Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Y tế công cộng (mã số 62.01) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyết Trinh, thực hiện tại Trường Đại học Y tế công cộng dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Bùi Thị Thu Hà và PGS.TS. Đỗ Quốc Huy, có tiêu đề: "Xây dựng và đánh giá kết quả chương trình đào tạo qui trình hút đờm theo chuẩn năng lực cho điều dưỡng tại Bệnh viện Nhân dân 115 năm 2017 – 2018" (bảo vệ năm 2020).
Kỹ thuật hút đờm là kỹ thuật cơ bản trong chăm sóc người bệnh, đặc biệt đối với người bệnh nặng tại các khoa Hồi sức và Cấp cứu. Hút đờm kịp thời và đúng kỹ thuật có tác dụng làm sạch dịch tiết, khai thông đường hô hấp, duy trì thông khí và phòng tránh biến chứng nhiễm khuẩn do ứ đọng đờm dãi. Ngược lại, thực hiện không đúng quy trình kỹ thuật có thể gây các tai biến như nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới (chiếm 25%), tổn thương niêm mạc đường hô hấp (chiếm 3,3%), thiếu oxy hoặc chậm nhịp tim (Trần Thị Thảo, 2008).
Tại Việt Nam, việc đánh giá quy trình hút đờm trước đây chủ yếu dựa vào các bảng kiểm thao tác kỹ thuật đơn thuần, chỉ tập trung vào các bước thực hiện mà chưa đánh giá toàn diện năng lực của người điều dưỡng bao gồm nhận định người bệnh, lập kế hoạch, quản lý nguy cơ, giao tiếp và giáo dục sức khỏe. Tại Bệnh viện Nhân dân 115, trung bình mỗi ngày có khoảng 140 người bệnh được thực hiện kỹ thuật hút đờm với 626 lượt thực hiện trong điều kiện quá tải bệnh viện (công suất sử dụng giường bệnh năm 2017 là 111% và năm 2018 là 116%). Tuy nhiên, chưa có chuẩn năng lực hút đờm chuyên biệt và chưa có chương trình đào tạo liên tục dựa trên chuẩn năng lực cho điều dưỡng.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung:
- Xây dựng chuẩn năng lực hút đờm cho điều dưỡng Bệnh viện Nhân dân 115 năm 2017.
- Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo qui trình hút đờm theo chuẩn năng lực cho điều dưỡng Bệnh viện Nhân dân 115 năm 2018.
- Đánh giá kết quả chương trình đào tạo qui trình hút đờm theo chuẩn năng lực cho Điều dưỡng Bệnh viện Nhân dân 115 sau 6 tháng đào tạo năm 2019.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 101 điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc người bệnh tại 3 khoa hồi sức (Hồi sức tích cực – Chống độc, Hồi sức ngoại, Hồi sức tim mạch) của Bệnh viện Nhân dân 115, cùng các điều dưỡng trưởng khoa, bác sĩ, giảng viên và chuyên gia tham gia các giai đoạn phát triển chương trình. Phạm vi không gian nghiên cứu đặt tại Bệnh viện Nhân dân 115 (Thành phố Hồ Chí Minh); thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ năm 2017 đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến kỹ thuật hút đờm, chuẩn năng lực nghề nghiệp và các mô hình can thiệp đào tạo liên tục:
| Tác giả / Năm |
Quốc gia |
Đối tượng, Cỡ mẫu |
Thiết kế nghiên cứu |
Kết quả chính |
Kết luận của công trình |
| Day (2001) |
Anh |
16 điều dưỡng |
Thực nghiệm Quasi |
Kiến thức và thực hành của điều dưỡng được cải thiện sau khi áp dụng chương trình tập huấn can thiệp. |
Cần chú trọng hướng dẫn lâm sàng và tập huấn thực hành cho điều dưỡng. |
| Sole (2003) |
Mỹ |
1.665 điều dưỡng |
Mô tả, so sánh |
83% điều dưỡng thực hành hút đờm không dựa trên quy trình hướng dẫn mà dựa vào kinh nghiệm cá nhân. |
Cần thực hành hút đờm dựa trên nghiên cứu và quy trình chuẩn để đảm bảo an toàn cho người bệnh. |
