Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Thực trạng xây dựng môi trường giáo dục ở một số trường mâm non Huyện Thọ Xuân. Chương 3: Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non. Kết luận và kiến nghị 3 NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG GIÁO DỤC CHO TRẺ Ở CÁC TRƢƠNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề môi trƣờng giáo dục.
Tình hình nghiên cứu của thế giới: Môi trường xung quanh như một phương tiện giáo dục trẻ em và từ lâu nó đã được các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm. Các nhà giáo dục lớn trên thế giới như: J.v…đã nhấn mạnh vai trò to lớn của thiên nhiên đối với sự phát triển năng lực trí tuệ của con người. Các ông đa đánh giá cao vai trò của quan sát,tiếp xúc với trường thiên nhiên, xã hội với việc lĩnh hội kiến thức và phát triển trí tuệ trẻ em. Tư tưởng của các nhà giáo dục về vai trò của môi trường xung quanh đối với giáo dục trẻ em được phát triển mạnh mẽ trong các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý giáo dục Liên Xô (K.
Ở Liên Xô trước kia, trong các mẫu chương trình đào tạo có mẫu giáo lĩnh vực làm quen với môi trường xung quanh được đưa vào hai môn học đó là : Phương pháp cho trẻ làm quen với thiên và lý luận, phương pháp cho trẻ làm quen với thực tiễn xã hội. Hiện nay ở Nga, môn phương pháp cho trẻ làm quen với thiên nhiên được thay thế bằng phương pháp giáo dục sinh thái. Đây là một xu hướng mới, xuất hiện vào cuối những năm 80 và những năm 90. Những quan điểm cơ bản trong cơ sở giáo dục sinh thái bao gồm ; cơ thể sống và môi trường; quần xã sinh vật và môi trường ; con người và môi trường.
Ở một số nước khác trong chương trình giáo dục trẻ, một trong các lĩnh vực có liên quan nhiều đến nội dung, phương pháp tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh có tên là khoa học ( Khoa học là cách thức tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua khám phá, thử nghiệm, phát hiện, giải thích, lập luận…). Kết quả các hoạt động khám phá môi trường xung quanh là trẻ thu được một 4 lượng nhỏ kiến thức khoa học đơn giản và quan trong hơn ở trẻ phát triển các năng lực cơ bản như quan sát, tư duy logic, giải quyết vấn đề, hợp tác. Chúng ta có thể kể đến Singapore là một trong những nước có kinh nghiệm đổi mới giáo dục, khi bước vào bất cứ một cơ sở CS - GD trẻ mầm non nào, người ta đều nhận thấy sự tương tác giữa những con người với nhau và giữa họ với môi trường: trẻ tương tác với các phương tiện học tập, trẻ tương tác với người lớn và những người lớn tương tác với nhau. Môi trường GDMN là nơi để chia sẻ những ý tưởng, những nhu cầu, sự lo lắng và cả sự bất đồng ý kiến nữa.
Đây là một không gian chất chứa những cảm xúc và là môi trường xã hội nơi mà trẻ học và chơi. Họ nhận ra được giá trị của môi trường xung quanh trẻ đặc biệt là môi trường vật chất khi lớp học như là một môi trường SỐNG. Chúng ta có thể thấy rằng ý nghĩa của một cái xe đạp ba bánh trong môi trường mầm non sẽ được tăng lên khi chính chiếc xe đạp này kích thích khả năng độc lập của những đứa trẻ mới chập chững biết đi khi nó đang cố phối hợp với các kỹ năng vận động của mình để có thể di chuyển chiếc xe tới nơi mong muốn. Ý nghĩa của chiếc xe đạp còn được nâng cao hơn nữa khi nó là phương tiện để khuyến khích sự hợp tác giữa giáo viên và trẻ khi giáo viên giúp trẻ học cách lái xe đạp đến nơi mà cả hai bên cùng thảo luận và nhất trí.
Một ví dụ khác rất điển hình trong các cơ sở CS-GD trẻ mầm non chính là những bức tường của lớp học. Bức tường sẽ trở nên thật sống động khi nó phản ánh được việc chơi và học của trẻ và giáo viên. Những bước tranh tường, các bức áp phích, những chiếc máy bay giấy, các tác phẩm tạo hình được dán lên và trưng bày trên tường là chứng minh cho điều này. Bức tường giờ đây trở thành một thứ ngôn ngữ truyền tải các thông điệp về tình yêu và sự gắn bó.
Sự phong phú của bất cứ môi trường vật chất nào sẽ được thể hiện khi nó có thể phản ánh được những cảm xúc sâu sa nhất của con người.Tình hình nghiên cứu của Việt Nam Vấn đề cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh được các nhà giáo dục Việt Nam quan tâm đến từ những năm 50-60. Thời kỳ đó cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh được coi như phương tiện nhằm mục đích phát triển 5 ngôn ngữ. Các nội dung làm quen với môi trường xung quanh được đưa vào phần “ Nhận xét và tập nói” còn rất phiến diện và đơn điệu. Sau ngày đất nước được hoàn toàn thống nhất(1975) nội dung của “ Nhận xét và tập nói” được bổ sung và cải tiến.
