CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE QUA TRINH SAN XUẤT TOI TẠI XÃ THUY TRUONG, HUYỆN THAI THUY, TINH THÁI BÌNH 1.1 Téng quan về xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tinh Thái Binh Thái Thụy là một trong số những huyện giáp biển, có điều kiện về vị trí địa lí, khí hậu thuận lợi để phát triển các giống cây nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Ngoài trồng lúa vào hai vụ Đông Xuân và Hè Thu thì người dân nơi đây còn trồng thêm các giống cây hoa màu đặc trưng như hành, tỏi, thuốc lào, dưa. Những giống cây trồng này mang lại năng suất cao và giá thành ổn định.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên Thụy Trường là một xã thuần nông với hai hướng đi chính là trồng trọt và chăn nuôi. Phía Đông xã giáp biển Đông, phía Tây giáp xã Thụy An, phía Bắc giáp sông Hóa (sang sông là huyện Tiên Lãng, Hải Phòng), phía Nam giáp xã Thụy Xuân.
[9, 5] Trên địa bàn xã không có đường trục huyện chạy qua nên giao thông cũng có phan bị hạn chế. Với điều kiện hai mặt giáp biển và sông, thuận tiện cho công tác tưới tiêu, thủy lợi, bồi đắp phù sa hàng năm cho đất nông nghiệp. Về thủy văn, là một xã thuộc châu thổ sông Hồng, Thụy Trường có hệ thống sông ngòi, kênh mương day đặc. Nguốn nước của xã khá dồi dao nhưng khó khăn trong việc khai thác cho việc thau chua rửa mặn, phát triển các loại cây trồng.
Hệ thống sông ngòi của xã Thụy Trường khá nhiều với ba con sông Thái Bình, sông Sinh, sông N2 chảy qua các thôn Lỗ Trường, Tri Chi Phú, Chỉ Bồ, Đông Ninh là nguồn tưới tiêu chủ động cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Nguồn nước tưới chủ yếu của xã chủ yếu lấy từ sông N2. Đây là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, gop phân vào việc cung cap nước tưới cho các cánh đồng vào mùa khô.w lượng nguồn nước ngọt tương đối tốt, chưa bị ô nhiễm, hàm lượng phù sa nhiều, phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp. Diện tích của xã là 984,50 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 724,70 ha, chiếm 76,22% tổng số diện tích đất tự nhiên.
[9, 6] Đất nông nghiệp phần lớn là đất ven biển, đất bãi được phù sa bồi đắp từ hệ thống sông Hóa, Sông Thái Bình với khí hậu đặc trưng. Các cuộc khảo sát đánh giá chất lượng đất trồng cho thấy ở sâu 2-3 m có tram tích biển, lớp vỏ sò, xen lẫn các xác cây sú, vẹt. Đất có mau nâu tươi, ánh sắc tím và nồng độ PH từ 4. [14] Với điều kiện này, phù hợp với giống cây trồng như hành, tỏi, thuốc lào, những loại cây chịu được đất chua mặn, nhiều kali.
Hơn nữa địa hình của xã thuộc đồng bằng châu thé, với độ dốc < 10 thấp dan từ khu dân cư ra sông. Tính chất bằng phang của địa hình chỉ bị phá vỡ bởi các sông ngòi, kênh mương và một SỐ go nam rải rác. Độ cao bề mặt hầu hết từ 0,70m đến 1,25m so với mực nước biển, mức độ địa hình chênh lệch không qua 1m, khá cao so với các khu vực khác trong huyện nên có khả năng chống ngập cao, tiêu ung nhanh. Khác với cây tỏi Lý Son, được trồng trên ruộng cát trắng, được người nông dân đem cát từ biển về để phủ lên mặt luống 2 — 3 cm, có tác dụng phản quản (ánh nang mặt trời) giúp cây trồng mát hơn, phát triển tốt hơn thì nhờ vào khí hậu âm nhiệt đới cùng với chất đất chua mặn, pha đất cát giúp cây tỏi Thái Thụy có điều kiện phát triển dễ dàng hơn so với cây tỏi các vùng khác.
Khí hậu nơi đây thuộc nhiệt đới âm gió mùa, với đặc điểm khí hậu thời tiết khác nhau ở bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa hạ nóng 4m, mưa nhiều, thường có bão, mùa đông lạnh, khô hanh nhưng không kéo đài liên tục mà có những ngày nắng ấm hoặc mưa 4m. Quanh năm bức xạ mặt trời lớn nên nền nhiệt độ cao. Số giờ nắng trung bình trong năm 1.800 giờ/ năm với tổng lượng nhiệt Q = 8.
Nhiệt độ trung bình năm từ 23°C - 24C, nhiệt độ nóng nhất 38°C — 39°C vào tháng 6-8, nhiệt độ lạnh nhất 10°C — 15°C vào tháng 1, 2. Độ ẩm a tương đối cao, khoảng 85-90 %. Khí hậu có sự thay đổi theo mùa, lượng mua phân theo hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng V cho đến tháng X, chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm, tháng VII và tháng VIII là hai tháng có lượng mưa cao nhất.
Mùa khô bắt đầu từ tháng XI đến tháng IV năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15-20% tổng lượng mưa trong năm. Trong mùa mưa, hướng gid thịnh hành là gió đông nam, còn mùa khô là gió đông bắc. [9, 5] Cây tỏi được trồng vào mùa khô dé tránh hiện tượng úng, ngập nước làm thối củ. Do chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: gió Đông Bắc vào mùa lạnh, gió Đông Nam thổi vào mùa nóng với tốc độ trung bình 2-3m/s.