| McKillop (2004) |
New Zealand & Úc |
105 điều dưỡng |
Quan sát |
Trên 50% điều dưỡng tham gia nghiên cứu thực hành dựa vào kinh nghiệm bản thân. |
Chương trình tập huấn can thiệp nâng cao nhận thức về thực hành dựa trên bằng chứng. |
| Chau (2007) |
Hồng Kông |
71 điều dưỡng |
Khảo sát 4 giai đoạn |
Tỷ lệ tuân thủ quy trình trước tập huấn là 73%, sau tập huấn tăng lên 89% ($t = -7,67; p < 0,005$). Kỹ năng đạt từ 65% lên 96%. |
Quy trình hút đờm có hệ thống và kiểm tra chặt chẽ đảm bảo chất lượng can thiệp của điều dưỡng. |
| Kelleher (2008) |
Ireland |
45 điều dưỡng |
Quan sát |
Chỉ 31% điều dưỡng rửa tay trước khi hút đờm do quá tải; tỷ lệ tuân thủ quy trình sau tập huấn đạt 82,6%. |
Cần phát triển chương trình đào tạo can thiệp cải thiện thực hành hút đờm, đặc biệt là kỹ năng kiểm soát nhiễm khuẩn. |
| Özden (2012) |
Thổ Nhĩ Kỳ |
48 điều dưỡng |
Quan sát không cấu trúc |
Sự tuân thủ tiêu chuẩn thực hành quy trình hút đờm và mức độ kiến thức tăng lên rõ rệt sau tập huấn. |
Điều dưỡng ghi nhận sự cần thiết của các tiêu chuẩn thực hành được thiết lập sau đào tạo. |
| Negro (2014) |
Ý |
379 điều dưỡng |
Thực nghiệm, mù đơn |
42% điều dưỡng thiếu kiến thức liên quan đến hút đờm; 2,5% trả lời đúng 9/10 câu hỏi; trên 50% chưa từng học quy trình. |
Điều dưỡng tại khoa hồi sức còn thiếu kiến thức; can thiệp đào tạo giúp cải thiện kiến thức và thực hành. |
| Leddy (2015) |
Canada |
180 điều dưỡng |
Khảo sát cắt ngang |
89,5% điều dưỡng thiếu kiến thức về việc có hay không nhỏ dung dịch NaCl 0,9% trước khi hút đờm. |
Cần tập huấn chuẩn hóa để tránh các sai sót không cần thiết trong thực hành hút đờm tại khoa hồi sức. |
| Trần Thị Thảo (2008) |
Việt Nam |
19 điều dưỡng |
Mô tả cắt ngang |
59% điều dưỡng chưa đảm bảo vô khuẩn; 10,6% kỹ năng không đạt; tai biến gây 25% nhiễm khuẩn hô hấp dưới. |
Kỹ năng và sự tuân thủ quy trình của điều dưỡng tại khoa hồi sức cần được chuẩn hóa và giám sát. |
| Phan Thị Dung (2018) |
Việt Nam |
Điều dưỡng lâm sàng |
Can thiệp trước – sau |
Điểm năng lực chăm sóc tăng sau đào tạo: nhận định tăng 17,47 điểm; lập kế hoạch tăng 12,61; thực hiện tăng 33,74; đánh giá tăng 20,14. |
Đào tạo theo chuẩn năng lực điều dưỡng mang lại hiệu quả rõ rệt so với đào tạo truyền thống. |
Về phương pháp luận xây dựng chuẩn năng lực, tác giả điểm lại các công trình sử dụng kỹ thuật Delphi như nghiên cứu của Janice Du Mont và cộng sự (2015) tại Canada (xây dựng bộ năng lực chăm sóc người cao tuổi bị ngược đãi qua 2 vòng Delphi, từ 148 năng lực rút gọn còn 47 năng lực thuộc 5 nhóm) và nghiên cứu của Anne M. Eskes và cộng sự (2012) tại Tây Âu (xây dựng bộ 77 năng lực chăm sóc vết thương qua 3 vòng Delphi với 30 chuyên gia từ 6 quốc gia).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào xây dựng chuẩn năng lực chuyên biệt cho kỹ thuật hút đờm và thiết kế chương trình đào tạo liên tục dựa trên chuẩn năng lực này; các khóa đào tạo tại bệnh viện chủ yếu dựa vào bảng kiểm thao tác từng bước mà chưa có chương trình đào tạo liên tục chuẩn hóa được cấp mã CME và đánh giá hiệu quả can thiệp theo thời gian.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án tiếp cận dựa trên sự kết hợp giữa các khung lý thuyết giáo dục y học và tiêu chuẩn nghề nghiệp:
- Định nghĩa năng lực: Khả năng lồng ghép kiến thức, kỹ năng, thái độ và giá trị trong bối cảnh thực hành cụ thể.
