Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non giữ vai trò then chốt đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ và tình cảm - kỹ năng xã hội. Môi trường sư phạm được ví như "người giáo viên thứ hai", trực tiếp hỗ trợ công tác tổ chức, hướng dẫn nhằm thỏa mãn nhu cầu hoạt động và vui chơi của trẻ, qua đó nhân cách của trẻ từng bước được hình thành. Một không gian học tập an toàn, sạch sẽ, được tổ chức hợp lý cả trong và ngoài lớp học không chỉ kích thích tính tích cực, chủ động tìm tòi, khám phá mà còn giúp trẻ học cách phối hợp, lắng nghe, tự chịu trách nhiệm và giải quyết nhiệm vụ. Điều này hoàn toàn phù hợp với phương châm chỉ đạo cốt lõi của Bộ Giáo dục và Đào tạo: "Học bằng chơi, chơi mà học".
Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn tại các cơ sở giáo dục mầm non khu vực nông thôn cho thấy công tác này còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Đa số giáo viên đã bước đầu biết cách thiết lập môi trường hoạt động cho trẻ, nhưng các góc chơi còn mang tính áp đặt, thiếu linh hoạt; chưa khai thác triệt để công năng của các mảng tường và trang thiết bị; đồ dùng đồ chơi chủ yếu là mua sẵn, nghèo nàn về học liệu mở và nguyên vật liệu tự nhiên ở địa phương. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Thị Trang thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Giáo dục Mầm non tại Trường Đại học Hồng Đức dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Ngọc Châu nhằm đánh giá thực trạng và tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng môi trường giáo dục tại địa bàn cơ sở.
Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, khóa luận tập trung tìm hiểu thực trạng xây dựng môi trường giáo dục ở một số trường mầm non trên địa bàn Huyện Thọ Xuân, Tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng môi trường giáo dục cho trẻ mầm non tại địa phương.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng môi trường giáo dục ở một số trường mầm non Huyện Thọ Xuân – Tỉnh Thanh Hóa.
- Điều tra, khảo sát thực trạng việc xây dựng môi trường giáo dục ở một số trường mầm non Huyện Thọ Xuân – Tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường giáo dục cho trẻ mầm non tại Huyện Thọ Xuân – Tỉnh Thanh Hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Môi trường giáo dục bên ngoài và bên trong lớp học tại Trường Mầm non xã Thọ Lập và Trường Mầm non xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi không gian: Trường Mầm non xã Thọ Lập và Trường Mầm non xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Khách thể điều tra: 30 cán bộ quản lý và giáo viên trực tiếp giảng dạy tại hai trường mầm non nêu trên (15 giáo viên thuộc Trường Mầm non xã Thọ Lập và 15 giáo viên thuộc Trường Mầm non xã Xuân Tín).
- Phạm vi lứa tuổi của trẻ: Trẻ trong độ tuổi từ 24 đến 72 tháng tuổi thông qua việc quan sát các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, hoạt động ngoài trời và hoạt động góc.
- Thời gian thực hiện: Năm học 2016-2017 và năm học 2017-2018 (khóa luận hoàn thành vào tháng 5/2018).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận của tâm lý học và giáo dục học mầm non để làm rõ bản chất của môi trường giáo dục:
- Khái niệm môi trường giáo dục mầm non: Là tổ hợp những điều kiện tự nhiên và xã hội cần thiết, tác động trực tiếp đến hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ tại trường mầm non. Môi trường này được phân loại thành môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, hoặc môi trường vật chất (trang thiết bị, phòng học, đồ dùng đồ chơi, khuôn viên ngoài trời) và môi trường xã hội (bầu không khí giao tiếp sư phạm giữa cô - trẻ, trẻ - trẻ, quan hệ giữa nhà trường với gia đình và xã hội).
- Quy chuẩn thiết kế không gian theo Điều lệ trường mầm non: Định mức diện tích phòng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục gồm phòng sinh hoạt chung (1,5 - 1,8 m²/trẻ), phòng ngủ (1,2 - 1,5 m²/trẻ), phòng vệ sinh (0,4 - 0,6 m²/trẻ), và hiên chơi (0,5 - 0,7 m²/trẻ).
