Đối với những ngƣời lãnh đạo doanh nghiệp, việc kiểm soát đƣợc bầu không khí trong tổ chức là một yếu tố then chốt để có thể dẫn dắt đội ngũ của mình theo định hƣớng mong muốn. Một công cụ vô cùng hữu hiệu, nhất là đối với những ngƣời lãnh đạo, để đạt đƣợc mục đích nói trên là “văn hóa doanh nghiệp”. Văn hóa doanh nghiệp là những quan niệm và lối hành xử theo cách riêng của doanh nghiệp, “ở đây mọi ngƣời nghĩ và làm nhƣ vậy đó”.
Tác phẩm đƣợc Edgar Schein phân tích nghiên cứu và đúc kết từ những trải nghiệm thực tiễn của ông trong nhiều thập niên. Schein dùng nhiều doanh nghiệp của Hoa Kỳ và Tây Âu làm các tình huống minh họa. Lý thuyết văn hóa đa chiều của Hofstede, đề ra bởi nhà nhân chủng học ngƣời Hà Lan- Geert Hofstede, đƣợc coi là khuôn khổ cho sự giao tiếp đa quốc gia. Bằng việc phân tích nhân tố, mô hình Hofstede miêu tả sự ảnh hƣởng của văn hóa xã hội lên các thành viên trong xã hội và làm thế nào mà các giá trị này liên quan đến hành vi của họ.
Hofstede đã tiếp cận mô hình đầu tiên của mình nhƣ một kết quả phân tích nhân tố của bảng khảo sát nhân lực trên toàn thế giới cho IBM vào 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoảng giữa năm 1967 và 1973. Sau đó, kết quả này đã đƣợc phân tích và chắt lọc kỹ càng. Những lý thuyết ban đầu đã đƣa ra bốn khía cạnh cần phân tích của các giá trị văn hóa: chủ nghĩa cá nhân – chủ nghĩa tập thể (individualism – collectivism); mức độ e ngại rủi ro (uncertainty avoidance); khoảng cách quyền lực (power distance) và masculinity-femininity (định hƣớng công việc - định hƣớng cá nhân). Một nghiên cứu độc lập tại Hồng Kông đã giúp Hofstede hình thành khía cạnh thứ năm - định hƣớng dài hạn (long term orientation), nhằm bao quát các khái niệm chƣa đƣợc thảo luận trong mô hình ban đầu.
Năm 2010, Hofstede đƣa ra khía cạnh thứ sáu để so sánh sự tự thỏa mãn (các nhu cầu bản thân) so với sự tự kiềm chế của con ngƣời. Thành quả của Hofstede đã tạo ra một truyền thống nghiên cứu quan trong lĩnh vực tâm lý đa sắc tộc cũng nhƣ nhận đƣợc sự hỗ trợ và xác nhận từ các nhà nghiên cứu và tƣ vấn tại nhiều lĩnh vực liên quan đến kinh doanh và giao tiếp quốc tế. Lý thuyết của Hofstede cũng đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ làm mô hình cho nghiên cứu về tâm lý học đa sắc tộc, quản lý quốc tế và giao tiếp đa văn hóa. Đây cũng là nguồn tƣ liệu quan trọng và là nguồn cảm hứng trong các nghiên cứu về những khía cạnh văn hóa đa quốc gia nhƣ giá trị và niềm tin của xã hội.
Tác phẩm Văn hóa tổ chức của Andrew Brown (1988) chức mang đến một cái nhìn tổng quan của một chủ đề mà đang trở nên phổ biến một cách nhanh chóng với cả giới học thuật. Nó xem xét mối liên kết giữa văn hóa và các khái niệm về sự thay đổi tổ chức, quản lý nguồn nhân lực và các vấn đề về chiến lƣợc. Ngƣời đọc đƣợc đƣa ra một sự giới thiệu về nguồn gốc văn hóa tổ chức, với các ví dụ rút ra từ các tổ chức trong thực tế cuộc sống. Việc xây dựng trên các khái niệm cơ bản, vấn đề quan trọng trong việc nghiên cứu văn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa, chẳng hạn nhƣ các vấn đề về định nghĩa, sự phát triển của các nền văn hóa, văn hóa cấp dƣới và các nền văn hóa quốc gia, đƣợc kiểm tra một cách chi tiết.
Tất cả các khái niệm và quan điểm lý thuyết giải quyết đƣợc minh họa bằng những trƣờng hợp ví dụ cụ thể và phần cuối cùng kéo theo những khái niệm và phỏng đoán về xu hƣớng tƣơng lai trong văn hóa tổ chức. Những nghiên cứu trên đã mang lại những giá trị rất có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn và nghiên cứu khá đầy đủ về văn hóa tổ chức, vai trò của văn hóa tổ chức đối với sự trƣờng tồn và phát triển của tổ chức. Khái niệm về văn hóa và văn hóa tổ chức 1. Văn hóa và các đặc trƣng của văn hóa Văn hóa hiện diện trong mọi mặt của đời sống con ngƣời, ở đâu có con ngƣời, ở đó có văn hóa.
Theo Edward Bernett Tylor (1871) thì “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc ngƣời học, nói chung gồm có tri thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác đƣợc con ngƣời chiếm lĩnh với tƣ cách là thành viên của xã hội”. Văn hoá là một khái niệm đa nghĩa, nó thể hiện trong toàn bộ hoạt động của cuộc sống, mọi lĩnh vực của xã hội, của cộng đồng, của mỗi gia đình và của từng cá nhân. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá, nhƣng suy cho cùng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo Trần Ngọc Thêm (2000): “Văn hóa theo nghĩa hẹp đƣợc giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian.
Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa đƣợc hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật. Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh. Giới hạn theo không gian, văn hóa đƣợc dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ. Giới hạn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo thời gian, văn hóa đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hoà Bình, văn hóa Đông Sơn.” Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả các giá trị do loài ngƣời sáng tạo ra.
Hồ Chí Minh (1995, trang 431): “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo phát minh đó đều là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp mọi phƣơng thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những yêu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Nhƣ vậy, văn hóa là sản phẩm của con ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong mối quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội.
Và chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Các đặc trƣng của văn hóa: Văn hóa có một số đặc trƣng tiêu biểu sau (Dƣơng Thị Liễu, 2011): - Văn hóa mang tính tập quán: Văn hóa quy định những hành vi đƣợc chấp nhận hay không đƣợc chấp nhận trong một xã hội cụ thể.