Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ VÀ TỔNG QUAN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NGHI SƠN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Văn hóa Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người.
Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm. Trong sách Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: “Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ” (Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ) [27, tr17]. Cụm từ này với nghĩa như một phương thức giáo hóa, giáo dục con người. Khổng Tử, nhà triết học - luân lý có nói đến “văn”, sau này môn đệ của ông là Tuân Tử (Thế kỷ VI trước CN) có giải thích “văn” là cái “ngụy” (cái do con người làm nên, không tự nhiên mà có).
Tuân Tử, học trò của Khổng Tử có một thuyết thường biết đến là “tính người là ác; thiện là do người làm ra” (Tuân Tử, thiên 23). Theo ông: “Tính là tài chất còn nguyên; ngụy là văn lễ hay tốt. Không tính thì không có gì để làm thêm. Không làm thêm, thì tính không thể tự thành tốt” (thiên 19) [3, tr.
Như vậy Không Tử và Tuân Tử đều cho rằng văn là cái do con người làm ra, do con người tu dưỡng, rèn luyện mà có. Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ một động từ tiếng La - tinh “cultus” sau chuyển thành “kultura”, có nghĩa là cày cấy, vun trồng. Về sau từ “kultura” chuyển thành “culture” (tiếng Anh), nghĩa là vun trồng, chăm sóc, bồi dưỡng tinh thần, trí tuệ cho con người.18] Tóm lại, văn hoá trong từ ngữ của cả phương Đông và phương Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, giáo dục nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống hướng đến những điều tốt đẹp hơn. 15 Về khái niệm văn hóa, cho đến nay, tuy chưa thống kê chính xác nhưng người ta ước có hàng ngàn khía niệm, định nghĩa về văn hoá.
Chính vì vậy, rất khó tìm ra một định nghĩa nào được coi là chuẩn về văn hóa. Người ta chỉ có thể xếp hay chia các định nghĩa về văn hóa theo các nhóm và quy cách hiểu về văn hóa theo 2 góc độ rộng và hẹp. Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo bề sâu hoặc bề rộng, theo không gian, thời gian hoặc chủ thể bao gồm văn hoá nghệ thuật, văn hoá ẩm thực, văn hóa kinh doanh, trình độ văn hoá, nếp sống văn hoá; văn hoá Nam Bộ, văn hoá Phương Đông; văn hoá Việt Nam, văn hoá đại chúng… Theo nghĩa rộng: Văn hoá là một tổng thể phức tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen, tập quán mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội. Cách hiểu này chủ yếu đề cập đến văn hóa ở góc độ các giá trị tinh thần.
Trên cơ sở tiếp cận theo nghĩa rộng, UNESCO định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ, hiện tại.Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [27, tr.18] Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử [9, tr. Định nghĩa này khẳng định văn hoá là những sáng tạo của con người, mang lại giá trị cho con người, trong đó bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Như vậy, văn hóa là toàn bộ các giá trị sáng tạo của con người được thể hiện, được kết tinh trong các sản phẩm tinh thần và của cải vật chất do con người tạo ra trong lịch sử. Hiện tại trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tôi xin lấy định nghĩa về văn hóa theo sách từ điển tiếng Việt để làm căn cứ nền tảng cho hướng nghiên cứu của luận văn.
Quan niệm về công sở Theo tôi công sở là một tổ chức hoạt động xã hội của con người (khác với các tổ chức tự nhiên), được hình thành và phát triển cùng với theo sự vận hành của kinh tế của từng thời kỳ xã hội nhất định. Theo từ Hán - Việt thì: công là chung, sở là cơ quan; công sở là nơi hay chỗ làm việc của các cơ quan công quyền. Tuy nhiên cũng có rất nhiều khái niệm để định nghĩa về công sở tuỳ vào thuật ngữ này được sử dụng để chỉ khía cạnh nào: vật chất, địa điểm hoạt động, hay còn gọi là trụ sở, nơi công vụ được tiến hành hoặc dịch vụ công được cung cấp; hay một số trường hợp thuật ngữ này được sử dụng thay thế cho thuật ngữ khác quen dùng là cơ quan hành chính nhà nước. Từ góc độ tiếp cận văn hóa công sở, có thể khái niệm: Công sở là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hoặc tổ chức công ích được Nhà nước công nhận, bao gồm cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế công chức hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước.