- Khung năng lực CanMEDS (Canadian Medical Education Directives for Specialists, 2007) gồm 7 vai trò: Chăm sóc điều dưỡng, Giao tiếp, Hợp tác/Làm việc nhóm, Quản lý, Tư vấn/Giáo dục sức khỏe, Học tập và Y đức.
- Chuẩn năng lực cơ bản của Điều dưỡng Việt Nam (Bộ Y tế, 2012) tích hợp các tiêu chuẩn 6 (chăm sóc đúng quy trình), tiêu chuẩn 11 (giao tiếp), tiêu chuẩn 14 (tư vấn, giáo dục sức khỏe), tiêu chuẩn 15 (hợp tác nhóm), tiêu chuẩn 17 (quản lý), tiêu chuẩn 23 (học tập liên tục), tiêu chuẩn 24 và 25 (hành nghề theo pháp luật và đạo đức).
- Tháp năng lực Miller (1990) phân chia 4 bậc đánh giá: Biết (kiến thức lý thuyết), Biết rõ (kiến thức chi tiết và phân tích tình huống), Trình diễn (thực hành mô phỏng) và Thực hiện (thực hành trên người bệnh trong bối cảnh lâm sàng).
- Khung phát triển chương trình đào tạo dựa trên các mô hình của Kirkpatrick (1996), Carolyn Barratt và cộng sự (1992), Poot và cộng sự (2017) cùng mô hình đào tạo liên tục của Greet.
- Khung pháp lý: Nghị quyết 29/NQ-TW (2013) về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo; Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Điều 3, Điều 20, Điều 29); Thông tư 22/2013/TT-BYT về đào tạo liên tục (quy định tối thiểu 120 giờ/5 năm); Thông tư 07/2011/TT-BYT (tối thiểu 24 giờ/năm).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế kết hợp định tính và định lượng (mixed-methods), can thiệp so sánh trước – sau, triển khai qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Xây dựng chuẩn năng lực hút đờm (Kỹ thuật Delphi 2 vòng)
Giai đoạn 2: Đánh giá ban đầu thực trạng năng lực (Cắt ngang mô tả trên 101 ĐD và 18 PVS)
Giai đoạn 3: Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo CME 30 tiết (22 LT + 8 TH)
Giai đoạn 4: Đánh giá kết quả can thiệp sau 6 tháng đào tạo (So sánh trước - sau trên 101 ĐD)
- Giai đoạn 1 (Xây dựng chuẩn năng lực): Áp dụng kỹ thuật Delphi qua 2 vòng khảo sát chuyên gia (bác sĩ hồi sức, điều dưỡng trưởng, giảng viên điều dưỡng) để sàng lọc và thống nhất danh mục chuẩn năng lực hút đờm gồm 5 nhóm năng lực.
- Giai đoạn 2 (Đánh giá thực trạng ban đầu, 2017): Khảo sát toàn bộ 101 điều dưỡng tại 3 khoa hồi sức (Hồi sức tích cực – Chống độc, Hồi sức ngoại, Hồi sức tim mạch) bằng bộ câu hỏi phát vấn 40 mục và bảng kiểm quan sát thực hành; thực hiện 18 cuộc phỏng vấn sâu với điều dưỡng trưởng khoa, bác sĩ, giảng viên và điều dưỡng viên nhằm phân tích nhu cầu đào tạo.
- Giai đoạn 3 (Xây dựng và can thiệp đào tạo, 2018): Thiết kế chương trình và tài liệu đào tạo liên tục 30 tiết (tương đương 22,5 giờ học, gồm 22 tiết lý thuyết và 8 tiết thực hành lâm sàng). Chương trình được thẩm định và phê duyệt bởi Hội đồng thẩm định Sở Y tế TP.HCM để cấp mã CME, sau đó tổ chức đào tạo cho điều dưỡng.
