Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng lãnh đạo xây dựng văn hóa ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Thanh Huyền thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2015 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Khang và PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 56 01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam bước vào giai đoạn lịch sử đặc thù: đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau. Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, giữ vai trò là căn cứ địa, hậu phương chiến lược; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trong bối cảnh đó, Đảng Lao động Việt Nam xác định văn hóa là một mặt trận quan trọng, giữ vai trò nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sản xuất và chiến đấu. Việc nghiên cứu có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng văn hóa ở miền Bắc giai đoạn 1954–1975 nhằm làm sáng tỏ những chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện, đồng thời đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm lịch sử phục vụ cho sự nghiệp phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Trình bày, làm rõ đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng văn hóa ở miền Bắc giai đoạn 1954–1975; trên cơ sở đó, nêu bật những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm lịch sử phục vụ hiện tại.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ cụ thể):
    1. Phân tích những yếu tố, điều kiện lịch sử ảnh hưởng, chi phối đến quá trình Đảng hoạch định và chỉ đạo xây dựng văn hóa trên miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975.
    2. Làm sáng tỏ những chủ trương, đường lối của Đảng trong xây dựng văn hóa những năm 1954–1975; đồng thời làm rõ những biện pháp, giải pháp của Đảng trong việc hiện thực hóa chủ trương, đường lối nói trên.
    3. Đánh giá những thành tựu, hạn chế, phân tích nguyên nhân hạn chế trong quan điểm, trong chỉ đạo, thực hiện xây dựng văn hóa trên miền Bắc của Đảng từ năm 1954 đến năm 1975; đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho hiện tại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lãnh đạo của Đảng về xây dựng nền văn hóa ở miền Bắc những năm 1954–1975 trên hai phương diện: đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện.
  • Phạm vi không gian: Miền Bắc Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1954 đến năm 1975 (tương ứng với phân kỳ lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước).
  • Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận văn hóa gắn với chức năng, ý nghĩa, vai trò của văn hóa; đồng thời kết hợp tiếp cận theo nghĩa hẹp, bao gồm: văn học – nghệ thuật, báo chí, xuất bản, giáo dục, khoa học – kỹ thuật, trong đó con người mới xã hội chủ nghĩa được đặt ở vị trí trung tâm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tiến hành phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo hai nhóm chủ đề chính:

1. Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa và xây dựng văn hóa Việt Nam

  • Nghiên cứu lý luận và bản sắc văn hóa: Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (2008); Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới (1994) và Bản sắc văn hóa Việt Nam (2001) của Phan Ngọc; Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại của Phạm Minh Hạc (Chương trình KX-07, 1996); Phác thảo chân dung văn hoá Việt Nam của tập thể tác giả (2000); Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc của Huy Cận (1994); Văn hoá xã hội chủ nghĩa do Trần Văn Bính chủ biên (1983); Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng do Đỗ Đình Hãng chủ biên (2007); các bài báo khoa học của Trần Ngọc Miêu (2004) trên Tạp chí Cộng sản và Trần Thúy Anh (2007) trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật.
  • Nghiên cứu về tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh: Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh (2000) và Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền văn hoá mới ở Việt Nam (2000) của Đỗ Huy; Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam của Lê Quý Đức (2001); luận án Phó tiến sĩ của Bùi Đình Phong (1993) về Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam (1945-1954); công trình Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc của Song Thành (2005).

