Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan Đài PT - TH Thanh Hóa. Chương 2: Thực trạng VHCS tại Đài PT - TH Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng VHCS ở Đài PT - TH Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH THANH HÓA 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Văn hóa Văn hóa hầu như xuất hiện trong mọi khía cạnh của đời sống, như văn hóa ăn mặc, văn hóa ứng xử, giao tiếp, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật, văn chương…và nhiều lĩnh vực nghiên cứu, từ dân tộc học, văn hóa học, xã hội học cho đến kinh tế học, kiến trúc, xây dựng… và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Chính vì vậy, định nghĩa về văn hóa cũng rất phong phú và đa dạng. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Mỗi một định nghĩa lại mang các nội hàm, phản ánh sự nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học người Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohm đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Theo ông Federico Mayor Zaragoza, nguyên Tổng giám đốc UNESCO trong bài báo cáo nhan đề Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa đăng trong tạp chí thông tin UNESCO (tháng 11 - 1998) thì văn hóa được định nghĩa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”[68, tr.23] Ở thế giới là vậy.
Ở Việt Nam, văn hóa cũng là thuật ngữ có nhiều định nghĩa và quan niệm chung. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống; theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn; trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống. 11 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn” [35, tr.431] Với những ý nghĩa đó, văn hóa có mặt ở mọi nơi, ở mọi hoạt động vật chất và tinh thần của con người. Có thể nói văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy, bảo tồn, duy trì và phát triển theo dòng lịch sử phát triển của nhân loại.
Công sở Khái niệm công sở có nhiều được nhìn nhận ở nhiều góc độ. Theo quan điểm truyền thống, công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước để tiến hành công việc chuyên ngành của Nhà nước. Về nhiệm vụ, các hoạt động của công sở là nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, và cần được sự bảo vệ và kiểm tra của Nhà nước. Về hình thức tổ chức, công sở bao gồm cơ cấu tổ chức, phương tiện vật chất và con người được Nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình.
Hình thức tổ chức của công sở do Nhà nước quy định và lệ thuộc vào phương thức điều hành của bộ máy Nhà nước. Về ý nghĩa tổ chức Nhà nước: công sở là trụ sở làm việc của cơ quan Nhà nước, do Nhà nước lập ra và để giải quyết công vụ. Từ những góc độ trên ta có thể đưa ra định nghĩa tổng quát về công sở: công sở là các tổ chức mang tính chất công ích được Nhà nước công nhận thành lập, chịu sự điều chỉnh của luật hành chính và các luật khác. Đây là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho bộ máy quản lý Nhà nước, là nơi phối hợp hoạt động và thực hiện nhiệm vụ được Nhà nước giao cho.
Là nơi tiếp nhận khiếu nại của dân. 12 Đặc điểm của công sở: Công sở được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Chẳng hạn, nếu dựa theo nội dung hoạt động và thính chất công việc, ta có thể xếp thành công sở hành chính, công sở sự nghiệp. Nếu căn cứ vào phạm vi hoạt động của công sở, ta có thể phân loại thành công sở trung ương, công sở địa phương.
Nhưng dù được phân loại như thế nào thì công sở nói chung cũng đều có những đặc điểm chủ yếu sau đây: - Là một pháp nhân - Là cơ sở để đảm bảo công vụ - Có quy chế hoạt động rõ ràng để thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước quy định Nhiệm vụ của công sở: - Tham mưu trong hoạt động chính sách, xây dựng pháp luật, các quy chế, quy định của cơ quan, tổ chức Nhà nước có thẩm quyền - Tổ chức việc giao tiếp với dân, với các cơ quan trong bộ máy Nhà nước và các tổ chức xã hội, làm đại diện cho Nhà nước để thực thi công vụ. - Tổ chức phối hợp công việc và công tác thông tin trong cơ quan và giữa cơ quan với cơ quan khác. - Quản lý công vụ theo pháp luật - Kiểm tra, theo dõi công việc của CBCCVC thuộc cơ quan theo cơ chế chung và quy chế khác do cơ quan đơn vị ban hành dựa trên các quy định chung của Nhà nước. - Quản lý tài sản của cơ quan để sử dụng vào mục đích chung, quản lý ngân sách.