Công sở có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức do pháp luật quy định, được sử dụng công quyền để tổ chức công việc Nhà nước hoặc dịch vụ công vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng. Ở đây có thể thấy về mặt nội dung công việc, hoạt động của công sở nhằm thỏa mãn các lợi ích chung của cộng đồng; về mặt hình thức tổ chức thì công sở là một tập hợp cơ cấu tổ chức, có phương tiện vật chất và con người được Nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình; về ý nghĩa tổ chức nhà nước thì có thể coi công sở là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước, do Nhà nước lập ra và có thẩm quyền giải quyết công vụ. Vậy từ phân tích trên có thể hiểu: Công sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi phối hợp thực hiện một nhiệm vụ được Nhà nước giao và là bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước. 17 Như vậy, từ những định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu về công sở như sau: Công sở là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hoặc là các tổ chức mang tính chất công ích được nhà nước công nhận thành lập chịu sự điều chỉnh của luật hành chính và các luật khác, bao gồm các cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế công chức hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước.
Công sở là các tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính; là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho bộ máy quản lý nhà nước, là nơi phối hợp hoạt động của các thành viên và bộ phận trong tổ chức theo một cơ chế nhất định hợp pháp và thực hiện nhiệm vụ được giao; là nơi tiếp nhận đề nghị,yêu cầu, khiếu nại của dân. Do đó, công sở là một bộ phận quan trọng hợp thành của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước. Văn hóa công sở “Văn hóa công sở” là cụm từ khá quen thuộc trong cuộc sống hiện nay trong các phương tiện truyền thông, văn bản quản lý nhà nước,. Tùy theo mục đích sử dụng mà hiện nay có nhiều định nghĩa về văn hóa công sở cả về mặt học thuật cũng như thực tế giao tiếp.
Tuy nhiên, có thể hiểu một cách “nôm na” rằng, VHCS chính là văn hóa trong môi trường làm việc nơi công sở. Dựa trên những cơ sở lý luận trên, ta có thể chọn ra một vài định nghĩa tiêu biểu về văn hóa công sở: Theo nghĩa rộng, VHCS là tổng thể các giá trị tài sản tinh thần và vật chất ở nơi công sở. Theo nghĩa này thì PGS.TS Vũ Thị Phụng đã đưa ra quan niệm như sau: “VHCS là tổng hoà những giá trị hữu hình và vô hình, bao gồm trình độ nhận thức, phương pháp tổ chức, quản lí, môi trường - cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao” [29, tr 11] 18 Tác giả Trần Hoàng đưa ra quan niệm về văn hóa công sở như sau: “Văn hóa công sở được hiểu là những quy tắc, các chuẩn mực ứng xử của cán bộ, công chức nhà nước với nhau và với đối tượng giao tiếp là công dân, nhằm phát huy tối đa năng lực của những người tham gia giao tiếp để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc tại công sở.”[11, tr10] Xét từ khía cạnh “công sở bắt nguồn từ tổ chức” thì có rất nhiều học giả cho rằng VHCS là văn hóa tổ chức trong một công sở cụ thể. Văn hoá công sở ảnh hưởng đến các thành viên trong công sở một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Thông qua các quy định chính thức như quy chế làm việc, văn hoá là công cụ để các nhà quản lý hướng cách thức hành vi của đội ngũ theo những kiểu nhất định. Đồng thời, văn hoá còn hiện diện và ảnh hưởng đến nếp nghĩ, nếp làm của cán bộ, công chức thông qua hệ thống các quy tắc xử sự mang tính thông lệ, không chính thức, không thành văn, nhưng đôi khi có tính lâu bền và sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn bất cứ công cụ chính thức nào. Văn hoá công sở như một môi trường văn hoá đặc thù với những giá trị chuẩn mực văn hoá chi phối mọi hoạt động, các quan hệ trong nội bộ công sở cũng như đối với công dân với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước hay một cơ quan sự nghiệp, dịch vụ công. Vấn đề VHCS nảy sinh từ vai trò của công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành chính mà nó là một bộ phận cấu thành.