2. Nhóm các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng văn hóa

  • Các công trình lịch sử, tổng kết chiến tranh và công tác tư tưởng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 3 (1954-1975) của Học viện Nguyễn Ái Quốc (1988); Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Viện Sử học (1985); Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995); 70 năm công tác Tư tưởng - Văn hoá của Đảng (1930-2000) (2000), Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-2000 (Dự thảo) (2000) và Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1955-1975) (2005) của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về văn nghệ, giáo dục và vai trò của Đảng: Bài viết của Nông Quốc Chấn trên Tạp chí Học tập (1966); Vì một nền văn nghệ mới – Việt Nam của Xuân Trường (1971); Tìm hiểu đường lối văn nghệ của Đảng và sự phát triển của văn học cách mạng Việt Nam của Hoàng Xuân Nhị (1975); Đường lối văn nghệ của Đảng – vũ khí, trí tuệ, ánh sáng của Hà Xuân Trường (1977); Văn nghệ cách mạng và cách mạng không ngừng của Hồng Chương (1984); Phấn đấu sáng tạo theo đường lối văn nghệ của Đảng do Hoàng Trinh chủ biên (1986); Góp phần tìm hiểu tư tưởng cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của văn hoá trong sự phát triển xã hội của Hoàng Thị Hạnh (2005); Tìm hiểu đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam do Đỗ Đình Hãng chủ biên (2007); luận án tiến sĩ của Nguyễn Danh Tiên (2008) và Ngô Văn Hà (2009).
  • Nghiên cứu của tác giả nước ngoài: Cuốn Essays on Literature and Society in Southeast Asia: Political and sociological perspectives do Tham Seong Chee biên soạn (1981, có bài nghiên cứu của Nguyen Tran Huan về văn học Việt Nam 1954–1973); cuốn Renovating Politics in Contemporary Vietnam của Zachary Abuza (2001).
Nhóm tài liệu Đại diện công trình tiêu biểu Nội dung chính được trích xuất
Lý luận & Bản sắc văn hóa Trần Ngọc Thêm (2008), Phan Ngọc (1994, 2001), Phạm Minh Hạc (1996), Huy Cận (1994), Trần Văn Bính (1983) Làm rõ khái niệm, quy luật phát triển, cấu trúc nền tảng tinh thần, bản sắc văn hóa dân tộc và tính chất của văn hóa XHCN.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đỗ Huy (2000), Lê Quý Đức (2001), Bùi Đình Phong (1993), Song Thành (2005) Khái quát hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa cứu quốc, giáo dục lại tinh thần nhân dân, văn hóa nghệ thuật là một mặt trận.
Lịch sử Đảng và Công tác Tư tưởng - Văn hóa Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2000, 2005), Học viện Nguyễn Ái Quốc (1988), Hoàng Thị Hạnh (2005), Đỗ Đình Hãng (2007) Biên niên và phân tích chủ trương, đường lối công tác tư tưởng - văn hóa qua các thời kỳ lịch sử cách mạng.
Đường lối Văn nghệ & Giáo dục Xuân Trường (1971), Hoàng Xuân Nhị (1975), Hà Xuân Trường (1977), Hoàng Trinh (1986), Ngô Văn Hà (2009) Làm rõ mối quan hệ giữa văn nghệ và cách mạng, tính đảng, tính nhân dân, phương pháp hiện thực XHCN và sự phát triển giáo dục.
Học giả quốc tế Tham Seong Chee / Nguyen Tran Huan (1981), Zachary Abuza (2001) Tiếp cận tiến trình văn học, vai trò của giới trí thức văn nghệ sĩ và các sự kiện tư tưởng từ góc nhìn bên ngoài.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Thiếu các công trình nghiên cứu hệ thống về quan điểm, chủ trương của Đảng đối với xây dựng văn hóa ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 gắn với việc lý giải các yếu tố lịch sử chi phối.
  2. Chưa có công trình phân tích toàn diện, chuyên sâu về các biện pháp, giải pháp tổ chức bộ máy và chỉ đạo thực hiện trên các lĩnh vực cụ thể của văn hóa trong giai đoạn 1954–1975.
  3. Các nghiên cứu trước đây phần lớn tập trung mô tả thành tựu, chưa đi sâu phân tích toàn diện những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân trong quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng.
  4. Cần khai thác có hệ thống các nguồn tư liệu lưu trữ Đảng, Nhà nước và tư liệu thống kê mới được tiếp cận để tái hiện bức tranh lịch sử khách quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, coi văn hóa là một dạng hoạt động của con người, các thành tố văn hóa thuộc về hình thái ý thức xã hội và bị quy định bởi tồn tại xã hội. Đồng thời, tác giả cập nhật quan điểm xem văn hóa là một cấu trúc phức hợp nằm ở chiều sâu của đời sống xã hội, vừa là sản phẩm vừa là nền tảng quy định sự phát triển kinh tế – xã hội.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tài liệu kinh điển: Các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh về văn hóa và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội.
  • Tài liệu lưu trữ gốc: Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, sắc lệnh của Đảng, Chính phủ, các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia và Cục Lưu trữ – Văn phòng Trung ương Đảng.
  • Tài liệu nghiên cứu chuyên ngành: Các công trình khoa học đã công bố của Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Sử học; các tư liệu, hồi ký của các nhân chứng lịch sử và nhà hoạt động văn hóa.
  • Tài liệu thống kê: Dữ liệu thống kê lịch sử của Tổng cục Thống kê.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành lịch sử và liên ngành khoa học xã hội:

  • Phương pháp lịch sử và logic: Dựng lại tiến trình lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng văn hóa theo trình tự thời gian và làm sáng tỏ bản chất các quy luật vận động nội tại.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê và so sánh: Xử lý các nguồn tư liệu văn kiện, số liệu thực tế nhằm đánh giá thành tựu, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân.
  • Phương pháp hệ thống hóa: Tổng hợp các nhóm vấn đề để đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm 4 chương, 8 tiết:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương này dành toàn bộ dung lượng để khảo sát, phân tích các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về văn hóa, tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, lịch sử công tác tư tưởng – văn hóa của Đảng; xác định những thành tựu đạt được và chỉ rõ 4 khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng văn hóa ở miền Bắc của Đảng giai đoạn 1954 – 1964

  • Bối cảnh lịch sử và các yếu tố tác động: Miền Bắc sau năm 1954 tiếp quản từ chế độ thực dân một nền kinh tế kiệt quệ: 1/7 ruộng đất bị bỏ hoang, 1/3 ruộng đất không có nước tưới, 1/4 số trâu bò bị bắn giết; công nghiệp nhỏ bé, giao thông bị tàn phá, nạn đói đe dọa; hơn 95% dân số mù chữ và tàn dư văn hóa cũ nặng nề. Quá trình thực hiện cải cách ruộng đất hoàn thành vào tháng 7-1956 nhưng mắc phải những sai lầm nghiêm trọng kéo dài, đòi hỏi Đảng phải kiên quyết sửa sai và ổn định tình hình tư tưởng – chính trị.
  • Chủ trương của Đảng: Kế thừa Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) và Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) của Trường Chinh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960), Đảng xác định tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng tư tưởng và văn hóa là bộ phận khăng khít của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu là xây dựng nền văn nghệ mới có tính chất dân tộc và nội dung xã hội chủ nghĩa phong phú, lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp sáng tác. Các văn kiện quan trọng gồm: Nghị quyết số 93-NQ/TW (12-1959) về công tác bổ túc văn hóa; Chỉ thị số 08-CT/TW (3-1-1961) về tăng cường công tác văn hóa trong quần chúng; Nghị quyết số 5-NQ/TW (19-1-1961) và Nghị quyết số 48-NQ/TW (27-2-1962) về công tác báo chí; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (3-1963).
  • Chỉ đạo kiện toàn tổ chức bộ máy và thiết chế văn hóa:
    • Bộ máy Đảng: Kiện toàn Ban Tuyên huấn Trung ương (Nghị quyết 51-NQ/TW năm 1954, Quyết định 28-QĐ/TW năm 1955, Quyết định 001-NQ/TW năm 1956) do Trường Chinh làm Trưởng ban; thành lập Tiểu ban Văn nghệ Trung ương và Tiểu ban Khoa học Giáo dục Trung ương năm 1957 (Hà Huy Giáp làm Trưởng tiểu ban); hợp nhất thành Ban Văn giáo Trung ương năm 1958 (Nghị quyết 50-NQ/TW); cuối cùng hợp nhất thành Ban Tuyên giáo Trung ương vào tháng 12-1959 (Quyết định 91-QĐ/TW) do Trường Chinh làm Trưởng ban cùng 5 Phó Trưởng ban (Tố Hữu, Hà Huy Giáp, Nguyễn Chương, Trần Tôn, Trần Quang Huy).
    • Bộ máy Nhà nước: Đổi tên Bộ Tuyên truyền thành Bộ Văn hóa (9-1955) do Giáo sư Hoàng Minh Giám làm Bộ trưởng, nhà thơ Tố Hữu làm Thứ trưởng; thành lập Vụ Văn hóa đại chúng (1956), Vụ Bảo tồn Bảo tàng (1959); Chủ tịch nước ký Sắc lệnh 016-SL (4-3-1959) thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước; thành lập Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Múa, Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ; mở Trường Đại học Nhân dân Việt Nam (11-1954).
    • Thiết chế văn hóa: Xây dựng mô hình Nhà văn hóa nông thôn tại An Bồi (Thái Bình) năm 1956; ban hành Chỉ thị 45/TTg (9-4-1962); ban hành các văn bản bảo vệ di tích (Thông tư 38-TT/TW ngày 28-6-1956, Thông tư 954-TTg ngày 3-7-1956, Nghị định 519-TTg ngày 29-10-1957). Khánh thành hàng loạt bảo tàng lớn năm 1959: Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (6-1-1959), Bảo tàng Hải Phòng (20-9-1959), Bảo tàng Quân đội (22-12-1959).