- Lý thuyết về nhận thức của trẻ: Khóa luận trích dẫn luận điểm của N.Leiitex về nhu cầu nhận thức (nhu cầu "động não", tìm kiếm niềm vui nhận thức) và phản xạ định hướng "cái gì đấy" của I.Pavlov. Đặc điểm câu hỏi của trẻ biến chuyển theo từng giai đoạn lứa tuổi: trẻ 2-3 tuổi hỏi về nhận diện sự vật (Cái gì? Ai? Ở đâu?), trẻ 4-5 tuổi truy vấn về nguồn gốc và công dụng (Tại sao? Để làm gì?), trẻ 5-6 tuổi đi sâu vào bản chất sự vật, hiện tượng. Bản chất tư duy của trẻ mầm non mang tính trực quan hình tượng, nhận biết thế giới thông qua tiếp xúc và trải nghiệm giác quan trực tiếp.
- Văn bản chỉ đạo và tiến trình lịch sử: Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 0-5 tuổi; phong trào triển khai chuyên đề "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm" giai đoạn 2016-2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Về mặt lịch sử, tác giả điểm lại quá trình phát triển của môn học làm quen với môi trường xung quanh tại Việt Nam từ phân môn "Nhận xét và tập nói" (giai đoạn 1950-1960), "Tìm hiểu môi trường xung quanh và tập nói" (sau năm 1975), "Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh" (năm 1980), cho đến học phần "Tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh" (từ năm 2003).
Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu thực tiễn và lý luận:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu giáo trình và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ để xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Anket): Sử dụng bảng hỏi khảo sát ý kiến của 30 cán bộ, giáo viên về nhận thức, việc thực hiện các nguyên tắc, tiêu chuẩn chuẩn bị đồ dùng và mối quan hệ phối hợp giáo dục.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát thực tế cách bố trí không gian, cách giáo viên tổ chức giờ học chính, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc và mức độ tương tác của trẻ với đồ vật.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Đánh giá sản phẩm đồ dùng đồ chơi tự tạo của giáo viên và sản phẩm tạo hình của trẻ.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát, tính tỷ lệ phần trăm các tiêu chí để phản ánh định lượng thực trạng.
Nguồn dữ liệu bao gồm kết quả phản hồi từ 30 phiếu khảo sát thu về nguyên vẹn tại 2 trường mầm non, dữ liệu quan sát thực địa năm học 2017-2018, số liệu hành chính - kinh tế của huyện Thọ Xuân và các quy định chuyên môn của ngành học mầm non.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ ở các trường mầm non
Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề môi trường giáo dục tại các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, các nhà giáo dục lớn đã sớm khẳng định vai trò của tự nhiên đối với trí tuệ con người; các nhà tâm lý học Liên Xô đưa nội dung này vào chương trình đào tạo mẫu giáo, sau đó nước Nga chuyển dịch thành phương pháp giáo dục sinh thái từ cuối những năm 80 và thập niên 90; Singapore xem cơ sở giáo dục mầm non là môi trường sống giàu tương tác xã hội.
Tác giả phân tích các nguyên tắc cốt lõi khi xây dựng môi trường giáo dục: bố trí phù hợp lứa tuổi và diện tích thực tế; đảm bảo tính mục đích (hướng vào sự phát triển toàn diện của trẻ và phục vụ hoạt động cụ thể); an toàn tuyệt đối và có tính thẩm mỹ; trang trí mang tính mở; thu hút sự tham gia tích cực của trẻ; tận dụng nguyên vật liệu tự nhiên, phế liệu sẵn có tại địa phương và phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, chương 1 chi tiết hóa các yêu cầu đối với việc xây dựng môi trường xã hội (tạo cảm giác an toàn, khích lệ, tôn trọng sự khác biệt, không so sánh trẻ), yêu cầu lựa chọn trang thiết bị đồ chơi (đa dạng, đa chức năng, dễ lấy, dễ cất), quy trình phân chia ranh giới giữa các góc tĩnh và góc động trong lớp học, cùng việc thiết lập các khu chức năng ngoài trời như sân vận động, vườn cổ tích, vườn rau và khu chơi cát nước.
