Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số đào tạo thí điểm) của nghiên cứu sinh Phạm Tuấn Huy, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Mai Hà và Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án là PGS. Vũ Cao Đàm. Đề tài tập trung vào chủ đề: “Xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam”.
| Thông tin tổng quan |
Nội dung chi tiết |
| Tác giả luận án |
Phạm Tuấn Huy |
| Người hướng dẫn khoa học |
PGS. Mai Hà |
| Cơ sở đào tạo |
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Chuyên ngành |
Quản lý Khoa học và Công nghệ (Đào tạo thí điểm) |
| Năm bảo vệ |
2018 |
| Đơn vị nghiên cứu điển cứu |
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm KH&CNVN) |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo tác giả trình bày, hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) của Việt Nam được thiết kế theo lý thuyết cơ học với mô hình tổ chức đơn chức năng, dẫn tới sự phân ly kéo dài giữa nghiên cứu khoa học (NCKH) với đào tạo (ĐT) và sản xuất (SX). Trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và việc triển khai các cơ chế tự chủ theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 cùng Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ, mô hình đơn chức năng không còn phù hợp. Thực tiễn hơn 40 năm hình thành và phát triển của Viện Hàn lâm KH&CNVN cho thấy mặc dù đã có nhiều nỗ lực tự điều chỉnh nhằm gắn kết NCKH với ĐT và SX, quá trình này diễn ra chậm chạp và đối mặt với nhiều rào cản. Luận án chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về mối liên kết đồng thời giữa cả ba thực thể NCKH, ĐT và SX tại một tổ chức khoa học công lập đầu ngành như Viện Hàn lâm KH&CNVN, đồng thời chưa xác lập được hệ thống điều kiện cần và đủ nhằm phục vụ quá trình tái cấu trúc tổ chức theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Xây dựng mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Viện Hàn lâm KH&CNVN.
- Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận về liên kết; liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm;
- Đánh giá quá trình xây dựng mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX tại Viện Hàn lâm KH&CNVN;
- Đề xuất điều kiện đảm bảo cho quá trình hình thành và phát triển liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Viện Hàn lâm KH&CNVN.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận về liên kết giữa NCKH với ĐT và SX trong các tổ chức KH&CN theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm;
- Đánh giá thực trạng về quá trình xây dựng mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Viện Hàn lâm KH&CNVN;
- Đề xuất điều kiện đảm bảo cho hình thành và phát triển mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Viện Hàn lâm KH&CNVN.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Phạm vi nội dung: Xây dựng mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Viện Hàn lâm KH&CNVN.
- Phạm vi không gian: Hệ thống các tổ chức nghiên cứu và triển khai (NC&TK) của Việt Nam, các chính sách về KH&CN của Việt Nam và khảo sát trực tiếp tại Viện Hàn lâm KH&CNVN.
- Phạm vi thời gian: Quá trình hoạt động và phát triển của Viện Hàn lâm KH&CNVN từ năm 1975 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2018).
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu trung tâm: Xây dựng mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Viện Hàn lâm KH&CNVN như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu
- Liên kết NCKH với ĐT và SX xuất phát từ nhu cầu phát triển của bản thân tổ chức KH&CN và của SX nhằm đáp ứng đòi hỏi của xã hội;
- Liên kết NCKH với ĐT và SX diễn ra theo các mối liên kết khác nhau, có tính đa dạng và từng bước được hình thành theo các giai đoạn phát triển;
- Điều kiện để hình thành và phát triển mối liên kết bao gồm điều kiện cần (kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và các chính sách vĩ mô của Nhà nước) và điều kiện đủ (các chính sách vi mô cùng nỗ lực nội tại của tổ chức KH&CN);
- Mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Viện Hàn lâm KH&CNVN cần được xây dựng theo hướng tái cấu trúc phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế về KH&CN.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp và gián tiếp đến chủ đề liên kết giữa NCKH, ĐT và SX:
Các nghiên cứu công bố trong nước
- Nhóm nghiên cứu về liên kết NCKH với đào tạo trong trường đại học:
- Lê Văn Chương, Phạm Thị Bích Hà (2004): Phân tích hiện trạng kết hợp hoạt động NCKH - SX - ĐT sau đại học tại các trường đại học, tổ chức NCKH và doanh nghiệp.
