phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về văn hóa doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp tại công ty cổ phần Misa Chƣơng 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp tại công ty cổ phần Misa. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm rộng lớn, bao trùm mọi mặt hoạt động của xã hội, mọi lĩnh vực của cuộc sống, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần của con ngƣời.
Văn hóa là vấn đề đa dạng và trừu tƣợng nên cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Dƣới đây là một số khái niệm về văn hóa đƣợc sử dụng phổ biến Định nghĩa văn hóa đầu tiên đƣợc chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của nhà nhân chủng học E. Theo ông: “Văn hóa là một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con ngƣời nhƣ một thành viên của xã hội đã đạt đƣợc”. Chủ thể đƣợc nhắc đến trong khái niệm của E.B Taylor chính là con ngƣời, những đặc trƣng chỉ tồn tại riêng trong xã hội loài ngƣời”.
Theo quan niệm của UNESCO đƣợc đƣa ra năm 1982 tại Mexico thì “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trƣng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm…khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chƣơng mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngƣỡng…” Tháng 8/1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có đƣa ra khái niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ vì mục đích cuộc sống, loài ngƣời mới phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng tiện, phƣơng thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo văn minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã cho ta hiểu đƣợc: - Văn hóa là những sáng tạo và phát minh của loài ngƣời - Nguồn gốc của văn hóa là lẽ sinh tồn của con ngƣời 4 - Văn hóa là mục địch và động lực cuộc sống, nhằm thích ứng với những nhu cầu và đòi hỏi của cuộc sống - Văn hóa là tổng hợp mọi phƣơng thức sinh hoạt (ứng xử, giao tiếp) Xem xét về nghĩa gốc của từ văn hóa, dù dƣới góc nhìn của phƣơng đông hay phƣơng tây thì đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con ngƣời (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài ngƣời), cũng có nghĩa làm cho con ngƣời và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị văn hóa và tinh thần đƣợc sử dụng làm nền tảng định hƣớng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để hƣớng tới những điều tốt đẹp trong mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, giữa con ngƣời với tự nhiên và môi trƣờng sống.
Và có thể tóm gọn lại thì: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài ngƣời tạo ra trong quá trình lịch sử”. Tuy nhiên dù văn hóa đƣợc đúc kết theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp hay bó gọn trong một lĩnh vực đời sống thì văn hóa đều mang những đặc trƣng sau: Thứ nhất: Văn hóa mang tính hệ thống: Văn hóa là một hệ thống các giá trị. Nhờ có tính hệ thống, mà văn hóa với chức năng bao trùm mọi hoạt động đời sống xã hội, thực hiện đƣợc chức năng tổ chức xã hội. Văn hóa làm tăng độ ổn định xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phƣơng tiện cần thiết để ứng phó với môi trƣờng tự nhiên xã hội của mình.
Thứ hai: Văn hóa mang tính giá trị: Văn hóa theo nghĩa đen là “trở thành đẹp, trở thành có giá trị”, là thƣớc đo mức độ tiến bộ của xã hội và con ngƣời. Văn hóa có thể đƣợc xét theo giá trị vật chất và tinh thần, cũng có thể đƣợc phân thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ. Nhƣ vậy, với cùng một hiện tƣợng, sự việc, ta có thể đứng trên nhiều khía cạnh để xem xét. Nhờ có đặc tính này mà văn hóa thực hiện đƣợc chức năng điều chỉnh xã hội, giúp xã hội duy trì đƣợc trạng thái cân bằng, không ngừng tự phát triển và hoàn thiện nhằm thích nghi với sự biến đổi của môi trƣờng, cân bằng cái thiện và cái ác, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.
Thứ ba, văn hóa mang tính nhân sinh: Văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con ngƣời, gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Tính nhân sinh cho 5 phép phân biệt văn hóa nhƣ một hiện tƣợng xã hội với những giá trị tự nhiên. Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con ngƣời với con ngƣời, thực hiện chức năng giao tiếp và liên kết con ngƣời lại với nhau. Thứ tƣ, văn hóa mang tính lịch sử: Văn hóa là kết quả của sự tích lũy và kế thừa trải qua hàng ngàn năm của tất cả các hoàn cảnh.