Chương 2: Thực trạng xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ mầm non ở một số trường mầm non huyện Thọ Xuân
Chương 2 mô tả điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Thọ Xuân (diện tích tự nhiên 295,885 km², dân số năm 2018 là 233 nghìn người, gồm 3 thị trấn và 38 xã, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và công nghiệp mía đường Lam Sơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 11,1%/năm, thu nhập bình quân đầu người 371,5 USD/năm, lương thực bình quân 495 kg/người/năm).
Thực trạng mạng lưới trường lớp tại 2 địa bàn khảo sát được ghi nhận:
- Trường Mầm non xã Thọ Lập: Có 8 phòng học, trong đó có 6 phòng cải tạo lại từ các phòng kho lương thực cũ của Ủy ban nhân dân xã; chia làm 8 lớp (1 nhóm trẻ, 2 lớp mầm, 2 lớp chồi, 3 lớp lá); tổng số 16 giáo viên.
- Trường Mầm non xã Xuân Tín: Có 10 phòng học; chia làm 10 lớp (3 lớp mầm, 3 lớp chồi, 4 lớp lá); tổng số 20 giáo viên. Cả hai trường đều có tỷ lệ trẻ ăn bán trú đạt trên 80% (văn bản ghi 805).
Khóa luận phản ánh bức tranh thực trạng thông qua 13 bảng số liệu khảo sát ý kiến của 30 giáo viên:
| Bảng khảo sát |
Tiêu chí khảo sát |
Số lượng phản hồi (n=30) |
Tỷ lệ (%) |
| Bảng 1: Cơ sở vật chất và không gian |
Đáp ứng Chưa đáp ứng đủ Không đáp ứng |
27/30 3/30 0/30 |
90,0% 10,0% 0,0% |
| Bảng 2: Trình độ đội ngũ giáo viên |
Trường Thọ Lập (n=16): - Đại học - Cao đẳng - Trung cấp SPMN Trường Xuân Tín (n=20): - Đại học - Cao đẳng - Trung cấp SPMN |
9/16 5/16 2/16
8/20 9/20 3/20 |
56,0% 31,5% 12,5%
40,0% 45,0% 15,0% |
| Bảng 3: Công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra |
Tốt Chưa tốt Không tốt |
26/30 4/30 0/30 |
86,6% 13,4% 0,0% |
| Bảng 4: Nhận thức về sự cần thiết của môi trường GD |
Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết |
28/30 2/30 0/30 |
93,3% 6,7% 0,0% |
| Bảng 5: Yếu tố ảnh hưởng đến môi trường GD |
Đặc điểm tâm lý Đặc điểm sinh lý Hoạt động tích cực của giáo viên Hoạt động tích cực của trẻ |
24/30 23/30 26/30 27/30 |
80,0% 76,7% 86,7% 90,0% |
| Bảng 6: Mức độ quan trọng (1) và thực hiện (2) các nguyên tắc |
- Bố trí khu vực chơi phù hợp, thuận tiện - Môi trường an toàn và thẩm mỹ cao - Trang thiết bị, học liệu đa dạng - Môi trường thuận lợi hình thành kỹ năng |
(1): 30/30; (2): 28/30 (1): 28/30; (2): 26/30 (1): 27/30; (2): 25/30 (1): 23/30; (2): 15/30 |
(1): 100%; (2): 93,3% (1): 93,3%; (2): 86,6% (1): 90,0%; (2): 83,3% (1): 76,6%; (2): 50,0% |
| Bảng 7: Thực hiện yêu cầu về quan hệ xã hội |
Rất tốt Tốt Chưa tốt |
27/30 3/30 0/30 |
90,0% 10,0% 0,0% |
| Bảng 8: Chuẩn bị trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi |
