Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng nguồn nhân lực từ năm 2001 đến năm 2013" do nghiên cứu sinh Hà Vũ Tuyến thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Đăng Tri. Luận án được bảo vệ thành công tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017, thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, mã số đào tạo 62 22 03 15.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định rõ: Bước vào thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế tri thức đòi hỏi các quốc gia phải coi trọng phát triển nguồn lực con người để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Tại Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2011) đã xác định phát triển nhanh nguồn nhân lực (NNL), nhất là NNL chất lượng cao, là một trong những khâu trọng tâm gắn liền với đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục quốc dân. Đối với tỉnh Vĩnh Phúc, sau khi tái lập tỉnh vào năm 1997, kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, quy mô sản xuất mở rộng mạnh mẽ. Tuy nhiên, trước năm 2001 và những năm đầu thế kỷ XXI, chất lượng NNL của tỉnh còn thấp, thiếu hụt đội ngũ chuyên môn kỹ thuật giỏi, thiếu cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề; khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của lao động nông thôn còn hạn chế. Để đáp ứng yêu cầu mới, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều chủ trương như Đề án phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH giai đoạn 2008 - 2015 (năm 2007), Nghị quyết số 06/NQ-TU (năm 2008) và Đề án Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 (năm 2011). Dù vậy, trước thời điểm nghiên cứu sinh thực hiện luận án, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, toàn diện và có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác xây dựng NNL từ năm 2001 đến năm 2013 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng NNL phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH từ năm 2001 đến năm 2013, tổng kết thực tiễn và đúc kết những kinh nghiệm lịch sử, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương xây dựng NNL trong giai đoạn phát triển tiếp theo của tỉnh.

Nhiệm vụ nghiên cứu được luận án xác định gồm 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu, luận giải làm rõ yêu cầu khách quan đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong việc xây dựng NNL từ năm 2001 đến năm 2013.
  2. Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng NNL từ năm 2001 đến năm 2013.
  3. Nhận xét ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng NNL của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc để vận dụng vào thực tiễn.

Đối tượng nghiên cứu là chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng NNL từ năm 2001 đến năm 2013.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên các bình diện:

  • Về nội dung: Tập trung vào chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trên góc độ đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng NNL lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan hành chính sự nghiệp trong khu vực Nhà nước và các khu vực khác; NNL chuyên môn kỹ thuật trong khu vực công nghiệp, thành thị và khu vực nông nghiệp, nông thôn. Đối tượng nghiên cứu nằm trong độ tuổi lao động theo Bộ luật Lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi).
  • Về thời gian: Khảo sát trong 13 năm, từ năm 2001 (thời điểm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII) đến năm 2013 (thời điểm tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 06/NQ-TU ngày 25/02/2008 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV). Văn bản có đề cập bổ sung dữ liệu một số năm trước 2001 để bảo đảm tính liên tục lịch sử.
  • Về không gian: Giới hạn trên địa bàn lãnh thổ tỉnh Vĩnh Phúc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu đi trước theo các nhóm tài liệu cụ thể:

Nhóm các sách chuyên luận, chuyên khảo trong nước về nguồn nhân lực:

  • Tác phẩm "Nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước" của Mai Quốc Chính (1999) trình bày lý luận cơ bản, vai trò của NNL và kinh nghiệm quốc tế, thực trạng đào tạo NNL tại Việt Nam.
  • Các công trình "Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH" (1995) và "Nghiên cứu con người và NNL đi vào CNH, HĐH" (2001) của Phạm Minh Hạc phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển toàn diện của con người như thể lực, trí tuệ, y tế và giáo dục - đào tạo.
  • Công trình "Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay" của Hồ Anh Dũng (2002) và "Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành CNH, HĐH" của Vũ Huy Chương xác định giáo dục, đào tạo con người là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng kinh tế.
  • Tác phẩm "Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam" của Bùi Ngọc Lan (2002) định nghĩa trí tuệ là sản phẩm sáng tạo tinh thần, nghiên cứu điều kiện phát huy nguồn lực trí tuệ.
  • Cuốn sách "Phát triển NNL thông qua GD&ĐT kinh nghiệm Đông Á" của Lê Thị Ái Lâm (2003) phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ Trung Quốc (sau cải cách mở cửa 1978 coi trọng giáo dục nghề nghiệp), Nhật Bản (đào tạo thế hệ năng động, sáng tạo, làm việc độc lập) và Hàn Quốc (sử dụng giáo dục để phát triển NNL bù đắp sự thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên).
  • Các sách tiếp cận dưới góc độ kinh tế học và thị trường lao động như: "Thị trường lao động Việt Nam - Định hướng và phát triển" của Nguyễn Thị Lan Hương (2002); "Một số vấn đề phát triển thị trường lao động ở Việt Nam" của Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Hữu Hân (2003); "Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới" của Trần Nhâm (2004); "Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng NNL tài năng" của Trần Văn Tùng (2005); "Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH" của Vũ Bá Thể (2005); "Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam" của Đoàn Văn Khái (2005); "Phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH đất nước" của Nguyễn Thanh (2005).
  • Trong lĩnh vực lực lượng vũ trang: "Phát huy nhân tố con người đội ngũ cán bộ biên phòng trong bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia hiện nay" của Nguyễn Đình Hùng (2007) và "Nguồn lực tri thức khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Đình Minh.
  • Công trình "Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước" do Nguyễn Văn Khánh làm chủ biên (2010), thuộc Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước mã số KX, ứng dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành làm sáng tỏ nội hàm nguồn lực trí tuệ.

Nhóm các bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành:

  • Các nghiên cứu khẳng định mối quan hệ giữa văn hóa và con người: Võ Nguyên Giáp (Tạp chí Cộng sản, số 6/1990); Huỳnh Khái Vinh (Tạp chí Thông tin lý luận, số 3/1999); Đặng Hữu Toàn (Tạp chí Triết học, số 2/2000 và Tạp chí Khoa học xã hội, số 3/1997).
  • Các bài viết làm rõ cơ sở lý luận, vị trí và tính quyết định của nhân tố con người đối với tăng trưởng kinh tế: Nguyễn Quang Du (1994), Trọng Chuẩn (1994), Nguyễn Thế Nghĩa (1996), Phạm Văn Đức (1998), Đoàn Văn Khái (1995, 1997, 2000), Nguyễn An Ninh (1996), Vũ Thiện Vương (2001), Vũ Minh Chi (2002).
  • Các bài báo nghiên cứu chính sách phát triển NNL gắn với ngành nghề và thị trường lao động: Phạm Minh Hạc (Tạp chí Thông báo khoa học, số 1/2001) về chính sách đào tạo, tuyển dụng, tiền lương; Lê Thị Ngân (2003) về NNL trong CNH nông nghiệp nông thôn; Vũ Minh Mão và Hoàng Xuân Hòa (2004) về mối quan hệ giữa dân số và chất lượng NNL; bài viết trên Tạp chí Sài Gòn Đầu tư & Xây dựng (số 9/2006) về tác động của gia nhập WTO đối với cơ cấu lao động; Hà Khanh (2006) về giới trẻ trong mục tiêu thiên niên kỷ; Lưu Quang Tuấn (2006) về chuyển dịch nhân lực khoa học công nghệ và sự mất cân đối trình độ đào tạo; Nghiêm Đình Vỳ (2007) về đổi mới giáo dục; Trần Minh Yến (2007) về việc làm và đào tạo nghề; Bùi Ngọc Thanh (2008) về bài toán lao động trong điều kiện hội nhập; Đàm Hữu Đắc (2008) về đổi mới đào tạo nghề; Phạm Công Nhất (2008), Hoàng Văn Châu (2009) về thị trường nhân lực chất lượng cao trong khủng hoảng tài chính; Hoàng Thị Bích Loan (2009) về tiền lương, giá cả sức lao động; Lương Công Lý (2010) về quy chuẩn đào tạo nhân lực ngành giao thông vận tải.

