Chương 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TRI THỨC VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tri thức và đặc điểm cơ bản của tri thức khoa học 1. Khái niệm tri thức Trong lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại, vấn đề tri thức đã được bàn đến từ rất sớm. Tri thức, đặc biệt là tri thức khoa học chính là phương tiện để con người nhận thức thế giới.
Ngay từ đầu khi mới tách ra khỏi loài vật, con người đã phải đối mặt với các thế lực thiên nhiên hung hãn và bí ẩn. Để tồn tại và phát triển với tư cách là một loài độc lập, con người tự tìm hiểu thế giới xung quanh, dần dần phát hiện ra những đặc điểm, những mối liên hệ, những thuộc tính của thế giới, từ đó đúc kết, khái quát các hiểu biết riêng lẻ lại thành hệ thống các khái niệm, phạm trù, qui luật về thế giới nói chung. Những tri thức đó trải qua kiểm nghiệm, từng bước giúp con người thích nghi với thế giới. Hơn thế nữa chúng còn giúp con người cải tạo thế giới theo các nhu cầu lợi ích của mình.
Do vậy, tri thức gắn liền một cách tất yếu đối với con người, là nét ưu việt riêng có ở con người và là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phân biệt con người với tất cả các loài động vật khác. Xã hội loài người phát triển được là do con người biết dựa vào tri thức, và con người có khả năng hoạt động sáng tạo. Thật vậy, sự chuyển đổi từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh mới, mà chúng ta quen gọi là nền văn minh trí tuệ, đã có những sự đổi mới quan niệm về tri thức và ý nghĩa mới của nó trong thời đại ngày nay, đặc biệt được đề cao. Vậy tri thức là gì? Tại sao tri thức lại có vai trò to lớn trong đời sống xã hội loài người như vậy? Xét về mặt lịch sử, chúng ta nhận thấy rằng ngay từ thời kỳ cổ đại 10 trong các tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây, đều đặc biệt quan tâm đến vai trò của tri thức.
Chẳng hạn, theo Platon thì chức năng của tri thức do chính bản thân nó vì nhu cầu nào đó của sự phát triển đạo đức và tinh thần cá nhân mà xuất hiện v.v… Cũng vậy, triết học Nho giáo thì tri thức là hiểu được cái gì cần nói, và làm thế nào để nói đúng, nói ra ý nghĩ của mình; rằng tri thức là con đường dẫn đến mọi thành công trong hoạt động nói chung của con người… Đối với triết học Phật giáo và tư tưởng Lão giáo cũng cho rằng tri thức cũng vì nó, nhưng có lẽ đó lại là con đường đi đến sự thông thái, khôn ngoan… Như vậy, trên cơ sở đó có thể nói, trong thời kỳ cổ đại, không phải ngẫu nhiên mà bản thân thuật ngữ triết học được gọi là “Philosophia”, “sự thông thái”, “trí tuệ” hoặc “Trí”, cũng chính vì vậy các nhà tư tưởng trong thời kỳ cổ đại thường được gọi một cách thật kính trọng, đó là các nhà hiền triết, minh triết, các nhà thông thái. Nếu đi sâu nghiên cứu bản chất các học thuyết cổ đại về tri thức, chúng ta có thể khẳng định rằng, theo cách hiểu truyền thống, thì tri thức là những sự hiểu biết nói chung của con người về thế giới, nhưng nội dung của nó còn khá trừu tượng thuần túy, hoặc là cụ thể một cách giản đơn. Trong thời kỳ phong kiến với đêm trường trung cổ, sự nhận thức thế giới bị coi là tội lỗi, khoa học được coi là kẻ thù của chúa trời và bị kìm hãm; hoặc ít ra nó tồn tại cũng nhằm phục vụ cho tư tưởng thiên chúa, cho chế độ thần quyền tôn giáo. Trong các thời đại về sau, quan niệm về tri thức và ý nghĩa của nó ngày càng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu bởi các phương pháp và các mục đích rất khác nhau.
Nhưng nguyên lý xuất phát được coi là nền tảng để xác định vai trò và ý nghĩa của tri thức, vẫn dựa trên cơ sở cuộc cách mạng công nghiệp như một quan niệm chính thống trong lịch sử phát triển của xã hội để khẳng định nền văn minh công nghiệp. 11 Theo quan điểm Mác - Lênin, thì “Tri thức là sản phẩm của hoạt động lao động xã hội và tư duy con người, làm tái hiện trong tư tưởng, dưới hình thức ngôn ngữ, những mối liên hệ khách quan, hợp quy luật của thế giới khách quan đang được cải biến trong thực tế” [54, tr. Như vậy, tri thức là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người một cách sáng tạo, tri thức xuất hiện với tính cách là sản phẩm lao động và tư duy của con người. Một số nhà khoa học trước đây của Liên Xô đưa ra khái niệm chung về tri thức, “tri thức là sản phẩm của hoạt động xã hội và tư duy con người làm tái hiện trong tư tưởng, dưới hình thức ngôn ngữ, những mối liên hệ khách quan, hợp qui luật của thế giới khách quan đang được cải biến trên thực tế”.186] Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), tri thức được con người sáng tạo ra từ trước đến nay trong đó tri thức về khoa học, về kỹ thuật, về quản lý là các bộ phận quan trọng nhất.TSKH Vũ Đình Cự: “ Tri thức, theo nghĩa thông thường, là sự hiểu biết có hệ thống của con người về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội” [4, tr.169] Trong từ điển Tiếng Việt do Văn Tân biên soạn có định nghĩa: “ Tri thức là những điều hiểu biết thu được do hoạt động có hệ thống, liên tục trong một thời gian dài của trí tuệ”.797] Như vậy có thể hiểu, tri thức là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hình thức ký hiệu khác.