Đồ dùng mua sẵn Đồ dùng tự làm từ nguyên liệu sẵn có |
28/30 19/30 |
93,3% 63,3% |
| Bảng 9: Bố trí mảng tường, các góc trong và ngoài lớp |
Trang trí theo hướng mở, linh hoạt Trang trí theo hướng chưa mở, linh hoạt |
28/30 2/30 |
93,3% 6,7% |
| Bảng 10: Đảm bảo xây dựng môi trường hoạt động |
Đảm bảo Chưa đảm bảo Không đảm bảo |
27/30 3/30 0/30 |
90,0% 10,0% 0,0% |
| Bảng 11: Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo chơi với đồ vật cho trẻ |
Thường xuyên Thỉnh thoảng Đôi khi |
23/30 7/30 0/30 |
76,7% 23,3% 0,0% |
| Bảng 12: Biểu hiện của trẻ trong môi trường học tập |
Trẻ hứng thú, tích cực với chủ đề Trẻ có kỹ năng làm đồ chơi cùng cô Trẻ mạnh dạn, tự tin, sáng tạo khi chơi |
26/30 19/30 28/30 |
86,6% 63,3% 93,3% |
| Bảng 13: Phối hợp gia đình - nhà trường - địa phương |
Tốt Chưa tốt Không tốt |
27/30 3/30 0/30 |
90,0% 10,0% 0,0% |
Qua phân tích số liệu và quan sát thực tế, tác giả chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hạn chế:
- Diện tích lớp học nhỏ hẹp, thiếu các phòng chức năng chuyên biệt (phòng giáo dục thể chất, phòng âm nhạc riêng), đồ chơi ngoài trời (đu quay, cầu trượt, nhà bóng) còn ít.
- Sĩ số trẻ quá đông, đạt mức 40 - 50 trẻ/lớp, dẫn đến tình trạng quá tải và trẻ phải dùng chung đồ dùng đồ chơi.
- Trình độ chuyên môn của đội ngũ chưa đồng đều (tỷ lệ trung cấp SPMN tại Thọ Lập là 12,5%, Xuân Tín là 15%), một số giáo viên còn phương pháp áp đặt, thiếu tính sáng tạo.
- Tỷ lệ tự làm đồ chơi và sử dụng nguyên vật liệu mở tại địa phương còn thấp (63,3%), chưa tạo điều kiện cho trẻ cùng tham gia chế tạo đồ dùng học tập.
- Kinh phí hỗ trợ của địa phương còn eo hẹp; nhận thức của một bộ phận phụ huynh nông thôn về giáo dục mầm non còn chưa đúng đắn, chưa phối hợp chặt chẽ với nhà trường.
Chương 3: Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục ở trường mầm non
Trên cơ sở lý luận và kết quả phân tích thực trạng, chương 3 đề xuất 2 nhóm giải pháp chính:
- Giải pháp 1: Thiết kế môi trường giáo dục phải hướng vào việc phát triển toàn diện của trẻ phù hợp mục tiêu giáo dục mầm non. Đảm bảo các tiêu chí an toàn, thẩm mỹ và tính giáo dục; trang trí phù hợp lứa tuổi và tính chất hoạt động; quy hoạch không gian cho các hoạt động chung của lớp, hoạt động nhóm nhỏ, hoạt động cá nhân và khu vực chăm sóc trẻ có nhu cầu đặc biệt; thu hút tối đa sự tham gia của trẻ vào việc kiến tạo môi trường trong giờ hoạt động góc và hoạt động chiều; chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương và ngành giáo dục nhằm đầu tư cơ sở vật chất theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII.