Ở mỗi thế hệ qua đi, những cái cũ không còn phù hợp sẽ bị loại bỏ, sàng lọc, làm cho vốn văn hóa của dân tộc trở nên phong phú và có chiều sâu hơn. Tính lịch sử đƣợc duy trì bằng truyền thống văn hóa, đƣợc đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định dƣới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dƣ luận… Ta có thể thấy, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, bởi văn hóa là một phạm từ rất rộng, cả vật chất và tinh thần, cả tri thức, tín ngƣỡng, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ, truyền thống và lối sống. Văn hóa, tuy không phải là tất cả, nhƣng lại có mặt trong tất cả; nó thấm đậm trong quá trình phát triển, trong mọi hoạt động, mọi hành vi và ứng xử của con ngƣời. Văn hóa là một nhân tố trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.
Kinh doanh, không chỉ là hoạt động kinh tế mà bản chất là hoạt động văn hóa. Nó đáp ứng nhu cầu của con ngƣời, mang đến sự thỏa mãn và tiện nghi. Do đó, văn hóa doanh nghiệp là một phạm trù trong văn hóa nói chung. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Trong một xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp là một mô hình thu nhỏ của xã hội.
Xã hội lớn có nền văn hóa chung, xã hội nhỏ cũng cần xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng phù hợp với nền văn hóa chung của xã hội. Văn hóa doanh nghiệp, theo nhƣ Edgar Schein- một nhà quản trị ngƣời Mỹ (2004) là: “là cái gắn với xã hội, là một bƣớc tiến của văn hóa xã hội, là tầng sâu của văn hóa xã hội. Văn hóa doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất, vừa chú ý tới quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa ngƣời với ngƣời. Nói rộng ra,nếu toàn bộ nền sản xuất đều đƣợc xây dựng trên một nền văn hóa doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc,vừa thích ứng với thời đại hiện nay”.
Vào đầu những năm 70, sau một loạt những thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản, các công ty Mỹ bắt đầu chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sƣ thành công đó. Cụm từ “Corporate culture” đã đƣợc nghiên cứu và sử dụng để chỉ một 6 trong những tác nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công của các công ty Nhật trên thế giới. Đầu thế kỉ 90, ngƣời ta đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu những nhân tố cấu thành thành công cũng nhƣ những tác động to lớn của văn hóa đối với sự thành công cúa một doanh nghiệp. Trong giai đoạn này, một loạt những khái niệm về văn hóa doanh nghiệp đã đƣợc đƣa ra để bàn luận, nhƣng vẫn chƣa có một định nghĩa nào chính thức đƣợc công nhận cho tới ngày nay.
Theo tác giả Georges, chuyên gia ngƣời Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tƣợng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kị, những quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp” Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (1995): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết ”. Tuy nhiên định nghĩa đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein (2004): “Văn hóa doanh nghiệp hay văn hóa công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học đƣợc trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trƣờng xung quanh”. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả kinh tế, một định nghĩa đầy đủ hơn đƣợc nêu ra, trong đó bao gồm các yếu tố vật chất và tinh thần của văn hóa doanh nghiệp nhƣ sau: “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phƣơng pháp tƣ duy đƣợc mọi thành viên trong doanh nghiệp thừa nhận và có ảnh hƣởng trong phạm vi rộng đối với cách hành động của các thành viên trong công ty, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Với quan điểm trên, văn hóa doanh nghiệp bao hàm những đặc trƣng chủ yếu sau: - Văn hóa doanh nghiệp là một tổng thể các giá trị truyền thống, cấu trúc, và bí quyết kinh doanh xác lập quy tắc ứng xử của một doanh nghiệp 7 - Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị do sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi trƣờng xã hội và tự nhiên của mình.