Nói tóm lại, nhiệm vụ chung của công sở đó là: công sở là nơi phục vụ nhân dân, giải quyết các công việc của nhân dân, là hình ảnh nhìn thấy được của chính quyền Nhà nước trong quy trình hoạt động của mình. 13 Ngoài ra, công sở còn tồn tại như một hiện tượng văn hóa, đồng thời là một chủ thể văn hóa gắn liền với các yếu tố tổ chức quyền lực và tâm lý, tình cảm của con người. Văn hóa công sở Cũng giống như các loại hình văn hóa khác, VHCS là những hành vi và quy ước mà mọi người dựa vào đó, xem đó là quy chuẩn để điều chỉnh các mối quan hệ của mình với người khác. VHCS còn là một hệ thống được hình thành thông qua quá trình hoạt động của công sở, được hình thành dựa trên nhận thức và thái độ làm việc của CBVC-LĐ, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp làm việc và hiệu quả công việc.
Với quan điểm trên, VHCS bao gồm những quy định chính thức ghi thành văn bản pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị đã được thống nhất ban hành, ngoài ra còn có những quy định bất thành văn mà chúng ta rút ra thông qua kinh nghiệm trong cuộc sống. VHCS thể hiện qua trang phục khi đi làm có phù hợp với môi trường àm việc, đối tượng giao tiếp và tính chất công việc hay không. VHCS còn thể hiện qua tác phong làm việc, cách giao tiếp, ứng xử với người đối diện, qua khả năng thích ứng với công việc để có thể xử lý được bất cứ tình huống nào một cách hợp lý đạt hiệu quả cao trong công việc. VHCS cũng thể hiện qua niềm tự hào và ý thức bảo vệ thương hiệu của chính cơ quan, đơn vị mình.
Người làm việc trong công sở cũng cần hiểu rõ rằng, công sở là nơi tập trung nhiều đối tượng với tuổi đời khác nhau, giới tính khác nhau, trình độ khác nhau, tính cách khác nhau và nhận thức cũng có sự khác biệt. Thời gian làm việc tại công sở và tiếp xúc với đồng nghiệp đôi khi còn nhiều hơn với người thân trong gia đình. Chính vì vậy, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, sống hòa đồng với mọi người tại nơi làm việc rất quan trọng để tạo hòa khí và môi trường làm việc tích cực, hiệu quả cao. Người làm việc trong công sở 14 cũng cần có tinh thần giúp đỡ đồng nghiệp và tiếp thu những ý kiến có tính xây dựng của đồng nghiệp với thái độ cầu thị để ngày càng hoàn thiện bản thân.
Một CBVC-LĐ tốt trước hết phải là đồng nghiệp tốt, biết giữ chữ tín, biết tôn trọng người khác, biết lắng nghe và thấu hiểu.TS Vũ Thị Phụng (Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng) trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã đưa ra định nghĩa về VHCS như sau: “VHCS là tổng hoà những giá trị hữu hình và vô hình, bao gồm trình độ nhận thức, phương pháp tổ chức, quản lí, môi trường - cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao”[42, tr. VHCS còn được cho là đồng nghĩa với văn hóa giao tiếp, ứng xử trong công sở: “Văn hóa công sở được hiểu là những quy tắc, các chuẩn mực ứng xử của cán bộ công chức nhà nước với nhau và với đối tượng giao tiếp là các công dân, nhằm phát huy tối đa năng lực của những người tham gia giao tiếp để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc công sở” [36, tr. Như vậy, cả hai định nghĩa đều có điểm chung đó là những giá trị quy định cách giao tiếp, ứng xử của con người trong trong công sở. Xây dựng văn hóa công sở VHCS được hình thành thông qua quá trình hoạt động của công sở, góp phần tạo dựng niềm tin, sự đoàn kết của một tập thể nhằm hướng đến mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của cơ quan đơn vị.
Việc ứng xử có văn hóa nơi công sở mang lại rất nhiều lợi ích. Văn hóa ứng xử nói chung và văn hóa ứng xử nơi công sở nói riêng là thước đo sự văn minh của mỗi CBCV-LĐ hay nói cách khác, nó phản ánh sự nhận thức cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc nơi công sở. 15 Con người tác động đến việc hình thành VHCS đồng thời văn hóa với những giá trị bền vững được kế thừa và tiếp thu có chọn lọc từ quá khứ đến hiện tại, tương lai; từ môi trường bên trong đến bên ngoài công sở sẽ có tác động trở lại góp phần hoàn thiện nhân cách, phẩm chất, đạo đức cho CBVC-LĐ.