phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn kết cấu theo 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu h t nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thực trạng thu h t nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Ph Yên. Giải pháp thực hiện thu h t nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Ph Yên.
9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TRONG CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Nguồn nhân lực chất lượng cao 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo Liên Hiệp Quốc, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣ i có quan hệ tới sự phát triển của m i cá nhân và của đất nƣớc.
Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣ i bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…. Theo T chức Lao động quốc tế: nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣ i trong độ tu i có khả năng tham gia lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con ngƣ i cho sự phát triển. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tu i lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là t ng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Theo quan niệm của kinh tế phát triển, nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tu i quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện trên hai mặt: về số lƣợng, đó là t ng số những ngƣ i trong độ tu i lao động làm việc theo quy định của Nhà nƣớc và th i gian lao động có 10 thể huy động đƣợc t họ; về chất lƣợng, đó là sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của ngƣ i lao động. T những quan niệm trên, tiếp cận dƣới gốc độ của kinh tế chính trị có thể hiểu: nguồn nhân lực là t ng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc. Ở nƣớc ta, khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng rộng rãi t khi bắt đầu công cuộc đ i mới.
Điều này đƣợc thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Theo Giáo sƣ, Tiến sĩ Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần đƣợc hiểu là số lƣợng (số dân) và chất lƣợng con ngƣ i, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của ngƣ i lao động. Nó là t ng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng nào đó [6]. Nhƣ vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lƣợng nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tƣơng lai.
Nguồn nhân lực là t ng thể các tiềm năng lao động của một t chức, một địa phƣơng, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con ngƣ i thuộc các nhóm đó, nh tính thống nhất mà nguồn lực con ngƣ i biến thành nguồn vốn con ngƣ i đáp ứng yêu cầu phát triển [10]. Nhƣ vậy, xét dƣới các góc độ khác nhau có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, những khái niệm đã nêu đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, con ngƣ i với tƣ cách là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là 11 nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không chỉ đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà là sự t ng hợp của cả số lƣợng và chất lƣợng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tu i lao động mà là các thế hệ con ngƣ i với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Th i đại ngày nay, con ngƣ i đƣợc coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy, việc phát triển con ngƣ i, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực.
Đầu tƣ cho con ngƣ i là đầu tƣ có tính chiến lƣợc. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” [13]. T những phân tích nêu trên, ở dạng khái quát nhất, ta có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Trên thế giới, có hai thuật ngữ có liên quan thƣ ng đƣợc sử dụng là talent (nhân tài) và skilled worker (lao động có kỹ năng/trình độ) hay highly skilled worker (lao động có kỹ năng/chất lƣợng cao).
Talent (nhân tài) thƣ ng để chỉ những ngƣ i có tài năng, năng khiếu bẩm sinh để làm một công việc nhất định. Còn lao động có trình độ (cao) là để chỉ những ngƣ i có những kỹ năng thực hiện công việc thông qua quá trình đào tạo, huấn luyện hoặc làm việc. Nhƣng thông thƣ ng, thuật ngữ “nhân tài” vẫn đƣợc sử dụng để chỉ những ngƣ i có chất lƣợng cao, có năng lực, uy tín trong một lĩnh vực nghề 12 nghiệp nhất định. Ngoài ra, còn có các thuật ngữ có liên quan nhƣ thiên tài (ngƣ i có tài năng, năng khiếu thiên ph đặc biệt, hơn hẳn ngƣ i thƣ ng), hiền tài,… Có hai cách tiếp cận định nghĩa lao động có trình độ, phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và nguồn dữ liệu phân tích.
Cách thứ nhất cho rằng lao động có trình độ là ngƣ i có trình độ đào tạo ít nhất là ở bậc đại học (cao đẳng). Đây là cách tiếp cận khá thuận lợi cho công tác thống kê số liệu, vì thế thƣ ng đƣợc sử dụng rộng rãi. Cùng cách tiếp cận này, đôi khi, lao động có chất lƣợng cao (highly skilled worker) đƣợc xác định là ngƣ i đã qua đào tạo sau đại học hoặc có bằng tiến sĩ. Chẳng hạn, T chức Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ là t chức thu thập đầy đủ nhất bộ thông tin về các nhà khoa học và kỹ sƣ quốc tế và bộ thông tin này chỉ tập trung thông tin về những nhà khoa học/kỹ sƣ có bằng tiến sĩ trở lên.
Cách tiếp cận này, có một bất cập trên thực tế là có những ngƣ i đã t ng làm tốt những công việc đòi hỏi trình độ nhƣng lại chƣa tốt nghiệp bậc đại học hoặc bằng cấp của họ không đƣợc công nhận, chuyển đ i ở những quốc gia khác nhau nên t ngƣ i có trình độ, họ lại trở thành lao động không có kỹ năng. Thuật ngữ NNLCLC mới chỉ đƣợc sử dụng gắn với các hoạt động quản lý t chức trong xã hội hiện đại. Nội hàm của thuật ngữ này vẫn đang còn là vấn đề tranh luận giữa nhiều nhà nghiên cứu và nhà quản lý. Để có đƣợc khái niệm NNLCLC trong thực hiện chính sách thu h t nhân tài, học viên thực hiện việc tiếp cận quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu và nhà quản lý ở nƣớc ta nhƣ sau: Ở nƣớc ta, khái niệm NNLCLC lần đầu tiên đƣợc Đảng ta sử dụng trong văn kiện Hội nghị Trung ƣơng 9 (khóa IX) và khẳng định “…phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam”; “…xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa, 13 nhà kinh doanh, nhà quản lý”.
Tiếp tục phát triển quan điểm của Đảng về nguồn nhân lực chất lƣợng cao, Văn kiện Đại hội X đã chỉ rõ: “…phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; nhanh chóng xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngành, nghề, trình độ đào tạo, vùng, miền…”. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, đã nhấn mạnh: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”. Theo Kết luận số 86-KL/TW, ngày 24/01/2014 của Bộ Chính trị về chính sách thu h t, tạo nguồn sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, các nhà khoa học trẻ.
Kết luận nêu rõ chính sách này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, anh ninh trong th i kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế để t ng bƣớc đào tạo, bồi dƣỡng nhân tài đất nƣớc. Có chính sách phát triển nhân tài ngay t cơ sở đào tạo và thực tiễn công tác, áp dụng chính sách tuyển dụng trực tiếp không qua thi tuyển và khu vực công.