Chương 3: Sự lãnh đạo xây dựng văn hóa ở miền Bắc của Đảng giai đoạn 1965 – 1975

  • Bối cảnh và chuyển hướng chủ trương: Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, Đảng kịp thời chuyển hướng hoạt động văn hóa từ thời bình sang thời chiến. Văn hóa, văn nghệ được tổ chức phân tán, bám sát các trọng điểm chiến đấu và sản xuất.
  • Chỉ đạo thực hiện: Kiện toàn bộ máy quản lý phù hợp với điều kiện chiến tranh; phát triển mạng lưới thông tin, báo chí, phát thanh, đội chiếu bóng lưu động, văn nghệ xung kích; đẩy mạnh phong trào "Tiếng hát át tiếng bom"; duy trì và mở rộng hệ thống trường học phổ thông, đại học sơ tán; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học – kỹ thuật phục vụ quốc phòng và đời sống; giáo dục ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, xây dựng đạo đức và nếp sống mới thời chiến gắn với tinh thần "Tất cả vì miền Nam ruột thịt".

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

  • Đánh giá tổng quát: Luận án phân tích những thành tựu trong việc biến văn hóa thành động lực tinh thần to lớn, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng hệ thống giáo dục, văn nghệ cách mạng; đồng thời chỉ rõ những hạn chế như: nhận thức về văn hóa đôi lúc còn đơn giản, cứng nhắc, mang nặng tính hành chính hóa; việc xử lý mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ có lúc còn gượng ép.
  • Bốn bài học kinh nghiệm lịch sử:
    1. Xây dựng văn hóa phải gắn với bảo tồn, kế thừa, tiếp thu các giá trị văn hóa truyền thống.
    2. Xây dựng văn hóa phải đặt trong quan hệ gắn bó chặt chẽ với xây dựng các lĩnh vực then chốt của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị).
    3. Xây dựng văn hóa phải luôn gắn với khơi dậy và phát huy sức mạnh dân tộc.
    4. Đặt con người ở vị trí trung tâm trong các chủ trương, biện pháp xây dựng văn hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp khoa học của luận án