Nhóm các đề tài khoa học, luận án, luận văn liên quan:

  • Đề tài cấp nhà nước KH-07 của Phạm Minh Hạc ("Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới"); đề tài KX của Nguyễn Minh Đường ("Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới").
  • Các luận án tiến sĩ: Trần Kim Hải (1998, Học viện An ninh) nghiên cứu sử dụng NNL trong CNH, HĐH; Nguyễn Thị Tú Oanh (1999) nghiên cứu nguồn lực thanh niên.
  • Các luận văn thạc sĩ: Bùi Thúc Vịnh nghiên cứu đào tạo NNL gắn với quốc phòng; Lê Văn Kỳ (2004, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) nghiên cứu phát triển NNL và việc làm tại tỉnh Thanh Hóa; Lê Quang Hùng nghiên cứu NNL chất lượng cao tại thành phố Đà Nẵng.

Nhóm công trình của các học giả nước ngoài:

  • Gary Becker (nhà kinh tế học đạt giải Nobel năm 1992) khẳng định đầu tư cho giáo dục và đào tạo mang lại nguồn lợi to lớn trong việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người.
  • Fischer và Dornbusch trong công trình "Economics" (McGraw-Hill, London) nhìn nhận nguồn lực con người là toàn bộ trình độ chuyên môn tích lũy qua đầu tư quá khứ để tạo thu nhập tương lai.
  • Marquardt M. và Engel D. (1993) trong "Global Human Resource Development" tiếp cận NNL dưới góc độ khoa học tổ chức, quản lý và năng lực kỹ thuật trước tác động của toàn cầu hóa.
  • Marc Effron, Robert Gandossy, Marshall Goldsmith trong tác phẩm "Human resources in the 21st century" cùng các học giả David Ulrich, Rosabeth Moss Kanter tổng kết vai trò trung tâm của NNL trong hoạt động sản xuất.
  • Pypco trong "Hệ thống con người và kỹ thuật quân sự" bàn về xây dựng bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn cho sĩ quan quân đội.
  • Các nghiên cứu của Harbison & Myers ("Education, Manpower, and Economic Growth"), Hakchung Choo ("Human Resource Policy and Economic Development"), Linda Low ("Human Resource Development in the Asia - Pacific") phân tích mối liên hệ tương hỗ giữa chính sách đầu tư nguồn lực con người với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Nhóm công trình viết về tỉnh Vĩnh Phúc:

  • Cuốn sách "Vĩnh Phúc người tốt việc tốt" (UBND tỉnh Vĩnh Phúc, 2005) ghi nhận đặc trưng con người địa phương.
  • Cuốn sách "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930 - 2005)" do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh biên soạn (Nxb Chính trị quốc gia, 2007) cung cấp tiến trình lãnh đạo kinh tế - xã hội (KT-XH) của Đảng bộ tỉnh từ sau năm 1975 đến năm 2000.
  • Cuốn sách "Địa chí Vĩnh Phúc" do Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Thế Trường chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, 2012) hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử, văn hóa và hệ thống chính trị của tỉnh từ thời tiền sử đến năm 2010.
  • Các tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Phúc: "Những tập thể, cá nhân điển hình trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Vĩnh Phúc" (2013) và "Vĩnh Phúc 65 năm xây dựng và phát triển" (2015) tổng kết các thành tựu phát triển KT-XH, nâng cao đời sống nhân dân và định hướng nâng cao chất lượng NNL.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trên đã tiếp cận vấn đề NNL ở các cấp độ lý luận chung, kinh nghiệm quốc tế, thị trường lao động toàn quốc, các ngành cụ thể hoặc khảo sát KT-XH tỉnh Vĩnh Phúc dưới dạng lịch sử Đảng bộ chung và địa chí. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu phản ánh một cách độc lập, trực tiếp và hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác xây dựng NNL từ năm 2001 đến năm 2013. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc phục dựng toàn diện đường lối, sự chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ tỉnh và đánh giá thực tiễn phát triển NNL địa phương trong 13 năm CNH, HĐH.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và NNL trong thời kỳ đổi mới. Khung phân tích bám sát quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý đội ngũ cán bộ, gắn xây dựng NNL với yêu cầu thực tiễn CNH, HĐH đất nước.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là phương pháp định tính của khoa học lịch sử:

  • Phương pháp chủ đạo: Luận án kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc. Phương pháp lịch sử tái hiện quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng NNL theo trình tự thời gian cụ thể (giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2013). Phương pháp lôgíc đi sâu phân tích bản chất, các mối quan hệ nguyên nhân - kết quả giữa chủ trương của Tỉnh ủy với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động tại địa phương.
  • Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng kết hợp các thao tác phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả lịch sử, đối chiếu, so sánh và hệ thống hóa tư liệu. Là luận án thuộc ngành Lịch sử Đảng, công trình không áp dụng các mô hình kinh tế lượng, kiểm định giả thuyết thống kê (p-value, hệ số hồi quy) hay các phần mềm toán định lượng.

Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án bao gồm:

  1. Văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
  2. Hệ thống văn kiện của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (2001), lần thứ XIV; các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy (Nghị quyết 03-NQ/TU năm 1998, Nghị quyết 02-NQ/TU năm 2001, Nghị quyết 03-NQ/TU năm 2002, Nghị quyết 06/NQ-TU năm 2008), các chỉ thị, quy định, kế hoạch, hướng dẫn của Tỉnh ủy.
  3. Các văn bản chỉ đạo và báo cáo tổng kết của Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND tỉnh Vĩnh Phúc (Quyết định số 12/2003/QĐ-UB, Quyết định số 3729/2004/QĐ-UB, Quyết định số 07/2005/QĐ-UB, Quyết định số 42/2005/QĐ-UBND, các đề án phát triển NNL năm 2007, 2011).
  4. Báo cáo lưu trữ, dữ liệu thống kê từ Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc.
  5. Sách chuyên khảo, công trình khoa học, bài báo tạp chí đã công bố và nguồn tư liệu điền dã do tác giả tự thu thập.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá chi tiết tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai mảng lớn: các nghiên cứu về xây dựng NNL nói chung và các nghiên cứu về NNL tỉnh Vĩnh Phúc. Tác giả phân chia rõ ràng các nhóm sách chuyên luận, các bài báo khoa học trên các tạp chí lý luận chính trị, nhóm đề tài - luận án - luận văn và các tài liệu của học giả quốc tế. Từ việc phân tích các thành tựu lý luận và thực tiễn của các học giả đi trước, chương này xác định những kết quả khoa học mà luận án có thể kế thừa (khái niệm NNL, cấu trúc, vai trò của nguồn lực con người, bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước) và chỉ rõ những vấn đề chưa được giải quyết. Đó là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về tiến trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng NNL từ năm 2001 đến năm 2013 dưới lăng kính khoa học Lịch sử Đảng.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2001 đến năm 2005

Chương 2 tập trung phân tích bối cảnh, các yếu tố tác động, chủ trương và kết quả chỉ đạo xây dựng NNL trong giai đoạn đầu của thời kỳ nghiên cứu:

1. Yếu tố tác động:

  • Điều kiện tự nhiên và dân số: Diện tích tự nhiên 1.236,5 km², gồm 9 đơn vị hành chính (thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện). Vị trí tiếp giáp Thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, địa hình chia thành 3 vùng sinh thái (đồng bằng, trung du, miền núi). Dân số năm 2010 là 1.000.337 người; dân số thành thị tăng từ 16,7% (năm 2005) lên 23% (năm 2010); năm 2013 đạt 1.029.400 người. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân thời kỳ 2000 - 2010 là 1,45%/năm.
  • Kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt 15%/năm. GDP bình quân đầu người tăng từ 3,83 triệu đồng (năm 2001) lên 9,1 triệu đồng (năm 2005) và đạt 33,6 triệu đồng (năm 2010). Ngành cơ khí chế tạo, lắp ráp ô tô, xe máy chiếm 37,59% GDP năm 2001 và tăng lên 59,68% năm 2013. Thu ngân sách nhà nước năm 2005 đạt 3.182,9 tỷ đồng (trong đó thu nội địa đạt 2.353,8 tỷ đồng).
  • Thực trạng NNL trước năm 2001: Chất lượng NNL nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu. Năm 1997, tỉnh có 11.748 cán bộ, công chức, viên chức (khối quản lý nhà nước: 911 người; khối sự nghiệp: 10.837 người). Năm 2000, trình độ đội ngũ quản lý, hành chính sự nghiệp gồm: 17 thạc sĩ trở lên; 3.162 đại học; 487 trung cấp; 202 trình độ khác; 1.101 người có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; 2.339 người có ngoại ngữ trình độ A trở lên. Về ngạch công chức có 40 cán bộ bầu cử, 02 chuyên viên cao cấp, 301 chuyên viên chính, 4.384 chuyên viên, 7.894 cán sự và 769 nhân viên. Đội ngũ thiếu cán bộ chuyên môn sâu về phần mềm, nông nghiệp sạch, quản lý công nghệ cao.
Chỉ tiêu theo dõi Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm 2013
Cơ cấu GDP (%)
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản 29,30 — 14,90 —
- Công nghiệp và xây dựng 39,20 — 56,20 62,20
- Dịch vụ 31,50 27,86 — 28,90
Cơ cấu lao động (%)
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản 86,44 68,14 — 53,93
- Công nghiệp và xây dựng 6,32 16,60 — 25,87
- Dịch vụ 7,24 15,26 — 27,20

2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh (2001 - 2005): Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII (2001) đề ra các mục tiêu cụ thể: đến năm 2005 giải quyết việc làm cho 15.000 - 16.000 lao động/năm; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 20 - 25%; chuyển dịch tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống 65 - 70%; giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống mức 11‰; phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ đào tạo nghề đạt 40%. Ban hành 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm: phát triển giáo dục phổ thông và nghề nghiệp; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, công chức; củng cố mạng lưới nhân lực y tế cơ sở; phát triển nhân lực văn hóa, thể thao; phát triển NNL dịch vụ và du lịch.

3. Chỉ đạo thực hiện và kết quả cụ thể:

  • Khu vực Nhà nước: Thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TU (1998) của Tỉnh ủy về công tác cán bộ đến năm 2010. Tỉnh ban hành Quyết định 12/2003/QĐ-UB về quy định bổ nhiệm cán bộ; Quyết định 42/2005/QĐ-UBND về phân cấp quản lý biên chế; Quyết định 3729/2004/QĐ-UB về quy chế thi tuyển công chức xã; Quy định 79/QĐ-TU (1998) về tuyển dụng điều động; Kế hoạch 19-KH/TU (2002) về luân chuyển cán bộ; Hướng dẫn 07-HD/TU (1999) về đánh giá cán bộ; Hướng dẫn 08-HD/TU (2005) về quy hoạch cán bộ; Quyết định 07/2005/QĐ-UB về chế độ cán bộ không chuyên trách cấp xã; Kế hoạch 87-KH/TU (2005) thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.
  • Kết quả giai đoạn 2001 - 2005: Bổ nhiệm, điều động và phân công công tác cho hơn 200 cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy, UBND tỉnh quản lý. Tuyển dụng 8.696 công chức, viên chức (gồm 735 công chức, 7.961 viên chức), trong đó 100% đạt chuẩn ngạch và 30% vượt tiêu chuẩn quy định về tin học, ngoại ngữ. Thực hiện thuyên chuyển 362 công chức, viên chức (phần lớn thuộc ngành giáo dục). Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho hơn 10.400 lượt cán bộ, công chức cấp xã về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và tin học.
  • Khu vực ngoài nhà nước và dịch vụ - du lịch: Ban hành Nghị quyết 02-NQ/TU (2001) về phát triển thị xã Vĩnh Yên; Nghị quyết 03-NQ/TU (2002) về định hướng phát triển KT-XH huyện Mê Linh gắn với quy hoạch phát triển 3 tiểu vùng; tập trung đầu tư nhân lực cho các trung tâm thương mại và khu du lịch Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lải.