- Giải pháp 2: Tạo không gian, bố trí, sắp xếp các khu vực chơi, hoạt động trong lớp và ngoài trời phù hợp với chủ đề, thuận tiện cho việc sử dụng của giáo viên và trẻ. Thiết lập ranh giới rõ ràng giữa các góc chơi bằng hệ thống giá đựng đồ chơi mở; bố trí góc yên tĩnh cách xa góc ồn ào; phân bố đồ dùng đồ chơi dễ thấy, dễ lấy, dễ cất; khai thác nguồn nguyên vật liệu mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền; mở rộng quan hệ giao tiếp xã hội giúp trẻ tự tin; chủ động sáng tạo và thay đổi luật chơi, khuyến khích trẻ tự tạo đồ chơi theo ý tưởng riêng qua các hội thi, lễ hội.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu thực nghiệm và chỉ ra những đóng góp cụ thể:
- Cung cấp hệ thống dữ liệu điều tra thực chứng về thực trạng xây dựng môi trường giáo dục tại 2 trường mầm non nông thôn thuộc huyện Thọ Xuân. Tỷ lệ giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn đạt 100%; nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của môi trường giáo dục đạt mức rất cao với 93,3% đánh giá rất cần thiết và 6,7% đánh giá cần thiết.
- Khóa luận làm rõ mâu thuẫn giữa nhận thức và hành động thực tế: trong khi 100% giáo viên đánh giá nguyên tắc bố trí khu vực chơi phù hợp là quan trọng nhất (thực hiện đạt 93,3%), thì nguyên tắc xây dựng môi trường hình thành kỹ năng xã hội cho trẻ có tỷ lệ thực hiện thấp nhất, chỉ đạt 50,0% (dù có 76,6% giáo viên nhận thức là quan trọng).
- Phát hiện mức độ phụ thuộc lớn vào trang thiết bị mua sẵn (93,3%), trong khi đồ chơi tự tạo chỉ chiếm 63,3%; tỷ lệ trẻ có kỹ năng cùng cô làm đồ dùng tạo môi trường học tập đạt mức thấp (63,3%).
- Phản ánh chân thực các rào cản cơ sở vật chất tại địa phương: Trường Mầm non xã Thọ Lập phải sử dụng 6/8 phòng học cải tạo từ nhà kho lương thực cũ của xã; sĩ số lớp vượt chuẩn, dao động từ 40 đến 50 trẻ/lớp.
- Tác giả tự nêu đóng góp của nghiên cứu là đề xuất được hệ thống các giải pháp thực tế, xuất phát từ đặc thù kinh tế - xã hội của vùng nông thôn huyện Thọ Xuân, làm căn cứ định hướng cho công tác quản lý và tổ chức hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn được xác định từ phạm vi nghiên cứu và văn bản:
- Về phạm vi và khách thể khảo sát: Mẫu điều tra giới hạn trong phạm vi 30 cán bộ, giáo viên tại 2 trường mầm non (Thọ Lập và Xuân Tín), chưa bao quát toàn bộ 41 xã và thị trấn của huyện Thọ Xuân.
- Về tính kiểm chứng của giải pháp: Các giải pháp ở chương 3 dừng lại ở mức độ đề xuất xuất phát từ cơ sở lý thuyết và thực trạng, chưa trải qua quá trình tổ chức thực nghiệm sư phạm đối chứng để kiểm tra tính hiệu quả định lượng.
- Lỗi kỹ thuật văn bản: Tài liệu tồn tại một số lỗi ấn loát trong số liệu (như ghi nhận dân số huyện năm 2018 là "233" [thiếu đơn vị nghìn người], tỷ lệ bán trú ghi "805" [thay vì 80% hoặc 85%], một đoạn văn tại trang 28 nhắc thêm địa danh "xã Thọ Minh" ngoài phạm vi hai trường đã công bố).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra trên toàn bộ hệ thống trường mầm non thuộc huyện Thọ Xuân; triển khai thử nghiệm mô hình lớp học mầm non lấy trẻ làm trung tâm có sử dụng triệt để nguyên vật liệu địa phương để đánh giá mức độ phát triển kỹ năng xã hội của trẻ mẫu giáo.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non tham khảo về phương pháp xây dựng đề cương, cấu trúc đề tài khóa luận khảo sát thực trạng sư phạm và cách thức thiết kế phiếu hỏi anket.