- Trương Quang Học (2004, 2005): Đề xuất các kiến nghị thúc đẩy liên kết NCKH với đào tạo nhân lực chất lượng cao; phân tích mô hình đại học nghiên cứu ở Hoa Kỳ với tỷ lệ phân bổ thời gian của cán bộ là giảng dạy/nghiên cứu/dịch vụ tương ứng 3/5/2 để đề xuất định hướng xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Trịnh Ngọc Thạch (2004): Khẳng định yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với NCKH và đề xuất chính sách phát triển nhân lực nghiên cứu trong trường đại học.
- Vũ Cao Đàm (2005): Đưa ra tiêu chí đánh giá năng lực nghiên cứu và giải pháp chính sách tái lập mối quan hệ giữa NCKH và đào tạo thông qua tái cấu trúc hệ thống.
- Mai Hà (2002, 2005): Làm rõ nguyên nhân của sự thiếu gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo đại học, khẳng định NCKH là hoạt động sống còn của giảng viên, đồng thời đề xuất các điều kiện cần và đủ để thực hiện liên kết hiệu quả.
- Nguyễn Ngọc Điện (2011): Xem xét mô hình tổ chức KH&CN trong trường đại học thông qua công cụ quản lý vốn thay cho cơ chế cơ quan chủ quản hành chính.
- Nhóm nghiên cứu về liên kết NCKH với sản xuất và cơ chế tự chủ:
- Vũ Cao Đàm (2000): Đề xuất các phương án chuyển đổi cho viện công nghệ (thành doanh nghiệp với nhiều spin-off, viện công nghệ có spin-off sản xuất, doanh nghiệp công nghệ hoặc tổ chức tư vấn).
- Nguyễn Quân (2006): Phân tích việc hình thành Doanh nghiệp KH&CN như một lực lượng sản xuất mới từ các viện NC&TK theo cơ chế tự chủ.
- Nguyễn Thanh Tùng (2006): Phân tích điều kiện cần và đủ để chuyển viện công nghệ sang doanh nghiệp, nhấn mạnh hai yếu tố hình thức chuyển đổi và doanh thu.
- Nguyễn Minh Khả, Bùi Ngọc Quynh (2013); Nguyễn Duyên (2013): Đúc kết kinh nghiệm quốc tế và nguyên tắc thương mại hóa kết quả nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường.
- Các đề tài và dự án KH&CN cấp Bộ:
- Đề tài 1991-1995 (Vũ Cao Đàm trích dẫn): Nghiên cứu phương pháp luận đổi mới hệ thống cơ quan KH&CN quốc gia.
- Nguyễn Văn Học (1998): Nghiên cứu cải tiến cơ chế quản lý các cơ quan R&D trong bối cảnh kinh tế thị trường, chỉ ra hạn chế của các biện pháp sắp xếp hành chính thuần túy.
- Vũ Cao Đàm (1997-1999): Nghiên cứu cải cách hành chính và đưa ra các hình thức tái cấu trúc tổ chức NC&TK.
- Bạch Tân Sinh (2004, 2005): Nghiên cứu sự hình thành, phát triển Doanh nghiệp KH&CN và điều kiện chuyển đổi tổ chức R&D sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Phạm Quang Trí (2007): Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển mạng lưới R&D của Đức, Trung Quốc và Việt Nam.
- Hoàng Văn Tuyên (2009-2010): Nghiên cứu chính sách phát triển tổ chức KH&CN trong các tập đoàn và doanh nghiệp lớn.
- Trần Đình Hảo (2011-2014): Nghiên cứu thúc đẩy kết hợp nghiên cứu và đào tạo giữa các viện nghiên cứu và trường đại học khối khoa học xã hội giai đoạn 2011-2020.
