chương I. Phương pháp soạn thảo, khảo sát và phân tích trắc nghiệm Phương pháp này được sử dụng đề làm nên sản phẩm nghiên cứu của đề 6. Phương pháp thông kê toán học Phương pháp này được sử dụng trong khâu phân tích trắc nghiệm. Chương l1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁC NGHIỆM KHÁCH QUAN 1.Lịch sử nghiên cứu vẫn đề Trắc nghiệm khách quan là một trong những công cụ đo lường thành tích học tập.
Trên thế giới, việc học và thi diễn ra hàng nghìn năm trước đây, nhưng một khoa học đo lường trong giáo dục thực sự có thể xem như bắt đầu cách đây chỉ khoảng một thế kỷ. Ở Châu Âu và đặc biệt là ở Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kỳ từ trước và sau Thế chiến thứ hai với vài dấu mốc quan trọng như: Trắc nghiệm trí tuệ của Stanford-Binet xuất bản năm 1916, việc sử dụng máy IBM để chấm trắc nghiệm vào năm 1935. Với việc thanh lap National Council on Measurement in Education (NCME) vao thap nién 1950 va ra di Education Testing Service (ETS) năm 1947, va American Testing Service (ATS) sau d6, m6t nganh cong nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ. Từ đó đến nay, khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình chỉ trích đối với khoa học này cũng xuất hiện thường xuyên nhưng chúng không đánh đổ được nó mà chỉ làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn.
Hiện nay, ở Mỹ ước tính mỗi năm số lượng trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa cỡ 1⁄4 tỉ và trắc nghiệm do giáo viên soạn lên đến con số 5 tỉ. Cùng với sự phát triển của công nghệ tính toán, lý thuyết về đo lường trong tâm lý và giáo dục cũng phát triển rất nhanh, và lý thuyết Ứng đáp Câu hỏi (Iem Respond Theory- IRT) đã ra đời, đạt những thành tựu quan trọng nâng cao độ chính xác của trắc nghiệm. Tại Việt Nam, trước năm 1975 ở miền Bắc chỉ có một số nghiên cứu về đo lường trong tâm lý, trong khi ở miền Nam có một vài chuyên gia được đào tạo ở Mỹ về lĩnh vực này và kỳ thi tú tài năm 1974 đã triển khai bằng phương 5 pháp trắc nghiệm khách quan. Cho đến thập niên 90 của thế kỷ XX sự phát triển khoa học về đo lường trong giáo dục ở Việt Nam vẫn rất yếu.
Để khắc phục tình hình trên,Vụ Đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo đã mời một số chuyên gia từ nước ngoài sang tổ chức hội thảo, xuất bản sách, mặt khác cử một số giáo chức đại học đi học ở nước ngoài về khoa học này, và cho đến nay đã có hàng chục Ph. hoặc Master về lĩnh vực liên quan. Cũng từ đó một số trường đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp đo lường trong giáo dục để thiết kế các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng và cải tiến máy quét ảnh thông dụng để chấm thi. Một điểm mốc đáng ghi nhận là vào tháng 7/1996 kì thi tuyển đại học thí điểm bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được tổ chức tại trường Đại học Đà Lạt.
Rất tiếc là từ đó đến nay các hoạt động liên quan đến khoa học này tiến triển rất chậm. Mãi đếm năm 2006 mới áp dụng cho môn ngoại ngữ và năm 2007 với bốn môn thi cho kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Như đã trình bày ở trên, chỉ đến thập niên 70 của thế kỷ XX thì các mô hình đo lường dựa trên IRT mới ra đời. Nhờ các phương pháp tính tóan có tốc độ rất cao dựa vào máy tính, IRT phát triển rất nhanh và thu được rất nhiều thành tựu trong ba thập niên cuối của thế kỷ XX bước sang đầu thế kỷ XXI.
Người ta thường phân chia các lý thuyết trắc nghiệm ra thành hai loại: lý thuyết trắc nghiệm cổ điển hình thành trước khi ra đời IRT, và lý thuyết trắc nghiệm hiện đại với việc sử dụng IRT. IRT xây dựng các mô hình toán để xử lý dữ liệu dựa trên việc nghiên cứu mọi cặp tương tác nguyên tố “thí sinh-câu hỏi”(TS-CH) khi triển khai một trắc nghiệm khách quan. Mỗi thí sinh đứng trước một câu hỏi sẽ đáp ứng như 6 thế nào, điều đó phụ thuộc vào năng lực tiểm ẩn của thí sinh và các đặc trưng của câu hỏi. Hành vi đáp ứng này được mô tả bằng một hàm đặc trưng câu hỏi (Item Response Function) cho biết xác suất trả lời đúng câu hỏi tùy theo tương quan của năng lực thí sinh và các tham số đặc trưng cho câu hỏi.
Hiện nay có 3 mô hình toán phổ biến nhất trong IRT: mô hình 1 tham số (mô hình Rasch) chỉ xét đến độ khó của câu hỏi, mô hình 2 tham số có xét đến độ phân cách của câu hỏi, và mô hình 3 tham số. xét thêm mức độ đoán mò của thí sinh khi trả lời câu hỏi. So với lý thuyết trắc nghiệm cổ điển, lý thuyết trắc nghiệm hiện đại với IRT có những ưu việt quan trọng. Trong lý thuyết trắc nghiệm cổ điển, độ khó, độ phân cách của các câu trắc nghiệm tính được sẽ phụ thuộc vào mẫu thí sinh được chọn để thử nghiệm, va năng lực xác định được của thí sinh phụ thuộc vào đề trắc nghiệm mà thí sinh làm.