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng nguồn nhân lực từ năm 2006 đến năm 2013

Chương 3 trình bày sự phát triển của công tác lãnh đạo xây dựng NNL trong giai đoạn tỉnh hội nhập sâu rộng:

  • Yêu cầu mới: Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007; kinh tế Vĩnh Phúc phát triển theo chiều rộng với 20 khu công nghiệp tập trung được quy hoạch với diện tích trên 5.000 ha; thu ngân sách năm 2013 đạt trên 18.000 tỷ đồng. Cơ cấu lao động đòi hỏi sự điều chỉnh nhanh để đáp ứng ngành công nghiệp ô tô, xe máy và các ngành dịch vụ hỗ trợ. Đồng thời phát sinh nhu cầu đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho bộ phận nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp.
  • Chủ trương mang tính bước ngoặt: Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết số 06/NQ-TU ngày 25/02/2008 của Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIV) về phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm: lấy đào tạo nghề, đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao làm khâu đột phá; lấy nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH. Tiếp đó, UBND tỉnh ban hành Đề án phát triển NNL giai đoạn 2008 - 2015 (năm 2007) và Đề án Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 (năm 2011).
  • Chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng NNL hành chính sự nghiệp: Thực hiện rà soát quy hoạch, đào tạo sau đại học, cử cán bộ đi học tập kinh nghiệm tại nước ngoài, siết chặt tiêu chuẩn thi tuyển công chức, viên chức. Đến năm 2013, tổng số cán bộ, công chức, viên chức toàn tỉnh đạt 23.231 người (tăng hơn 198% so với năm 1997), phân bổ gồm: cơ quan Đảng, đoàn thể 1.070 người; quản lý nhà nước 1.768 người; đơn vị sự nghiệp 17.881 người; cán bộ, công chức cấp xã 2.512 người.
  • Chỉ đạo phát triển NNL chuyên môn kỹ thuật: Xây dựng mạng lưới trường nghề, trường cao đẳng chuyên nghiệp; gắn kết đào tạo giữa các trường với doanh nghiệp trong khu công nghiệp; thực hiện chính sách hỗ trợ học phí học nghề cho lao động nông thôn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2013 đạt 51,2% (cao hơn mức 40% của toàn quốc); bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho trên 20.000 lao động; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới giảm còn 11,05%; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 15%; đạt tỷ lệ 7 bác sĩ trên 1 vạn dân.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 đưa ra những đánh giá tổng hợp về toàn bộ quá trình lãnh đạo và đúc kết các bài học lịch sử:

1. Nhận xét chung:

  • Về chủ trương và sự chỉ đạo: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã nắm bắt sát sao chủ trương của Trung ương, vận dụng phù hợp với đặc thù một tỉnh công nghiệp đang phát triển. Hệ thống chỉ đạo ban hành kịp thời, có trọng tâm trọng điểm, ban hành kịp thời các nghị quyết chuyên đề cho từng lĩnh vực (cán bộ, đào tạo nghề, phát triển đô thị).
  • Về kết quả đạt được: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phát triển nhanh về quy mô, chất lượng chuyên môn được nâng cao. Lao động qua đào tạo tăng lên 51,2%. Cơ cấu lao động dịch chuyển nhanh theo hướng tích cực: tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm mạnh từ 86,44% (năm 2000) xuống còn 53,93% (năm 2013); lao động công nghiệp - xây dựng tăng từ 6,32% lên 25,87%; lao động dịch vụ tăng từ 7,24% lên 27,20%. Sự phát triển NNL là nhân tố then chốt đưa Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh có đóng góp ngân sách hàng đầu cả nước.
  • Về hạn chế và nguyên nhân: Chất lượng NNL chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu CNH, HĐH chất lượng cao; thiếu hụt đội ngũ chuyên gia giỏi, kỹ sư công nghệ phần mềm, công nhân bậc cao. Cơ cấu lao động giữa các khu vực kinh tế phân bố chưa cân đối so với đóng góp GDP (khu vực nông nghiệp chiếm tới 53,93% tổng lao động nhưng chỉ tạo ra 14,9% GDP năm 2010). Trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu do xuất phát điểm kinh tế thuần nông, tích lũy đào tạo trước năm 2001 thấp; công tác quy hoạch, đánh giá cán bộ và dự báo thị trường lao động tại một số thời điểm chưa theo kịp tốc độ mở rộng các khu công nghiệp.

2. Một số kinh nghiệm lịch sử:

  • Trong hoạch định chủ trương: Phải bám sát thực tiễn phát triển KT-XH địa phương, đánh giá đúng thực trạng cung - cầu lao động để xác định khâu đột phá; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với quy hoạch nguồn lực con người; có quan điểm chỉ đạo nhất quán coi trọng đào tạo nghề và xây dựng cán bộ lãnh đạo.
  • Trong chỉ đạo thực hiện: Phải gắn kết chặt chẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ; đổi mới chính sách tiền lương, phụ cấp, thu hút nhân tài; huy động các nguồn lực tài chính đa dạng cho cơ sở vật chất giáo dục và đào tạo; tạo mối liên kết hữu cơ giữa chính quyền địa phương, cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp sử dụng lao động.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử như sau:

  1. Góp phần hệ thống hóa toàn diện, có căn cứ khoa học chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong lãnh đạo xây dựng NNL từ năm 2001 đến năm 2013, làm rõ bước chuyển biến qua hai giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 - 2013.
  2. Dựng lại bức tranh lịch sử chân thực, đưa ra những nhận xét khách quan về ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng NNL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn nghiên cứu.
  3. Tổng kết thực tiễn, đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học về hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện, có khả năng vận dụng trực tiếp vào công tác lãnh đạo xây dựng NNL của tỉnh Vĩnh Phúc và làm tư liệu đối sánh cho các địa phương khác trong cả nước.
  4. Cung cấp nguồn tài liệu lịch sử chuyên khảo phục vụ nghiên cứu khoa học và giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương tại các trường chính trị, cơ sở giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát theo mốc lịch sử kết thúc vào năm 2013 (thời điểm tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 06/NQ-TU của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc), do đó chưa bao quát được các biến động của chính sách và thực trạng NNL địa phương trong giai đoạn sau năm 2013.
  • Công trình chủ yếu tập trung vào NNL lãnh đạo, quản lý hành chính sự nghiệp và NNL chuyên môn kỹ thuật trong độ tuổi lao động theo quy định pháp luật; chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu đối với NNL ngoài độ tuổi lao động hoặc các nhóm lao động tự do đặc thù.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng giai đoạn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng NNL từ năm 2014 đến năm 2020 và các năm tiếp theo để đánh giá kết quả thực hiện trọn vẹn Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh đến năm 2020.
  • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về NNL công nghệ cao phục vụ các ngành công nghiệp phụ trợ, cơ khí chính xác và chuyển đổi số trong hệ thống quản trị hành chính công của tỉnh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Cán bộ lãnh đạo, cơ quan tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương: Giúp nắm bắt thực tiễn lịch sử, phục vụ công tác xây dựng quy hoạch nhân lực, xây dựng cơ chế chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo bồi dưỡng cán bộ và phân luồng lao động kỹ thuật.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử được tổng hợp từ hệ thống văn kiện Đảng bộ, số liệu hành chính của các sở ban ngành tại Vĩnh Phúc; làm tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng, Quản trị nhân lực khu vực công.
  • Các địa phương có điều kiện tương đồng: Các bài học kinh nghiệm về giải quyết bài toán chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp - xây dựng và dịch vụ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với các tỉnh đang trong tiến trình công nghiệp hóa nhanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2001 - 2005 được Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (2001) đề ra như thế nào? Đại hội XIII đề ra mục tiêu: Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 20 - 25%; chuyển dịch tỷ trọng lao động trực tiếp trong nông nghiệp xuống còn 65 - 70% lực lượng lao động; giải quyết việc làm cho 15.000 - 16.000 người/năm; giảm tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên xuống mức 11‰; định hướng đến năm 2010 tỷ lệ đào tạo nghề đạt 40%.