Các nghiên cứu công bố quốc tế
- Châu Âu: Báo cáo của European Communities (2007) về thúc đẩy chuyển giao tri thức từ các viện NC&TK sang khu vực sản xuất theo mô hình "đổi mới mở" (open innovation) trong khuôn khổ chương trình nghị sự Lisbon.
- Châu Á: Báo cáo của WIPO (2007) khảo sát quan hệ hợp tác Viện/Trường - Doanh nghiệp (U-I partnership) tại 7 nước châu Á:
- Nhật Bản: Quá trình chuyển biến từ cuối thập niên 1990 để nâng cao sức cạnh tranh công nghệ.
- Trung Quốc: Quá trình cải cách từ Quyết định năm 1985 của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trao quyền tự chủ cho trường đại học/viện nghiên cứu theo nguyên tắc thị trường, cùng các nghiên cứu của Shulin Gu (1994), Meske và Đặng Duy Thịnh (2000), Yang Q. (1998) về tái cấu trúc viện NC&TK.
- Hàn Quốc: Khung pháp lý với 4 đạo luật trọng tâm (Luật Cơ bản về KH&CN, Luật Xúc tiến chuyển giao công nghệ, Luật Sáng chế, Luật Tăng cường giáo dục công nghiệp và tăng cường hợp tác).
- Singapore: Điển hình Đại học Quốc gia Singapore (NUS) với mô hình cơ cấu 3 khối (học thuật, doanh nghiệp, sản xuất), thành lập Trung tâm khởi nghiệp và văn phòng cấp phép công nghệ.
- Philippines và Ấn Độ: Thực trạng và bài học về chính sách KH&CN, quyền sở hữu trí tuệ và mô hình Viện Công nghệ Ấn Độ (IIT).
- Australia: Nghiên cứu về Đại học Nam Úc (UniSA) với Công ty đầu tư mạo hiểm UniSA Ventures Proprietary Limited (hoạt động theo Mục 45A Corporation Act, quản lý Quỹ Catalyst và Pioneer) và các doanh nghiệp Spin-Out/Investee như Công ty TNHH Rezolve Scientific (Trần Văn Hải, 2016).
- Châu Mỹ:
- Canada: Báo cáo của Eliot A. Phillipson và cộng sự (2012), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2012), Trần Văn Hải (2015), Thomas E. Clarke (2008) về năng lực NCKH trong nông nghiệp, sinh học, hóa học; tỷ lệ 64% sáng chế xuất phát từ đại học và doanh nghiệp spin-off; mô hình hợp tác chuyển giao công nghệ với Trung Quốc của Đại học Western Ontario.
- Hoa Kỳ: Tác động của Đạo luật Bayh - Dole năm 1980 (cho phép trường đại học, viện R&D sở hữu sáng chế từ nguồn ngân sách liên bang; quy định quyền march-in right; dẫn tới sự hình thành 4.081 công ty mới, 260.000 việc làm và 40 tỷ USD/năm); chính sách hỗ trợ vốn 17,5 tỷ USD cho doanh nghiệp nhỏ; Chương trình Grand Challenge scholars program của Viện Hàn lâm Kỹ thuật Quốc gia (NAE) tại 25 trường đại học.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận đơn lẻ: hoặc nghiên cứu liên kết NCKH - SX tại các viện nghiên cứu, hoặc nghiên cứu liên kết NCKH - ĐT tại các trường đại học. Chưa có công trình nào giải quyết tổng thể mối liên kết ba bên giữa NCKH với ĐT và SX trong một tổ chức KH&CN công lập cụ thể theo định hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm; đồng thời chưa xác định điều kiện cần và đủ để tái cấu trúc tổ chức thích ứng với kinh tế thị trường tại Viện Hàn lâm KH&CNVN.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và hệ khái niệm công cụ
- Hệ khái niệm cơ bản: Luận án sử dụng các định nghĩa chuẩn mực về:
- Nghiên cứu khoa học (NCKH): Dẫn chiếu quan điểm của Ranjit Kumar (2011), Vũ Cao Đàm (2009a) và Khoản 4 Điều 3 Luật KH&CN năm 2013, phân định rõ: nghiên cứu cơ bản (thuần túy, nền tảng, định hướng, chuyên đề), nghiên cứu ứng dụng và triển khai (chế tác prototype, thử nghiệm pilot, sản xuất loạt không - serie 0).