- Giai đoạn 4 (Đánh giá kết quả can thiệp, 2019): Đánh giá lại năng lực của 101 điều dưỡng sau 6 tháng kết thúc khóa đào tạo bằng bộ công cụ định lượng và định tính tương tự giai đoạn ban đầu; phân tích sự thay đổi điểm số, tỷ lệ đạt và chỉ số hiệu quả can thiệp.
Dữ liệu được làm sạch, nhập liệu và phân tích thống kê; sử dụng các kiểm định so sánh giá trị trung bình (Mean ± SD) trước và sau can thiệp, tính tỷ lệ phần trăm và kiểm định ý nghĩa thống kê với ngưỡng $p < 0,001$. Vấn đề đạo đức nghiên cứu tuân thủ việc ký phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu và bảo mật thông tin đối tượng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học về kỹ thuật hút đờm và vai trò điều dưỡng. Kỹ thuật hút đờm phân thành hút đường hô hấp trên (mũi họng, miệng họng) và hút đường hô hấp dưới (qua ống nội khí quản, canun mở khí quản); phân theo cách thức gồm hút mở (dùng ống hút vô khuẩn một lần) và hút kín (dùng ống hút đa năng duy trì thông khí liên tục). Các thông số kỹ thuật được nêu: áp lực hút tiêu chuẩn từ 120 đến 180 mmHg; đường kính ngoài ống hút không vượt quá 1/2 đường kính trong đường thở nhân tạo; thời gian hút đờm trung bình 11,9 ± 6,9 phút và qua ống nội khí quản là 8,0 ± 4,2 phút.
Chương này trình bày chuẩn năng lực điều dưỡng tại Úc, Nhật Bản (JNA), Canada (CNA/CARNA) và Việt Nam; khung CanMEDS 7 lĩnh vực; tháp năng lực Miller 4 bậc; các mô hình phát triển chương trình đào tạo của Kirkpatrick, Barratt, Poot và Greet. Tác giả tổng kết các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành hút đờm: kiến thức, kỹ năng, môi trường làm việc (cơ sở vật chất, máy hút, găng tay, kềm kéo), áp lực quá tải bệnh viện, động lực làm việc và năng lực nghiên cứu. Phần cuối chương giới thiệu Bệnh viện Nhân dân 115: bệnh viện đa khoa hạng I tuyến cuối tại TP.HCM với 1.600 giường, 28 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng, 9 phòng chức năng, 979 điều dưỡng viên (25,4% trình độ đại học, 74,6% trung cấp, 0,1% thạc sĩ), 33 điều dưỡng trưởng khoa (100% đại học và có chứng chỉ quản lý). Tỷ lệ ĐDV/1.000 người bệnh/ngày đạt 0,74; tỷ lệ ĐDV/Bác sĩ đạt 2,19.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận cho 4 giai đoạn nghiên cứu:
- Thiết kế: Nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp can thiệp so sánh trước – sau, phối hợp định lượng và định tính.
- Địa điểm và thời gian: Bệnh viện Nhân dân 115, triển khai từ năm 2017 đến năm 2019.
- Cỡ mẫu: 101 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc tại 3 khoa hồi sức tham gia đánh giá trước và sau can thiệp; 18 cuộc phỏng vấn sâu (điều dưỡng trưởng, bác sĩ, giảng viên, điều dưỡng viên) trong nghiên cứu định tính; nhóm chuyên gia tham gia 2 vòng Delphi.
- Cấu trúc khung năng lực hút đờm gồm 5 nhóm:
- Năng lực nhận định người bệnh
- Năng lực lập kế hoạch hút đờm
- Năng lực thực hiện kế hoạch hút đờm
- Năng lực đánh giá sau hút đờm
- Năng lực giao tiếp và làm việc nhóm
- Bộ công cụ nghiên cứu: Bộ câu hỏi phát vấn kiến thức gồm 40 câu; bảng kiểm quan sát thực hành kỹ thuật; phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu; phiếu đánh giá khóa học.
- Quy trình can thiệp: Xây dựng khung chương trình 30 tiết (22 tiết lý thuyết, 8 tiết thực hành tại khoa), tổ chức giảng dạy lâm sàng kết hợp lý thuyết, có sự tham gia của giảng viên lâm sàng và kiểm tra đánh giá theo mã đào tạo CME do Sở Y tế TP.HCM ban hành.