2. Điểm mấu chốt trong quan điểm của Nghị quyết số 06/NQ-TU ngày 25/02/2008 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về phát triển nguồn nhân lực là gì? Nghị quyết số 06/NQ-TU xác định hai quan điểm trọng tâm: "Lấy đào tạo nghề, đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao làm khâu đột phá; lấy nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH".

3. Cơ cấu lao động của tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự chuyển dịch cụ thể như thế nào từ năm 2000 đến năm 2013? Tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh từ 86,44% (năm 2000) xuống 68,14% (năm 2005) và tiếp tục giảm còn 53,93% (năm 2013). Đồng thời, tỷ trọng lao động công nghiệp và xây dựng tăng từ 6,32% (năm 2000) lên 16,6% (năm 2005) và đạt 25,87% (năm 2013); lao động dịch vụ tăng từ 7,24% (năm 2000) lên 15,26% (năm 2005) và đạt 27,20% (năm 2013).

4. Quy mô đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Vĩnh Phúc thay đổi ra sao giữa năm 1997 và năm 2013? Năm 1997 (khi mới tái lập tỉnh), toàn tỉnh có 11.748 cán bộ, công chức, viên chức (khối quản lý nhà nước: 911 người; khối sự nghiệp: 10.837 người). Đến năm 2013, tổng số cán bộ, công chức, viên chức đạt trên 23.231 người (tăng hơn 198% so với năm 1997), phân bổ gồm: 1.070 người trong cơ quan Đảng, đoàn thể; 1.768 người ở cơ quan quản lý nhà nước; 17.881 người tại các đơn vị sự nghiệp và 2.512 cán bộ, công chức cấp xã.

5. Kết quả tuyển dụng và bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2001 - 2005 đạt được những chỉ số nào? Trong 5 năm, toàn tỉnh đã tuyển dụng 8.696 công chức, viên chức (gồm 735 công chức và 7.961 viên chức), đảm bảo 100% đạt chuẩn ngạch và có 30% cán bộ tuyển dụng vượt tiêu chuẩn quy định về ngoại ngữ, tin học. Tỉnh đã bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và phân công công tác cho hơn 200 cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy, UBND tỉnh quản lý; thuyên chuyển 362 công chức, viên chức; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho hơn 10.400 lượt cán bộ, công chức cấp xã.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Lịch sử của tác giả Hà Vũ Tuyến đã làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng nguồn nhân lực trong giai đoạn 2001 - 2013, gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương từ thuần nông sang công nghiệp và dịch vụ. Công trình hệ thống hóa đầy đủ các chủ trương, biện pháp chỉ đạo đối với đội ngũ cán bộ hành chính sự nghiệp và lao động kỹ thuật, đồng thời ghi nhận bước tăng trưởng rõ rệt về quy mô và tỷ lệ lao động qua đào tạo (đạt 51,2% năm 2013). Qua việc phân tích thẳng thắn những hạn chế về sự phân bổ lao động và chất lượng chuyên môn sâu, luận án đã đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn cho công tác quản trị, phát triển nhân lực trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.