Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIÊN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP. Các khái êm và lý thuyết liên quan 1. Văn hóa 'Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại.
Phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Nó là một khái niệm có rất nhiều lớp nghĩa được dùng với nội hàm khác nhau về đối tượng tính chất và hình thức biểu hiện. Trong từ điền, văn hóa được định nghĩa là hành vỉ của những năng lực đạo đức và tư duy phát triển, đặc biệt thông qua giáo dục. Văn là vẻ đẹp nhân tính, cái đẹp của tri thức có thê đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và sự cai trị đúng đắn của người cằm quyền.
Hoá là việc đem cái hay, cái đúng, cái đẹp để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn, đời sống. Nói tới văn hoá là nói tới ý thức, cái gốc tạo nên tính người cùng những gì thuộc về bản chất nhất làm cho con người trở thành chủ thể năng động, sáng tạo trong cuộc. sống, lao động sản xuất. Nói tới văn hoá là nói tới những nguồn nội lực để con người có thể gieo trồng (sáng tạo, xây dựng) và điều chỉnh (cải tạo) cuộc sống của mình theo định hướng vươn tới các giá trị chân thiện mỹ.
Nó được xem là nền tảng cho sự phát triển ngày càng thăng bằng và bền vững hơn của con người và xã hội. Nhu vay, văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức. tô chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chat va tinh thần do con người tạo ra. 'Văn hóa cũng có một số định nghĩa khác như “văn hóa là những nguyên tắc đạo đức, xã hội và hành vi ứng xử của một tổ chức dựa trên những tín ngưỡng, tư tưởng.
và sự ưu tiên của những thành viên của tổ chức ấy *. Văn hóa được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau, ở mức chung nhất có thể phân biệt hai cách hiểu: văn hóa theo nghĩa rộng và văn hóa theo nghĩa hẹp. Xét về phạm vi thì văn hóa theo nghĩa hẹp thường. được đồng nhất với văn hóa tỉnh hoa.
Văn hóa tỉnh hoa là một kiểu văn hóa chứa những giá trị đáp ứng các nhu cầu bậc cao của con người. Theo nghĩa này, văn hóa thường được đồng nhất với các loại hành văn học nghệ thuật, văn chương. Xét về hoạt động thì văn hóa theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hóa ứng xử. Theo hướng này văn hóa được hiểu là cách sống, cách nghĩ, cách đối xử với người xung quanh.
Một trong những định nghĩa đầu tiên được đồng ý rộng rãi do nhà nhân chủng học E.B Tylor (1871), ông xem văn hoá là: *Một phức hợp bao gồm trỉ thức, tin ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen 8 khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội”. Edward Sapir (1884-1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ cho rằng văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo. tồn theo truyền thống, Trong khi đó nghiên cứu cua Tiryakian, E., (2007) lai khang định rằng: "Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được. cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau”.
Theo Edouard Herriot (2019) định nghĩa có thể nói là rộng nhất về văn hoá là: “Văn hoá là cái còn lại khi tất cả những cái khác đã bị lãng quên”. Một định nghĩa được sử dụng phổ biến khác, tiệm cận do ông Frederico Mayor (1998), Téng giém đốc ƯNESCO đưa ra gần hơn với bản chất văn hoá là: *Văn hoá bao gồm tit cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tỉnh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”. Nhu vay có thể định nghĩa văn hóa là một hệ thống của các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và xã hội. Là một hệ thống ý nghĩa, văn hóa bao gồm những biêu tượng, những niềm tin và những giá trị nền tảng đề dựa theo đó các thành viên trong.
cộng đồng về phương diện nhận thức có thể diễn tả và đánh giá các hoạt động và các sự kiện khác nhau có thể phân biệt được cái đúng và cái sai, cái tốt và cái xấu, cái đạo. đức và cái vô luân, cái có thể và cái không thê chấp nhận được, về phương diện thâm mỹ có thể phân biệt được cái đẹp và cái xấu, cái hay và cái dở, cái đáng yêu và cái đáng ghét. Hệ thống ý nghĩa ấy đang đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành cộng đồng, ở đó mọi thành viên có thể truyền thông với nhau và cảm thấy có sợi dây liên kết với nhau. Điều này làm cho tính tập thể trở thành một trong những đặc điểm nỗi bật trong những đặc điềm nỗi bật của văn hóa, văn hóa là những gì người ta có thể nhận được bằng giáo dục và có thê lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Từ những quan điểm khác nhau về văn hóa trên đây, đề án đề xuất khái niệm về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tình thân do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội 1.2 Các đặc trưng của văn hóa Theo Đỗ Thị Phi Hoài (2011) các đặc trưng quan trọng của văn hóa có thể kể đến: Tinh hệ thống của văn hóa Mọi sự vật, khái niệm xung quanh ta tự thân đều là những hệ thống. Tuy nhiên văn hóa như một hệ thống lại quá phức tạp, đền mức tính hoàn chỉnh của nó thường, bị che lắp bởi các thành tố bộ phận. Do vậy cần thiết nhắn mạnh đến “tính hệ thống” của văn hóa. Cần xem xét mọi giá trị văn hóa trong mối quan hệ mật thiết với nhau.
