phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm ba chương như sau: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về Văn hoá công sở và xây dựng Quy chế văn hoá công sở. Cơ sở pháp lý và thực tiễn để xây dựng Quy chế văn hoá công sở cho cơ quan Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Đề xuất quy trình xây dựng, cấu trúc và nội dung Quy chế văn hoá công sở cho cơ quan Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình khảo sát, tìm hiểu đề tài và thực hiện đề tài nhưng luận văn của chúng tôi không thể tránh khỏi những hạn chế. Tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và đồng nghiệp để có thể hoàn thiện luận văn của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2019 Học viên Nguyễn Thị Hồng 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ CÔNG SỞ VÀ XÂY DỰNG QUY CHẾ VĂN HOÁ CÔNG SỞ 1. Hệ thống các khái niệm về văn hoá, văn hoá công sở, quy chế văn hoá công sở 1.
Khái niệm “Văn hoá” “Văn hoá” là một khái niệm được sử dụng rất phổ biến trong đời sống xã hội. Văn hoá là hiện tượng, một phạm trù thuộc về con người. Xung quanh vấn đề khái niệm “văn hoá” có rất nhiều quan điểm khác nhau. Theo nghĩa rộng, văn hoá được hiểu là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được đặt trong phạm vi nếp sống, lối sống, đạo đức xã hội bao gồm khoa học, kĩ thuật, giáo dục, văn hoá văn nghệ. Theo nghĩa gốc của từ “Văn hoá”: Ở Phương Tây, văn hoá - Culture (tiếng Anh, Pháp) hay Kultu (tiếng Đức)… đều xuất phát từ chữ Latinh - Cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực. Sau đó từ “Cultus” được mở rộng nghĩa dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người. Ở Phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ “Văn hoá” bao gồm hàm ý nghĩa “văn” là chỉ vẻ đẹp của nhân cách, tri thức, trì tuệ; “hoá” chính là sự biến đổi hướng tới sự tốt đẹp.
Như vậy, văn hoá trong từ nguyên gốc của cả Phương Đông và Phương Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách của con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Cùng với thời gian, từ “văn hóa” đã mang thêm nhiều nội dung mới. Trong cuốn “Văn hoá Việt Nam và những cách tiếp cận mới” do Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm 1994, Giáo sư Phan Ngọc cho biết trên thế giới có 6 đến hơn 400 định nghĩa về văn hoá. Điều đó cho ta thấy sự phong phú, đa dạng và phức tạp của khái niệm này, dưới đây là 02 định nghĩa tiêu biểu: Thứ nhất là định nghĩa của Federico Mayor, tổng thư ký UNESCO đã nêu ra nhân lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1988-1997): “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”.1 Theo định nghĩa này, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người. Thứ hai là định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” 2 Từ những định nghĩa trên, có thể thấy văn hoá được tiếp cận ở nhiều hình thức khác nhau.
Nhưng dù định nghĩa ở góc độ nào, văn hoá vẫn là toàn thể những giá trị vật chất, tinh thần của con người. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa:“Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong thực tiễn, trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” 3 1 Federico Mayor, Lễ phát động thập kỷ phát triển văn hoá, UNESCO 1989, tr. 2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2000, tập 3, tr. Phan Ngọc, Văn hoá Việt Nam và các tiếp cận mới, NXB Văn hoá Thông tin, 2005, tr.
Khái niệm “công sở” “Công sở” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Theo nghĩa rộng, “công sở” là những tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước để tiến hành những công việc chuyên ngành. Như vậy, công sở bao gồm các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp Nhà nước, bệnh viện, trường học … Theo nghĩa hẹp, “công sở” là cơ quan hành chính Nhà nước.
Đây là loại cơ quan trong bộ máy nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước thông qua hoạt động chấp hành, điều hành và thực hiện quản lý hành chính trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. “Công sở là nơi để tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính, soạn thảo, xử lý văn bản phục vụ cho công việc chung, là nơi phối hợp hoạt động của các cán bộ công chức theo một cơ chế nhất định"4 Theo đề tài của chúng tôi “công sở” được hiểu theo nghĩa là nơi tổ chức các hoạt động hoạch định, điều hành kiểm tra, giám sát công việc của một cơ quan, tổ chức để thực hiện mục tiêu chung. Khái niệm “văn hóa công sở” “Văn hoá công sở” là cụm từ được sử dụng khá nhiều trong cuộc sống cũng như một số văn bản quản lý Nhà nước hiện nay, VHCS bắt nguồn từ văn hoá tổ chức. Bất kỳ cơ quan, tổ chức nào qua quá trình hoạt động cũng sẽ có những phương thức lãnh đạo khác nhau hình thành nên giá trị văn hoá khác nhau.