- Đào tạo: Dẫn chiếu quan điểm của Thomas N. Garavan, Pat Costine, Noreen Heraty (1995) và Bốn trụ cột giáo dục của UNESCO do Vũ Cao Đàm phân tích.
- Chuyển giao công nghệ, phát triển công nghệ (theo chiều sâu và chiều rộng), dịch vụ KH&CN.
- Lý thuyết tổ chức: Vận dụng lý thuyết tổ chức cơ học (mô hình đơn chức năng, phân ly hoạt động) và lý thuyết tổ chức hữu cơ (mô hình đa chức năng, đa cấu trúc, thích ứng linh hoạt với môi trường thông qua tái cấu trúc).
- Lý thuyết hệ thống: Nhìn nhận NCKH, ĐT và SX là ba phân hệ/thực thể hữu cơ gắn bó mật thiết trong hệ thống Viện Hàn lâm KH&CNVN, chịu tác động tương hỗ từ môi trường kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
- Lý thuyết chuỗi xoắn kép ba (Triple Helix): Khung phân tích mối quan hệ tương tác giữa ba chủ thể: Viện NC&TK/Trường đại học – Doanh nghiệp – Nhà nước trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ.
- Chính sách "KH&CN đẩy" (science push) và "thị trường kéo" (market pull): Được tác giả vận dụng để nhận dạng và phân loại liên kết giữa NCKH với sản xuất thành 2 nhóm với 5 hình thức liên kết cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng hướng tiếp cận định tính kết hợp phân tích hệ thống và phân tích chính sách, cụ thể:
- Tiếp cận quan sát: Kết hợp quan sát có tham dự (với tư cách nhà quản lý trong hệ thống Viện Hàn lâm KH&CNVN) và quan sát không tham dự đối với các tổ chức ngoài hệ thống.
- Tiếp cận phân tích hệ thống và chính sách: Đánh giá cấu trúc tương tác giữa 3 phân hệ (NCKH, ĐT, SX); phân tích mối quan hệ mục tiêu - phương tiện; đánh giá tác động dương tính/âm tính và hiệu quả quản lý, hiệu quả xã hội của các chính sách KH&CN.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý nhà nước về KH&CN, các quyết định thành lập và quy chế tổ chức của Viện Hàn lâm KH&CNVN, các báo cáo tổng kết và tài liệu học thuật trong/ngoài nước.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn định tính với 10 chuyên gia, nhà khoa học và nhà quản lý (09 nam, 01 nữ).
| Tiêu chí cơ cấu |
Chi tiết mẫu phỏng vấn sâu (N = 10) |
| Học hàm, học vị |
01 Viện sĩ; 05 Giáo sư / Phó Giáo sư, Tiến sĩ; 01 Tiến sĩ; 01 Giám đốc doanh nghiệp |
| Lĩnh vực chuyên môn |
Toán học, Vật lý, Hóa học, Kỹ thuật nhiệt đới, Khoa học vật liệu, Công nghệ môi trường, Cơ học, Quản lý KH&CN |
| Vị trí công tác |
- 02 Lãnh đạo và nguyên Lãnh đạo Viện Hàn lâm KH&CNVN - 05 Lãnh đạo và nguyên Lãnh đạo các Viện chuyên ngành trực thuộc - 02 Giám đốc Doanh nghiệp Spin-off (thập niên 90) - 01 Giảng viên Khoa Khoa học Quản lý (ĐHKHXH&NV) |
| Nội dung phỏng vấn |
Đánh giá hoạt động liên kết NCKH - SX và mô hình Spin-off thập niên 90; thương mại hóa kết quả đề tài NSNN; ý nghĩa thành lập trường đại học và học viện trực thuộc; thúc đẩy tự chủ; môi trường làm việc gắn kết NCKH - ĐT; cơ sở lý thuyết liên kết |
| Nguồn dữ liệu bổ trợ |
Ý kiến phản hồi tại các cuộc họp tổng kết đơn vị trực thuộc; trao đổi với các chuyên gia Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam tại Diễn đàn KH&CN chuyên nghiệp năm 2016 ("Phát huy tiềm lực đội ngũ cán bộ khoa học thực hiện công tác đào tạo sau đại học") |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất trong các tổ chức khoa học ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Chương 1 hệ thống hóa bức tranh nghiên cứu trong nước và quốc tế về mối quan hệ giữa ba thực thể NCKH, ĐT và SX.