- Phân tích số liệu và kiểm soát sai số: Sử dụng phần mềm thống kê để xử lý biến số định lượng và định tính, kiểm định so sánh cặp trước – sau, tính chỉ số hiệu quả can thiệp, áp dụng các biện pháp khống chế sai số quan sát (Hawthorne effect).
Chương 3: Kết quả
Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng và định tính qua các bảng số liệu chính:
- Kết quả kỹ thuật Delphi: Sau 2 vòng khảo sát chuyên gia, bộ chuẩn năng lực hút đờm được thống nhất hoàn chỉnh gồm 5 nhóm năng lực.
- Thực trạng năng lực trước can thiệp (2017): Điểm trung bình tổng các năng lực của điều dưỡng đạt mức 237,98 ± 1,4. Tỷ lệ điều dưỡng đạt mức năng lực khá và tốt là 68,8%. Tỷ lệ đạt ở từng nhóm năng lực trước đào tạo còn thấp, trong đó năng lực lập kế hoạch và năng lực đánh giá có tỷ lệ đạt và điểm số trung bình thấp nhất trong 5 nhóm.
- Kết quả triển khai chương trình đào tạo (2018): Khóa đào tạo 30 tiết được tổ chức thành công, tài liệu giảng dạy được chuẩn hóa và thẩm định cấp mã CME. Đánh giá từ học viên điều dưỡng cho thấy chương trình đáp ứng nhu cầu thực tiễn và nâng cao tính tự tin trong thực hành lâm sàng.
- Kết quả can thiệp sau 6 tháng đào tạo (2019):
- Điểm trung bình tổng các năng lực tăng từ $237,98 \pm 1,4$ lên $320,02 \pm 1,3$ (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với $p < 0,001$).
- Tỷ lệ điều dưỡng có năng lực xếp loại tốt và khá tăng từ 68,8% lên 93,3% (tăng 24,5%).
- Điểm số trung bình và tỷ lệ đạt của cả 5 nhóm năng lực (nhận định, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, đánh giá, giao tiếp và làm việc nhóm) đều tăng rõ rệt so với trước can thiệp.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung phân tích và đối chiếu kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:
- Đánh giá tính phù hợp của phương pháp Delphi trong xây dựng chuẩn năng lực hút đờm, tương đồng với các nghiên cứu của Janice Du Mont (2015) và Anne M. Eskes (2012).
- Bàn luận về thực trạng năng lực ban đầu: Kết quả cho thấy điều dưỡng tại Bệnh viện Nhân dân 115 trước can thiệp còn thực hành theo thói quen và thiếu các bước nhận định, lập kế hoạch, tương đồng với nhận định của Sole (2003), Day (2001) và Trần Thị Thảo (2008). Các yếu tố quá tải công việc, tỷ lệ điều dưỡng/người bệnh thấp và thiếu tài liệu chuẩn năng lực là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc.
- Bàn luận về hiệu quả chương trình đào tạo: Mô hình đào tạo 30 tiết kết hợp lý thuyết và thực hành lâm sàng đã tạo ra sự chuyển biến bền vững. Việc duy trì điểm số cao sau 6 tháng ($320,02 \pm 1,3$ so với $237,98 \pm 1,4$) chứng minh tính hiệu quả của can thiệp đào tạo liên tục, phù hợp với kết quả can thiệp của Chau (2007), Kelleher (2008) và Phan Thị Dung (2018).
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế: Luận án kết hợp đồng thời phương pháp định tính và định lượng, đánh giá được tác động sau 6 tháng; hạn chế là nghiên cứu mới triển khai tại một bệnh viện và chưa đo lường trực tiếp các chỉ số kết cục lâm sàng trên người bệnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới của luận án được tác giả tổng kết bao gồm:
- Đóng góp về lý luận và phương pháp: Xây dựng thành công Chuẩn năng lực hút đờm cho điều dưỡng tại Bệnh viện Nhân dân 115 thông qua kỹ thuật Delphi, dựa trên sự kết hợp giữa khung năng lực CanMEDS quốc tế và Chuẩn năng lực cơ bản của Điều dưỡng Việt Nam. Đây là bộ chuẩn năng lực chuyên biệt đầu tiên cho kỹ thuật hút đờm tại cơ sở y tế ở Việt Nam, chuyển đổi từ cách tiếp cận đánh giá bảng kiểm thao tác đơn thuần sang đánh giá năng lực tích hợp (gồm nhận định, lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá, giao tiếp/hợp tác nhóm).