Tinh hoàn chinh cho phép phân biệt một nền văn hóa hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị văn hóa. Tính giá j của văn hóa Song không phải mọi hệ thống đều là văn hóa mà chỉ có những hệ thống giá trị mới là văn hóa. Văn hóa chỉ chứa cái hữu ích, cái tốt đẹp nó là thước đo mức độ nhân bản của con người. Tính giá trị là đặc trưng quan trọng nhất giúp đi sâu và bản chất của khái niệm văn hóa.
Nó cho phép phân biệt văn hóa với cái phi văn hóa, vô văn hóa, phân biệt văn hóa thấp với văn hóa cao, phân biệt văn hóa theo nghĩa rộng và văn hóa theo nghĩa hẹp. Nhờ tính giá trị ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh gía trị của sự vật, hiện tượng, tránh được những xu hướng cực đoan phủ nhận sạch trơn hoặc tán thưởng. Tính nhân sinh của văn hóa 'Văn hóa là sản phẩm của con người. Văn hóa và con người là hai khái niệm không tách rời nhau.
Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa đồng thời chính bản thân con người cũng là một sản phẩm của văn hóa. Tính nhân sinh tạo ra những khả năng không có sẵn trong bản thân sự vật, hiện tượng mà được con người gán cho để đáp ứng các nhu cầu của con người, đó là giá trị biểu trưng. Tính nhân sinh kéo theo tính biểu trưng của văn hóa. Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa với tự nhiên.
'Văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và gián tiếp của tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đôi bởi con người, là một “tự nhiên thứ haï”. Tinh lịch sử của văn hóa Tự nhiên được biến thành văn hóa nhờ có hoạt động xã hội sáng tạo của con người mà các giá trị được tích lãy va tạo thành văn hóa. Bản thân các hoạt động cũng chính là các giá trị văn hóa.
Sự tích lãy giá trị tạo nên đặc điểm thứ 3 của văn hóa là tính lịch sử. Tính lịch sử tạo ra tính ổn định của văn hóa. Tính lịch sử cần để phân biệt văn hóa như cái được tích lũy lâu đời với văn hóa như cái chỉ trình độ phát triển ở một thời điểm nhất định. Văn hóa doanh nghiệp và cấu trúc văn hóa doanh nghiệp a.
Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Van hoá thường tồn tại và gắn liền trong một phạm vi nhất định: Văn hoá dân tộc, Văn hoá gia đình. Trong phạm vi một doanh nghiệp, ột tổ chức kinh tế, hay. đơn giản là một đơn vị, hội nhóm tập thể, văn hoá cũng sẽ tồn tại. Trong mỗi tổ chức đều tồn tại những hệ thống mẫu mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được tô chức tôn trọng và truyền từ người này sang người khác, thế hệ này sang thế hệ khác.
Chúng có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi của các thành viên. Khi phải đối đầu với những vấn đề nan giải, những hệ thống chuẩn mực giá trị này có tác dụng. chỉ dẫn các thành viên tổ chức cách thức ra quyết định hợp với phương châm hành động của tổ chức. Khái niệm được sử dụng phản ánh những hệ thống này được gọi với nhiều tên khác nhau như Văn hóa công ty hay Văn hóa doanh nghiệp, Văn hóa tổ chức, Văn hóa kinh doanh.
Văn hóa doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt của một doanh nghiệp so với tất cả các doanh nghiệp khác. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa xoay quanh về khái niệm văn hóa doanh nghiệp, có một vài cách định nghĩa khác như : Theo Williams, A. & Walters, M (1993), “Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tôn tại phô biến và tương đối ôn định trong doanh nghiệp ”.