  1. Về mặt tư liệu và hệ thống hóa: Luận án đã hệ thống hóa và phân tích đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng văn hóa ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 gắn liền với việc thực hiện các chức năng cơ bản của văn hóa nhằm phục vụ mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
  2. Về mặt nội dung thực tiễn: Làm rõ các biện pháp, giải pháp của Đảng đối với xây dựng văn hóa miền Bắc đặt trong mối quan hệ với hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, biến miền Bắc thành "nền", thành "gốc" vững chắc cho công cuộc giải phóng miền Nam và hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước.
  3. Về mặt đúc kết lịch sử: Đúc rút 4 bài học kinh nghiệm có giá trị lịch sử và thực tiễn sâu sắc, phản ánh tính đặc thù của một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp giữa hòa bình và chiến tranh.
  4. Giá trị ứng dụng: Cung cấp tài liệu nghiên cứu chuyên khảo và phục vụ công tác giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử văn hóa Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở miền Bắc trong giai đoạn 1954–1975 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng; do tính chất nguồn tài liệu thời chiến và dung lượng đề tài, các khía cạnh về đời sống văn hóa vi mô, tâm lý học văn hóa và sinh hoạt văn hóa dân gian ở các vùng đặc thù chưa được mở rộng nghiên cứu sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh, đối chiếu giữa đời sống văn hóa hai miền Nam – Bắc giai đoạn 1954–1975; khai thác thêm các nguồn tư liệu lưu trữ địa phương và tài liệu nước ngoài mới được giải mật để nghiên cứu sâu hơn về tiếp biến văn hóa và sự giao lưu văn hóa quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ này.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh: Cung cấp một hệ thống tư liệu văn kiện phong phú, chính xác về các chỉ thị, nghị quyết, thông tư của Đảng và Chính phủ về văn hóa từ năm 1954 đến năm 1975.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Văn hóa Việt Nam, Đường lối Văn hóa của Đảng tại các trường đại học và học viện.
  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn và 4 bài học kinh nghiệm về việc xây dựng bộ máy quản lý, phát triển thiết chế văn hóa cơ sở và đặt con người ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển văn hóa hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm "văn hóa" theo phạm vi nào?

Luận án tiếp cận văn hóa kết hợp giữa góc độ chức năng, ý nghĩa xã hội và phạm vi nghĩa hẹp, tập trung vào các lĩnh vực: văn học – nghệ thuật, báo chí, xuất bản, giáo dục, khoa học – kỹ thuật, trong đó con người mới xã hội chủ nghĩa giữ vị trí trung tâm.

2. Bộ máy chỉ đạo công tác văn hóa của Đảng ở Trung ương giai đoạn 1954–1964 đã biến chuyển như thế nào?

Giai đoạn 1954–1956, Ban Tuyên huấn Trung ương được kiện toàn (Trường Chinh làm Trưởng ban). Năm 1957 thành lập Tiểu ban Văn nghệ và Tiểu ban Khoa học Giáo dục Trung ương. Năm 1958 thành lập Ban Văn giáo Trung ương (Nghị quyết 50-NQ/TW). Tháng 12-1959, hợp nhất thành Ban Tuyên giáo Trung ương (Quyết định 91-QĐ/TW) do Trường Chinh làm Trưởng ban.

3. Phương châm và định hướng xây dựng nền văn nghệ mới theo Nghị quyết Đại hội III (1960) của Đảng là gì?

Đảng chủ trương xây dựng một nền văn nghệ mới có tính chất dân tộc và nội dung xã hội chủ nghĩa phong phú, lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp sáng tác, gắn bó chặt chẽ với đời sống của công, nông, binh đang đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội và thống nhất Tổ quốc.

4. Những thiết chế bảo tàng nào được Đảng và Nhà nước chỉ đạo thành lập năm 1959?

Năm 1959, nhân kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, ba bảo tàng lớn đã được khánh thành và đưa vào hoạt động: Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (6-1-1959), Bảo tàng Hải Phòng (20-9-1959) và Bảo tàng Quân đội (22-12-1959).

5. Bốn bài học kinh nghiệm lớn được luận án đúc kết ở Chương 4 là gì?

Bốn bài học kinh nghiệm gồm: (1) Gắn xây dựng văn hóa với bảo tồn, kế thừa giá trị truyền thống; (2) Đặt xây dựng văn hóa trong quan hệ mật thiết với các lĩnh vực kinh tế, chính trị; (3) Gắn văn hóa với khơi dậy và phát huy sức mạnh dân tộc; (4) Đặt con người ở vị trí trung tâm trong các chủ trương và giải pháp xây dựng văn hóa.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Thị Thanh Huyền là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, tái hiện có hệ thống quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng văn hóa ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954–1975. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ xác thực và phương pháp luận duy vật lịch sử, tác giả đã làm rõ các đường lối, chủ trương, sự chuyển biến của bộ máy tổ chức và việc chỉ đạo thực tiễn trên các mặt trận văn hóa, văn nghệ, giáo dục, khoa học. Công trình đã phân tích khách quan các thành tựu, hạn chế và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm lịch sử sâu sắc, có giá trị khoa học và thực tiễn phục vụ sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.