Sự khác biệt đó tạo nên bản sắc riêng và giúp phân biệt các tổ chức khác nhau. Văn hoá tổ chức được quan niệm là “hệ thống những giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại với cơ cấu 4 GS.Nguyễn Văn Thâm,Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 8 chính thức và tạo nên những chuẩn mực hành động có tính truyền thống, tạo nên đặc điểm về cách thức làm việc của tổ chức mà mọi người trong đó đều tuân theo một cách tự nguyện". Cách định nghĩa trên cho chúng ta thấy trong một giới hạn nào đó, VHCS là cách thức điều hành công sở, các chuẩn mực về tư tưởng, hành động của nhân viên trong công sở được hình thành có định hướng nhằm nâng cao hoạt động của công sở.
Những giá trị VHCS tạo nên niềm tin, thái độ, phong cách làm việc của nhân viên. Trên cơ sở đó, VHCS có thể được định nghĩa như sau: “Văn hoá công sở là tổng hoà những giá trị hữu hình và vô hình, bao gồm trình độ nhận thức, phương pháp tổ chức, quản lí, môi trường - cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao” 5 Xuất phát từ định nghĩa trên, VHCS có thể được thể hiện thông qua những dấu hiệu điển hình, đặc trưng gọi là các biểu hiện. Biểu hiện của VHCS thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, phong phú, đa dạng và tuỳ thuộc vào tính chất công việc, độ sáng tạo của mỗi cơ quan nhằm hai mục đích sau: Thứ nhất, thể hiện những giá trị, triết lý, nguyên tắc mà cơ quan muốn thể hiện và mong muốn các đối tượng hữu quan nhận biết đúng đắn; Thứ hai, hỗ trợ cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong quá trình nhận thức, thực hiện khi ra quyết định và hành động. Biểu hiện trực quan Biểu hiện trực quan là những gì được nhìn thấy, sờ thấy, nghe và quan sát trực tiếp như quy mô và kiến trúc trụ sở, cảnh quan, phương tiện làm việc, cử 5 PGS.TS Vũ Thị Phụng - Trường ĐH KHXH & NV Hà Nộihttp://www.vn/d6/vi-VN/news/Van-hoa-cong-so-phan-anh-trinh-do-nhan- thuc-1-702-4646).
9 chỉ, hành vi của cán bộ, công chức. Biểu hiện trực quan thể hiện ở một số nội dung như sau: * Đặc điểm, quy mô kiến trúc trụ sở: gồm phong cách, màu sắc, kiểu dáng kiến trúc và thiết kế. Đặc trưng kiến trúc của cơ quan bao gồm hai phần kiến trúc ngoại thất và thiết kế nội thất công sở. Kiến trúc ngoại thất có thể có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con người về phương diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc.
* Các hoạt động tập thể: bao gồm các nghi thức, lễ hội, các sự kiện văn hoá - thể thao công sở. Những hoạt động tập thể nơi công sở giúp giới thiệu và truyền đạt các giá trị chung của công sở; tạo điều kiện cho cán bộ, công chức cùng chia sẻ những giá trị chung đó. Nghi lễ (cereminies), nghi thức (rituals)là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng dưới hình thức các hoạt động, sự kiện văn hoá - xã hội chính thức được thực hiện định kỳ hay bất thường. Nghi lễ, nghi thức được tổ chức trang nghiêm, tình cảm nhằm thắt chặt mối quan hệ các cá nhân trong tập thể và thường được tổ chức vì lợi ích của những người tham dự.
Nghi lễ thường được tiến hành theo một cách thức nhất định, các nghi thức thường được thiết kế một cách kỹ lưỡng và sử dụng như những hình thức để thể hiện nghi lễ. Mức độ nghiêm túc trong việc thực hiện nghi thức là dấu hiệu phản ánh nhận thức của các cán bộ, công chức, viên chức trong mỗi cơ quan về ý nghĩa và tầm quan trọng của các giá trị và triết lý này đối với họ.