Tri thức là kết quả của quá trình con người phản ánh nhận biết thế giới khách quan nhằm cải tạo các điều kiện phục vụ tiến trình phát triển của 12 nhân loại. Tính đúng đắn của tri thức được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Mọi hiện tượng ý thức đều có nội dung tri thức nhất định, nếu không có tri thức con người không có hoặc ít có khả năng hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới. Trong các yếu tố cấu thành ý thức của con người như tri thức, tư tưởng,tình cảm, ý chí, niềm tin… thì tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi nhất giữ vai trò là phương tiện tồn tại, là bản chất của ý thức.
Quá trình hình thành và phát triển của ý thức là quá trình con người tìm kiếm, tích lũy, hiểu biết, tri thức về thế giới khách quan. Con người càng hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới sâu sắc bao nhiêu, thì con người lại càng có khả năng cải tạo hiện thực, chinh phục thế giới bấy nhiêu. Điều đó có nghĩa là, muốn cải tạo hiện thực có hiệu quả, trước hết con người cần phải có sự hiểu biết về đối tượng đó, tức là phải có tri thức về đối tượng mà con người tác động, biến đổi. Tri thức xét đến cùng là sản phẩm của hoạt động thực tiễn, là hoạt động khách quan của quá trình nhận thức lý tính của con người đối với thế giới khách quan.
Thông qua hoạt động thực tiễn cơ bản lao động sản xuất mà con người dần tích lũy được tri thức. Chính tri thức đã giúp cho hoạt động của con người càng ngày càng có hiệu quả trong việc cải tạo thế giới, cải tạo chính bản thân con người một cách toàn diện. Ngoài ra, các hoạt động thực tiễn trong đấu tranh chính trị - xã hội nhằm làm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội, làm lịch sử phát triển đi lên. Hoạt động thực nghiệm - khoa học cũng ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển văn hóa, văn minh vật chất cho loài người nhất là trong giai đoạn hiện nay khi loài người đang bước vào nền kinh tế tri thức - một nềm kinh tế đặc biệt trong lịch sử nhân loại.
13 Tri thức, là một khái niệm rộng, bao gồm tri thức về tự nhiên, xã hội, bản thân con người như những đối tượng vận động và phát triển trên cơ sở các qui luật khách quan vốn có của hiện thực. Trong đó, tri thức được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau như tri thức cảm tính - tri thức lý tính; tri thức kinh nghiệm - tri thức lý luận; tri thức tiền khoa học - tri thức khoa học. Với tính chất đúng đắn của tri thức khi phản ánh hiện thực khách quan, dựa vào lý trí và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn, khoa học luôn luôn chiếm giữ vị trí cơ bản trong sự nhận thức hiện thực, là cơ sở trí tuệ cho các hình thái ý thức xã hội khác nhau trong quá trình phản ánh hiện thực. Xét về hình thức và về nội dung của tri thức khoa học, thì khoa học cần phải có tính hệ thống và tính có căn cứ, nhất là khả năng vận dụng nó trong thực tiễn xã hội.
Đây là đặc trưng quan trọng để chúng ta có thể phân biệt khoa học với những sản phẩm của hoạt động nhận thức thông thường khác, trong hoạt động ý thức người. Căn cứ vào sự khác nhau giữa các hình thức vận động của vật chất, với tính cách là đối tượng nghiên cứu của khoa học, người ta phân loại các khoa học dưới nhiều hình thức. Về cơ bản, khoa học ngày càng được phát triển thì quá trình chuyên môn hóa càng sâu, phân ngành khoa học càng nhiều, xuất hiện thêm nhiều ngành khoa học mới. Đồng thời, sự thâm nhập lẫn nhau giữa các ngành khoa học đã tạo ra nhiều khoa học trung gian mang tính giao tiếp giữa các ngành khoa học, tạo nên tính chất tổng hợp liên ngành của khoa học.
Chính vì vậy, trong hệ thống các khoa học có khoa học tự nhiên, khoa học xã hội; khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng v.v… Căn cứ vào vai trò của tri thức đối với phát triển, thì nền tảng trực tiếp tạo ra các giai đoạn phát triển của tri thức và có ý nghĩa đích thực, phải kể đến cách mạng công nghiệp, cách mạng năng suất và cách mạng về quản 14 lý.