Vào các tháng 6,7 có xuất hiện vài đợt gió Tây khô nóng, mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau có những đợt rét đậm kéo đài. Ngoài ra hàng năm xã còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của 2 — 3 cơn bão với sức gió và lượng mưa lớn gây ảnh hưởng cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của người dân. Như vậy, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng, năng suất, sự phát triển của cây tỏi. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên * Thuận lợi: Xã Thụy Trường có vi trí khá thuận lợi, giáp biển, có hệ thống sông Thái Bình chảy qua, là điều kiện giao thương, buôn bán, tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt với thích hợp với sự phát triển của cây tỏi.
Địa hình bằng phẳng, chất lượng đất tốt, kết hợp với hệ thống thủy lợi nội đồng tương đối hoàn thiện là những điều kiện cơ bản dé đầy nhanh tốc độ sản xuất nông nghiệp trong đó có cây tỏi. Điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng, hình thành, phát triển các vùng sản xuất chuyên canh theo hướng hàng hóa với các cây ngăn ngày, dài ngày, có quy mô vừa và nhỏ, nuôi 7 trồ ng thủ y sản có hiệ u quả kin h tế cao , đảm bảo môi trư ờng sin h thái phá t triển bền vững, làm cơ sở cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Như vậy dễ dàng hình thành các vùng chuyên trồng tỏi, thuận lợi cho quá trình theo dõi sự phát triển, sinh trưởng của cây. * Khó khăn: Là một xã giáp biển nên Thụy Trường cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ thiên nhiên.
Với chế độ khí hậu theo mùa ảnh hưởng không nhỏ đối với đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân trong xã. Mùa mưa với lượng mưa lớn, mực nước dâng cao không chỉ gây lũ lụt, úng hạn cục bộ một phần không nhỏ tới diện tích đất nông nghiệp. Cây tỏi là loại cây ưa khí hậu khô ráo mát mẻ, tuy nhiên với tình hình thời tiết biến đối thất thường như hiện nay cây tỏi có nguy cơ đối mặt với ngập ung bat thường, sau bệnh tấn công.2 Điều kiện xã hội Dân số của xã năm 1999 là 8879 người, mật độ dân số 964 ngudi/km’. Đến năm 2011 dân số là 9388 nhân khẩu, 2346 hộ, phân bố không đồng đều ở 9 thôn: Tri Chỉ Nam, Tri Chỉ Phú, Chỉ Bồ, Tam Tri, Đồng Xuân, Đông Ninh, Thượng Phúc, Trường Xuân và Lỗ Trường.
[9, 8] Hầu hết các hộ dân đều làm nông nghiệp, một số hộ dân thuộc thôn Trường Xuân, Tam Tri có chăn nuôi thủy hải sản. Tổng số lao động trong độ tuổi là 4143 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 3138 người, chiếm 75,74% số lao động trong toàn địa bàn xã. [9] Như vậy có thé nói xã Thụy Trường có nguồn nhân lực lao động nông nghiệp dỗi dào, có tiềm năng cho phát triển nông nghiệp. Mỗi hộ nông đân đều có một điện tích đất nông nghiệp nhất định dé canh tác.
Năm 2015, việc dồn điền đổi thửa thực hiện xây dựng nông thôn mới theo quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 — 2020, xã Thụy Trường đã dồn điền đổi thửa đạt được thành tích đáng kẻ. Số thửa/hộ gi ảm từ 4,5 th ửa /h ộ xu ốn g 1,4 thử a/h ộ, diệ n tíc h/t hửa tăng từ 463m” lên 1650mỶ [8] hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng được đảm bảo. Đây là độn g lực giú p bà con nôn g dân xã yên tâm can h tác, có hứn g khở i trong lao động, tạo thuận lợi cho quá trình canh tác hoa màu cũng như trồng lúa nước. Bên cạnh đó trong quyết định số 57/QD - BKHCN của Bộ Khoa học và công nghệ về việc phê duyệt Danh mục dự án thuộc chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ để tuyển chọn bé sung thực hiện trong hai năm 2012 — 2013 ban hành ngày 19/01/2012, tỏi Thái Thụy được liệt kê vào danh sách, với mục tiêu tạo lập, quản lí và phát triển nhãn hiệu tập thê “tỏi Thái Thụy”.
Điều này có tác động không nhỏ tới đời sống của các hộ nông dân trồng, sản xuất, tiêu thụ tỏi.2 Khái niệm nhãn hiệu tập thể Nhãn hiệu có vai trò rất lớn trong thương mại, nó không những giúp người tiêu dùng phân biệt, lựa chọn được hàng hóa đúng cách mà còn giúp các doanh nghiệp tạo dựng uy tín, chất lượng cho sản phẩm hàng hóa của mình. Việt Nam đã tham gia, là thành viên của các điều ước quốc tế quan trọng trong quy định về nhãn hiệu như Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (sau đây được viết tắt là “Công ước Paris”), Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (sau đây được viết tắt là “Thỏa ước Madrid”), Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (sau đây được viết tắt là “Nghị định thư Madrid”), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (sau đây được viết tắt là “Hiệp định TRIPS”) và Hiệp định thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000. Tuy nhiên, thuật ngữ “nhãn hiệu” và “thương hiệu” rat dé gây nhằm lẫn. Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) nhãn hiệu (trademark) là “các dấu hiệu dùng dé phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau” [21].