Với IRT, thành tưu kỳ diệu nhất mà các mô hình toán mang lại là các tham số đặc trưng của câu hỏi (liên quan đến độ khó, độ phân cách, mức độ đoán mò) không phụ thuộc vào mẫu thử và năng lực đo được của thí sinh không phụ thuộc vào bài trắc nghiệm cụ thể được lấy từ cùng một ngân hàng câu hỏi. Như vậy, theo TRT, mỗi câu hỏi có các thuộc tính đặc trưng cho nó, và mỗi thí sinh ở một trình độ nào đó có một năng lực tiềm ẩn xác định, các thuộc tính và đặc trưng này không phụ thuộc vào phép đo. Cũng tương tự như trong phép đo độ dài: mỗi cái thước dùng để đo có kích thước và kiểu khắc độ xác định, mỗi vật được đo có chiều dài xác định, phép đo là sự so sánh cái thước với vật được đo để biết được chiều dài vốn có của vật được đo, các phép đo khác nhau không được làm thay đổi các thuộc tính vốn có của của cái thước cũng như độ dài của vật được đo. I7 cho phép tính các hàm thông tin của 7 từng câu hỏi và của cả đề trắc nghiệm và sai số chuẩn của phép đo theo các mức năng lực tiềm ẩn chứ không phải một sai số chuẩn trung bình chung cho cả phép đo như trắc nghiệm cổ điển.
Từ đó có thể thiết kế một đề trắc nghiệm cho phép đo chính xác khoảng năng lực nào mà ta mong muốn. Hơn nữa, IRT cho phép thiết kế các để trắc nghiệm với mức độ tương đương rất cao để đảm bảo các để trắc nghiệm khác nhau có thể cho cùng kết quả như nhau khi đánh giá năng lực của một thí sinh nào đó. Các thành tựu quan trọng đó của IRT đã nâng độ chính xác của phép đo lường trong tâm lý và giáo dục lên một tâm cao mới về chất so với các lý thuyết đo lường cổ điển. Từ thành tựu tổng quát của IRT người ta có thể đưa ra các quy trình để xây dựng ngân hàng câu hỏi, phân tích các kết quả trắc nghiệm khách quan để tu chỉnh ngân hàng câu hỏi, chủ động thiết kế các để trắc nghiệm theo các mục tiêu mong muốn.
Việc ứng dụng các kết quả của khoa học đo lường hiện đại không chỉ giới hạn trong giáo dục. IRT áp dụng tốt cho các loại trắc nghiệm tâm lý, trắc nghiệm bệnh lý trong y tế, cho việc thiết kế các bảng hỏi và xử lý các cuộc điều tra tâm lý xã hội, điều tra thị trường khác nhau. Nói tóm lại nó là công cụ quan trọng cho việc nghiên cứu các phản ứng của con người trong các khoa học hành vi. Chính vì vậy mà ở các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, các công ty trắc nghiệm ETS, ATS áp dụng IRT cho các kỳ thi quan trọng để có kết quả xét tuyển vào đại học, sau đại học, tuyển dụng giáo viên; Viện Ý kiến công chúng Mỹ Gallup thiết kế các bảng hỏi dùng để thăm dò ý kiến công chúng: các doanh nghiệp thiết kế công cụ để thăm dò ý kiến khách hàng.
Ở các nước Âu Mỹ, trắc nghiệm thực sự trở thành một ngành công nghiệp lớn. Những điều trình bày trên cho thấy khoa học đo lường về giáo dục ở nước ta còn lạc hậu. Việc áp dụng khoa học này vào thực tiễn hoạt động đánh giá ở nước ta diễn ra quá chậm chạp. Trung Quốc bắt đầu du nhập khoa học này từ đầu thập niên 80 mà năm 1988 đã có thể tổ chức chính thức kỳ thi tuyển sinh đại học trên toàn lục địa bằng công nghệ mới, trong khi chúng ta đã bắt đầu tiếp thu khoa học này từ đầu thập niên 90, đã tổ chức thí điểm thi tuyển sinh tại Đà lạt từ năm 1996 mà cho đến nay vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm ở một số môn thi.
[10] Trên thị trường sách Việt Nam hiện nay có khá nhiều tài liệu trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo nhằm mục tiêu giúp học sinh có những câu hỏi làm phương tiện tự học, tự kiểm tra, chứ chưa đạt đến mục tiêu, chức năng của một công cụ đo lường khách quan. Bởi vì mỗi câu trắc nghiệm, mỗi bài trắc nghiệm được đưa ra không có các chỉ số thống kê kèm theo như độ khó, độ phân cách, hệ số tin cậy., không nói rõ quy trình soạn thảo và khảo sát, thử nghiệm ra sao. Đề tài “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Thống kê xã hội tại một số trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh” sẽ góp một phần nhỏ trong việc bổ khuyết những hạn chế của tài liệu trắc nghiệm hiện nay. Cơ sở lý luận của việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Thống kê xã hội tại một số trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh 1.Các thuật ngữ liên quan 1.
Khái niệm “mục tiêu” trong trắc nghiệm. Trong lĩnh vực giáo dục, mục tiêu có thể hiểu theo nhiều cách và nhiều mức độ khác nhau. Nó có thể phát biểu như mục tiêu của người thầy giáo, của `. v và rẻ , tA Ww 2 2 trường học, của học sinh hoặc của giáo dục nói chung.
Các mục tiêu ấy có thể là những mục tiêu tổng quát hay chuyên biệt, mục tiêu xa hay gần.