Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng thương hiệu tuyển dụng và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng triển khai công tác tuyên dụng thu hút nguồn nhân lực điều dưỡng viên chat lượng cao tai Trung tâm Dưỡng lão Diên Hong. Chương 3: Áp dụng thương hiệu tuyên dụng dé thu hút nguồn nhân lực điều đưỡng viên chất lượng cao tại Trung tâm Dưỡng lão Diên Hồng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU TUYẾN DỤNG VA THU HUT NGUON NHÂN LUC DIEU DUONG VIÊN CHAT LƯỢNG CAO TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Hệ khái niệm 1.11 Nguồn nhân lực Theo Liên hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghé, là kiến thức va nangluc cua toàn bộ cuộc sông con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đông ”.
Theo Nicolas Henry: “Nguồn nhân lực là nguôn lực con người của những t6 chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thể giới”.Milkovich và John W.Boudreau: “Nguồn nhân lực là tông thê các yêu tô bên trong và bên ngoài của môi cả nhân đảm bảo nguôn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, dat được mục tiêu của tô chức”. Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó dang được phân bồ vào ngành nghệ, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”. Từ những khái niệm trên, có thé thấy rằng nguồn nhân lực là trụ cột quan trọng và không thể thiếu của mỗi tổ chức, doanh nghiệp hay cơ quan. Nếu thiếu đi nguồn lực này một tổ chức sẽ không thé tồn tại và hoạt động hiệu quả.
Chat lượng của nguén nhân lực không chi ảnh hưởng đến sự phát triển trước mắt mà còn quyết định tới sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Nhân lực chất lượng cao không chỉ đáp ứng nhu cầu công việc hiện tại mà còn có khả năng thích nghỉ và đổi mới, giúp tổ chức tiễn bộ và cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong môi trường kinh doanh ngày cảng cạnh tranh. Do đó, việc đầu tư vào việc tuyển dụng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không chỉ là nhiệm vụ ngắn hạn mà còn là chiến lược quan trong dé đảm bảo sự bền vững và thành công dai lâu cho mọi tô chức.2 Nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực chất lượng cao đã trở thành một ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam, nhất là khi nước ta bắt đầu hội nhập và cạnh tranh trong khuôn khổ quốc tế. Điều này được thể hiện rõ qua văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ X, nơi đặt ra mục tiêu "phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành", xác định đây là bước đột phá quan trọng g1úp nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế.
13 Theo quan điểm của TS.Nguyễn Hữu Dũng: nguồn nhân lực chất lượng cao là những cá nhân có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao, phù hợp với yêu cầu của ngành nghề mà họ theo đuôi, và được phân loại dựa trên trình độ dao tạo (dai học, cao dang, công nhân lành nghé). Trong khi đó, theo quan điểm của TS. Bùi Thị Ngọc Lan: nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là tinh túy của toàn bộ nguồn nhân lực. Họ không chỉ có kiến thức và kỹ năng chuyên môn sâu rộng mà còn có khả năng thích nghi nhanh với sự thay đôi của công nghệ sản xuất.
Họ có phẩm chất tốt, khả năng áp dụng sáng tạo tri thức và kỹ năng đã được đảo tạo vào công việc, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động sản xuất. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khi kinh tế ngày càng chuyên dịch sang dựa vào tri thức, vai trò cua nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, trở nên ngày càng quan trọng. Nhất là hiện nay, Việt Nam đang tập trung mạnh mẽ vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tam quan trong của nguồn nhân lực chất lượng cao được nhắn mạnh và thé hiện rõ ràng.3 Điều dưỡng viên Khái niệm điều dưỡng viên (Nursing) xuất phát từ nghĩa sơ khai chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguồn gốc của sự chăm sóc là từ những hành động của bà mẹ đối với con kê từ khi chúng mới lot lòng cho tới khi chúng trưởng thành.
Theo quan diém của bà Florence Nightingale đưa ra năm 1860: Diéu dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh dé hỗ trợ sự phục hồi của họ. Florence Nightingale định nghĩa về nghề điều dưỡng phan ánh sự quan tâm sâu sắc của bà với thời đại mà bà sống. Theo bà, vai trò quan trọng nhất của người điều dưỡng không chỉ là chăm sóc người bệnh mà còn là giải quyết và cải thiện môi trường xung quanh. Băng cách tạo ra một môi trường sống an toàn lành mạnh, người điều dưỡng sẽ giúp người bệnh phục hồi sức khỏe một cách tự nhiên và hiệu quả hơn.