- Giáo viên mầm non công tác tại khu vực nông thôn học hỏi các phương án phân chia góc chơi, cách tận dụng giá kệ làm ranh giới giữa góc tĩnh và góc động, cũng như giải pháp khắc phục tình trạng thiếu thốn học liệu thông qua nguyên vật liệu tự nhiên và phế liệu an toàn.
- Cán bộ quản lý tại các trường mầm non nông thôn tham khảo trong việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn định kỳ theo chuyên đề giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và công tác tham mưu với chính quyền địa phương về quy hoạch phòng học mầm non đạt chuẩn.
- Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống 13 bảng số liệu khảo sát thực tế tại Chương 2, cung cấp bức tranh chi tiết về các khía cạnh nhận thức, hành vi sư phạm và sự tương tác giữa nhà trường với phụ huynh học sinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận ghi nhận thực trạng cơ sở vật chất phòng học tại Trường Mầm non xã Thọ Lập có điểm gì đặc thù?
Trường Mầm non xã Thọ Lập có 8 phòng học, trong đó có 6 phòng học không phải là công trình xây mới chuyên dụng mà được cải tạo lại từ các phòng kho lương thực cũ của Ủy ban nhân dân xã trước đây, gây ra tình trạng phòng học nhỏ hẹp và thiếu các phòng chức năng.
2. Tỷ lệ giáo viên sử dụng trang thiết bị đồ chơi mua sẵn so với đồ chơi tự làm từ nguyên vật liệu địa phương được thống kê ra sao?
Theo kết quả khảo sát tại Bảng 8, có tới 93,3% giáo viên (28/30 người) lựa chọn đồ dùng mua sẵn, trong khi tỷ lệ giáo viên tự làm đồ chơi và tận dụng nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương chỉ đạt 63,3% (19/30 người).
3. Nguyên tắc xây dựng môi trường nào có tỷ lệ giáo viên thực hiện đạt mức thấp nhất?
Nguyên tắc "Trường mầm non phải là môi trường thuận lợi để hình thành các kĩ năng cho trẻ" có tỷ lệ thực hiện thấp nhất, chỉ đạt 50,0% (15/30 giáo viên), dù có 76,6% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của nguyên tắc này.
4. Sĩ số trẻ trong một lớp học tại các trường mầm non được khảo sát là bao nhiêu và gây ra khó khăn gì?
Sĩ số trung bình đạt từ 40 đến 50 trẻ trong một lớp. Số lượng học sinh quá đông trong khi diện tích phòng học hạn hẹp khiến đồ dùng đồ chơi không đáp ứng đủ nhu cầu, trẻ thường xuyên phải dùng chung đồ dùng và giáo viên gặp nhiều trở ngại trong việc bao quát hoạt động của từng cá nhân.
5. Những yếu tố nào được giáo viên đánh giá là có ảnh hưởng lớn nhất đến môi trường giáo dục cho trẻ?
Theo Bảng 5 của khóa luận, 90,0% giáo viên khẳng định hoạt động tích cực của trẻ là yếu tố ảnh hưởng, tiếp theo là hoạt động tích cực của giáo viên (86,7%), đặc điểm tâm lý của trẻ (80,0%) và đặc điểm sinh lý của trẻ (76,7%).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Trang đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về môi trường giáo dục mầm non và phản ánh trung thực thực trạng xây dựng môi trường sư phạm tại hai trường mầm non Thọ Lập và Xuân Tín thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Mặc dù đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao và nhận thức đúng đắn về vai trò của môi trường giáo dục, điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn cùng sĩ số học sinh quá đông vẫn là rào cản lớn đối với việc đổi mới không gian học tập. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong công trình tập trung vào việc quy hoạch không gian mở, tăng cường học liệu bản địa và mở rộng tương tác xã hội, tạo tiền đề thiết thực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại các trường mầm non khu vực nông thôn.