- Đóng góp về thực tiễn đào tạo: Xây dựng hoàn chỉnh chương trình và bộ tài liệu đào tạo liên tục quy trình hút đờm theo chuẩn năng lực (khung 30 tiết: 22 tiết lý thuyết, 8 tiết thực hành). Chương trình đã được Hội đồng thẩm định Sở Y tế TP.HCM phê duyệt và ban hành quyết định cấp mã đào tạo y khoa liên tục (CME).
- Đóng góp về hiệu quả can thiệp: Chứng minh thực nghiệm việc triển khai chương trình đào tạo theo chuẩn năng lực giúp cải thiện có ý nghĩa thống kê năng lực hút đờm của điều dưỡng: điểm trung bình tăng từ $237,98 \pm 1,4$ lên $320,02 \pm 1,3$; tỷ lệ điều dưỡng đạt mức khá – tốt tăng từ 68,8% lên 93,3% (tăng 24,5%) với $p < 0,001$, duy trì hiệu quả sau 6 tháng đào tạo.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu:
- Đề xuất Sở Y tế TP.HCM và Bộ Y tế xem xét ban hành và nhân rộng Bộ Chuẩn năng lực hút đờm cùng chương trình đào tạo liên tục này tại các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa trên phạm vi toàn quốc.
- Đề xuất các trường đại học, cao đẳng đào tạo ngành điều dưỡng tham khảo chương trình và tài liệu giảng dạy để tích hợp vào học phần thực hành điều dưỡng hồi sức cấp cứu.
- Đề xuất Bệnh viện Nhân dân 115 tiếp tục duy trì công tác đào tạo liên tục, tăng cường giám sát lâm sàng và bảo đảm đầy đủ trang thiết bị, phương tiện phục vụ kỹ thuật hút đờm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu được ghi nhận trong văn bản:
- Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 101 điều dưỡng được thực hiện tại 3 khoa hồi sức của một bệnh viện đa khoa hạng I (Bệnh viện Nhân dân 115), chưa thực hiện can thiệp so sánh đa trung tâm ở các tuyến bệnh viện khác nhau.
- Quá trình quan sát thực hành lâm sàng bằng bảng kiểm có thể chịu ảnh hưởng nhất định của hiệu ứng quan sát viên (Hawthorne effect), khi điều dưỡng nhận biết được thời điểm quan sát nên có sự chuẩn bị tốt hơn thực tế thường quy.
- Nghiên cứu tập trung đánh giá sự thay đổi về năng lực, kiến thức và kỹ năng thực hành của điều dưỡng, chưa tiến hành đo lường trực tiếp các chỉ số kết cục lâm sàng trên người bệnh sau can thiệp (như tỷ lệ viêm phổi thở máy, tỷ lệ tổn thương niêm mạc hay chi phí điều trị).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Triển khai nghiên cứu mở rộng áp dụng chuẩn năng lực hút đờm tại nhiều cơ sở y tế với các quy mô và tuyến chuyên môn khác nhau.
- Thực hiện các nghiên cứu đánh giá sâu về hiệu quả và lợi ích trực tiếp trên người bệnh khi được chăm sóc hút đờm theo chuẩn năng lực, bao gồm tỷ lệ giảm tai biến hô hấp, thời gian nằm hồi sức và hiệu quả kinh tế y tế.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ thống y tế:
- Nhà quản lý điều dưỡng và lãnh đạo bệnh viện: Tham khảo khung chuẩn năng lực và bộ công cụ đánh giá lâm sàng để thiết lập quy trình kỹ thuật chuẩn hóa, xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục (CME) tại chỗ và tổ chức kiểm tra, giám sát chất lượng chăm sóc người bệnh hồi sức.
- Giảng viên điều dưỡng và các cơ sở đào tạo y tế: Sử dụng khung chương trình 30 tiết và tài liệu đào tạo quy trình hút đờm theo chuẩn năng lực làm tài liệu giảng dạy lý thuyết và hướng dẫn thực hành lâm sàng cho sinh viên điều dưỡng và học viên sau đại học.
- Nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Y tế công cộng, Quản lý bệnh viện, Điều dưỡng: Tham khảo quy trình phương pháp luận kết hợp định tính (kỹ thuật Delphi, phỏng vấn sâu) và định lượng (can thiệp trước – sau có theo dõi 6 tháng), cách tính toán chỉ số hiệu quả và phương pháp xây dựng chuẩn năng lực nghề nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Chuẩn năng lực hút đờm của điều dưỡng trong luận án gồm những nhóm năng lực nào?
Chuẩn năng lực hút đờm được xây dựng gồm 5 nhóm năng lực chính: (1) Năng lực nhận định người bệnh trước khi hút đờm; (2) Năng lực lập kế hoạch hút đờm; (3) Năng lực thực hiện kế hoạch hút đờm; (4) Năng lực đánh giá sau khi hút đờm; (5) Năng lực giao tiếp và làm việc nhóm.
2. Điểm số và tỷ lệ xếp loại năng lực của điều dưỡng thay đổi như thế nào sau 6 tháng can thiệp đào tạo?
Sau 6 tháng đào tạo (năm 2019), điểm trung bình tổng các năng lực hút đờm của 101 điều dưỡng đã tăng từ $237,98 \pm 1,4$ (trước can thiệp) lên $320,02 \pm 1,3$ ($p < 0,001$). Tỷ lệ điều dưỡng có năng lực xếp loại khá và tốt tăng từ 68,8% lên 93,3% (tăng 24,5%).
3. Khung chương trình đào tạo can thiệp trong luận án có cấu trúc và thời lượng ra sao?
Chương trình đào tạo liên tục quy trình hút đờm theo chuẩn năng lực được thiết kế theo mô hình của Greet với tổng thời lượng 30 tiết (tương đương 22,5 giờ học), bao gồm 22 tiết lý thuyết và 8 tiết thực hành lâm sàng tại khoa phòng, được Hội đồng thẩm định Sở Y tế TP.HCM phê duyệt cấp mã CME.
4. Các thông số kỹ thuật chuẩn của quy trình hút đờm được nêu trong văn bản là gì?
Áp lực hút tiêu chuẩn được quy định từ 120 đến 180 mmHg; đường kính ngoài ống thông hút không lớn hơn 1/2 đường kính trong đường thở nhân tạo; thời gian hút đờm trung bình cho một trường hợp là 11,9 ± 6,9 phút và qua ống nội khí quản là 8,0 ± 4,2 phút; thao tác rút ống hút phải xoay nhẹ và không hút ngắt quãng để tránh tổn thương niêm mạc.
5. Tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu nào để thu thập và phân tích dữ liệu?
Nghiên cứu sử dụng thiết kế kết hợp định tính và định lượng: kỹ thuật Delphi 2 vòng để lấy ý kiến chuyên gia xây dựng chuẩn năng lực; bộ câu hỏi phát vấn 40 mục và bảng kiểm quan sát thực hành trên 101 điều dưỡng tại 3 khoa hồi sức; 18 cuộc phỏng vấn sâu với các nhóm đối tượng (điều dưỡng trưởng, bác sĩ, giảng viên, điều dưỡng viên); xử lý số liệu bằng thống kê mô tả, kiểm định so sánh cặp trước – sau và tính chỉ số hiệu quả can thiệp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Trinh đã hoàn thành ba mục tiêu nghiên cứu thông qua việc ứng dụng kỹ thuật Delphi xây dựng Bộ Chuẩn năng lực hút đờm 5 nhóm cho điều dưỡng tại Bệnh viện Nhân dân 115. Đề tài đã thiết kế và triển khai thành công chương trình đào tạo liên tục 30 tiết được Sở Y tế TP.HCM cấp mã CME, đồng thời chứng minh hiệu quả can thiệp rõ rệt khi điểm trung bình năng lực tăng từ $237,98 \pm 1,4$ lên $320,02 \pm 1,3$ và tỷ lệ đạt loại khá – tốt tăng thêm 24,5% sau 6 tháng đào tạo ($p < 0,001$). Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để nhân rộng mô hình đào tạo theo chuẩn năng lực trong chăm sóc hô hấp tại các cơ sở y tế và các trường đào tạo điều dưỡng.