Theo Dorland’s Medical Dictionary (2006) “Điều dưỡng viên (bao gồm cả nam và nữ) là những người có nên tảng khoa hoc cơ bản vê điêu dưỡng, đáp ứng các tiêu chuân được kê toa tùy theo sự giáo dục và sự hoan thiện lâm sang.” Tóm lại, theo tác giả “Điều dưỡng viên là những người có nền tảng khoa học cơ bản về điều dưỡng viên, phụ trách công tac điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân nhằm phục hồi lai thé trang ban dau cho người bệnh ”.4 Doanh nghiệp Theo khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020: “doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh ”. Hay như xét trên quan điểm rất phố biến trong Khoa học quản lý đó là lý thuyết hệ thống, Võ Thị Tuyết đã định nghĩa: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tô chức, có tác động qua lại và theo đuôi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ nhỏ là sản xuất, thương mại, tô chức và nhân sự.5 Thương hiệu tuyển dụng Khái niệm "Thương hiệu tuyển dụng" đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX và được Ambler và Barrow (1996) định nghĩa như là việc tạo ra một sự tong hòa giữa các giá tri tâm lý, chế độ đãi ngộ và các lợi ích chuyên môn trong công việc. Theo nghiên cứu của Mai Thanh Lan và Đỗ Vũ Phương Anh (2020), Thương hiệu tuyên dụng biểu hiện hình ảnh về doanh nghiệp như một "nơi làm việc lý tưởng".
Điều này được nhân viên hiện tại và ứng viên có ý định ứng tuyển vào công ty nhắc đến. Thương hiệu tuyển dụng không chỉ là việc doanh nghiệp tự quảng cáo về chính sách và giá trị của mình, mà cân được công nhận bởi người lao động là đối tượng mà doanh nghiệp muốn hướng đến, đề có tính xác thực và uy tín. Viện Nhân lực và Phát triển của Vương quốc Anh (CIPD) định nghĩa rằng Thương hiệu nhà tuyên dụng là “một tập hợp các thuộc tinh và phẩm chất — thường là vô hình — khiến cho một tổ chức trở nên đặc biệt, hứa hẹn một trải nghiệm làm việc cụ thé và thu hút những người muốn phát triển và thé hiện mình tốt nhất trong văn hoá đó. Theo Brett Minchington, người đã xuất bản một số cuốn sách về đề tài này, định nghĩa thương hiệu của nhà tuyển dụng là “hình ảnh mô tả tổ chức của bạn như một nơi tuyệt vời để làm việc”.
Ở hai định nghĩa của CIPD và Brett Minchington hầu như chỉ mô tả các thương hiệu có sức ảnh hưởng nhất định. Thương hiệu Nhà tuyển dụng (Employer Branding) là toàn bộ những suy nghĩ và cảm xúc từ những người có tương tác với doanh nghiệp, cả tích cực và tiêu cực, cả trung thực và không trung thực, rõ ràng và mơ hô, dù có dựa trên trải nghiệm trực tiếp hay không, cả giao tiếp có chủ ý, không chủ y hoặc có thể chỉ là tin đồn. So với hai định nghĩa được đề cập ở bên trên định nghĩa này được coi là toàn diện và thực tế hơn, mang lại giá trị sử dụng cao hơn trong việc hiểu và áp dụng vào da dạng thương hiệu nhà tuyển dụng.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao với doanh nghiệp 2.1 Yếu tô bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc thu hút nguôn nhân lực chất lượng cao Thứ nhất, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dang gây ra sự biến đổi cơ cấu lao động trong nhiều lĩnh vực. Trong bối cảnh này, những ngành nghề truyền thống với lượng lao động lớn đang trải qua sự suy giảm, đồng thời những ngành nghề mới đang nổi lên.
Sự xuất hiện của các hệ thống tự động hóa và robot thông minh trong CMCN 4.0 đang thay đổi cách thức làm việc và đòi hỏi các nhân viên phải có kỹ năng và kiến thức mới để thích nghi và phát triển. Do đó, nhu cầu tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao tại các doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết. Thứ 2, thị trường lao động đang có sự phân hóa mạnh mẽ Trong thời đại CMCN 4.0, việc sở hữu lao động giá rẻ không còn là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của các quốc gia trên toàn cầu. Các ngành nghề truyền thống đang trải qua sự thay đổi mạnh mẽ, điều này dẫn đến việc thị trường lao động quốc tế trở nên phân hóa rõ rệt giữa hai nhóm lao động: nhóm có kỹ năng thấp và nhóm có kỹ năng cao.
Điều này đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp muốn thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Thứ ba, sự cạnh tranh gay gắt về nguôn nhân lực Trước hết, sự cạnh tranh nguồn nhân lực đang diễn ra mạnh mẽ trong các lĩnh vực công nghệ đang trở nên phô biến và áp dụng rộng rãi trong thực tế. Điều này tạo ra áp lực lớn trong việc tuyên dụng và phát triển nguồn nhân lực liên quan. Tại Việt Nam, nhân tài trong các ngành như trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, xe ôtô tự lái và robotic đang trở thành đối tượng "hot" và được các doanh nghiệp săn lùng mạnh mẽ, với mức lương cạnh tranh cao.