Lúc này nó mang tên gọi mới “ Tìm hiểu môi trường xung quanh và tập nói”. Trong chương trình đào tạo giáo viên mẫu giáo, nội dung trên được đưa vào môn “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ”. Từ năm 1980, khi chương trình dự thảo và cải cách mẫu giáo được biên soạn thì làm quen với môi trường xung quanh được tách ra như là một lĩnh vực tương đối độc lập với tên gọi “ Phương pháp cho trẻ làm quen vớ i môi trường xung quanh”. Bắt đầu từ năm 2003, khi chương trình khung giáo dục đại học ngành Sư phạm Mầm non, trình độ Cao đẳng được xây dựng thì hội đồng biên soạn thống nhất đổi tên học phần này là “Tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh”.
Nội dung của học phần này kế thừa được những kinh nghiệm tiên tiến trước đây, khắc phục những hạn chế của chương trình cải cách chỉ nặng về cung cấp kiến thức mà ít tổ chức các hoạt động nhằm phát triển năng lực cho trẻ, đồng thời cập nhật những kiến thức mới của chương trình và thành tựu nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Chất lượng giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Có thể nói nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc lớn vào sự giáo dục của trẻ trong trường mầm non. Trường mầm non là ngôi nhà thứ hai của trẻ.
Vì vậy cần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ toàn diện về Đức – Trí – Thể – Mỹ và lao động với nhiệm vụ là cán bộ quản lý của nhà trường, chỉ đạo hoạt động chuyên môn, việc xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện theo kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kiểm tra, đánh giá sự phát triển về giáo dục của trẻ, phương pháp dạy của giáo viên, đánh giá, khảo sát chất lượng giáo dục, xây dựng kỷ cương, nề nếp trong nhà trường, phát huy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng; Nâng cao năng lực sư phạm, chỉ đạo thực hiện giáo dục một cách khoa học nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục trẻ đáp ứng với yêu cầu đổi mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một số khái niệm liên quan 1.1 Môi trƣờng là gì? - Môi trường GDMN:Môi trường giáo dục trong trường MN là:Tổ hợp những điều kiện tự nhiên và xã hội cần thiết và trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ở trường MN. - Xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động : là xây dựng một môi trường an toàn, thân thiện, ấm cúng, trình bày đẹp mắt, thu hút, giúp trẻ chủ động tham gia vào các hoạt động, có cơ hội trải nghiệm và giao tiếp một cách tích cực. - Có nhiều cách phân loại môi trường giáo dục: Có quan điểm cho rằng, môi trường giáo dục trong trường mầm non bao gồm môi trường tự nhiên( như các điều kiên không khí, ánh sáng, nguồn nước, cây xanh, địa điểm trường,.) và môi trường xã hội (bao gồm: bầu không khí giao tiếp trong trường mầm non, phong cách làm việc,các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa trường mầm non với các tổ chúc kinh tế, xã hội, văn hóa khác,.) Một số quan điểm khác lại phân chia môi trường giáo dục thành môi trường vật chất và môi trường xã hội.
Môi trường vật chất trong trường mầm non bao gồm các trang thiết bị, đồ dùng,đồ chơi, không gian phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Môi trường vật chất tạo cho trẻ những cơ hội tốt để trẻ được thỏa mãn nhu cầu hoạt dộng và phát triển toàn diện các mặt thể chất, trí tuệ, thẩm mĩ, đạo đức, xã hội. Môi trường xã hội được hiểu là toàn bộ những điều kiện xã hội như chính trị, văn hóa, các mối quan hệ giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách của mình. Môi trường xã hội đặc biệt được nhấn mạnh ở đây là môi trường giao tiếp trong trường mầm non bao gồm sự giao tiếp giữa cô và trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh.
Môi trường này vừa mang tính chất sư phạm vừa mang tính chất gia đình. 7 Việc phân loại môi trường có thể khác nhau, tuy nhiên điều quan trọng nhất đối với môi trường giáo dục trong trường mầm non, theo chúng tôi, là cần phải cung ứng những điều kiện cần thiết để kích thích và phục vụ trẻ hoạt động một cách tích cực, chăm sóc trẻ tốt thông qua đó, nhân cách của trẻ được phát triển tốt nhất và thuận lợi. Nguyên tắc xây dựng môi trƣờng trong trƣờng mầm non: Tổ chức môi trường giáo dục trong trường, lớp mầm non có vai trò quan trọng đối với sự phát triển về thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, tình cảm- kỹ năng xã hội, khả năng thẩm mỹ, sáng tạo của trẻ. Vì vậy, việc thiết kế môi trường giáo dục trong trường mầm non phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Cần bố trí các khu vực chơi, hoạt động trong lớp và ngoài trời phù hợp, thuận tiện cho việc sử dụng của cô và trẻ - Cần tính đến không gian thực tế của trường để cân đối diện tích các khu vực - Cần đảm bảo tính mục đích.
Tính mục đích ở đây có 2 nghĩa: một là môi trường giáo dục phải hướng vào việc phát triển toàn diện của trẻ nhằm đạt được mục tiêu giáo dục mầm non nói chung và mục tiêu cuối độ tuổi nói riệng.