- Tác giả phân tích các nghiên cứu trong nước theo hai luồng: luồng nghiên cứu về liên kết NCKH với sản xuất (hướng chuyển đổi viện thành doanh nghiệp) và luồng nghiên cứu về liên kết NCKH với đào tạo (chủ yếu trong trường đại học).
- Về quốc tế, chương này điểm lại kinh nghiệm thúc đẩy chuyển giao công nghệ tại Châu Âu (đổi mới mở), Châu Á (chính sách của Nhật Bản, cải cách năm 1985 của Trung Quốc, 4 đạo luật của Hàn Quốc, mô hình đại học NUS Singapore, Philippines, Ấn Độ), Australia (Đại học Nam Úc) và Châu Mỹ (Canada, Đạo luật Bayh-Dole của Hoa Kỳ).
- Tác giả rút ra nhận xét: ở các nền kinh tế kế hoạch hóa trước đây, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã gây ra sự phân ly sâu sắc giữa ba hoạt động. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu mô tả hiện trạng phân ly, chưa đi sâu giải quyết mô hình liên kết đồng thời cả ba thành tố tại một viện hàn lâm quốc gia theo định hướng tự chủ.
Chương 2. Cơ sở lý luận về xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất trong các tổ chức khoa học và công nghệ theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho luận án thông qua các nội dung:
- Xây dựng hệ khái niệm công cụ: NCKH, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai (R&D), đào tạo, sản xuất, chuyển giao và phát triển công nghệ.
- Làm rõ cơ sở lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập trong nền kinh tế thị trường theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 96/2010/NĐ-CP.
- Phân tích tính tất yếu và các yếu tố tác động đến mối liên kết; vận dụng chính sách "thị trường kéo" và "KH&CN đẩy" để phân loại các hình thức liên kết.
- Phân tích mô hình chuỗi "xoắn kép ba" (Triple Helix) về mối quan hệ tương tác giữa Viện NC&TK – Doanh nghiệp – Nhà nước trong hệ thống đổi mới sáng tạo.
- Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế và dữ liệu so sánh, tiêu biểu như cơ cấu phân bổ thời gian của cán bộ đại học tại Hoa Kỳ (Bảng 2.1) và các sơ đồ phân định loại hình nghiên cứu, quan hệ thể chế (Hình 2.1, Hình 2.2, Hình 2.3, Hình 2.4).
| Danh mục bảng biểu và sơ đồ tiêu biểu trong Chương 2 |
Nội dung / Ý nghĩa |
| Bảng 2.1 |
Tỷ lệ thời gian của cán bộ đại học dành cho hoạt động giảng dạy/NCKH/dịch vụ ở các loại trường đại học Hoa Kỳ (trung bình 3/5/2) |
| Hình 2.1 |
Sơ đồ quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học (Cơ bản thuần túy/nền tảng/định hướng/chuyên đề $\rightarrow$ Ứng dụng $\rightarrow$ Triển khai labô/pilot/serie 0) |
| Hình 2.2 |
Mô hình mối liên kết giữa NCKH với Đào tạo và Sản xuất |
| Hình 2.3 & 2.4 |
Cấu trúc, hoạt động và mối quan hệ giữa Viện NC&TK – Doanh nghiệp – Nhà nước trong hoạt động đổi mới |
Chương 3. Quá trình xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng lịch sử và thực tiễn liên kết tại Viện Hàn lâm KH&CNVN qua các giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn trước khi thành lập Viện Hàn lâm:
- Thời kỳ Viện Khoa học Việt Nam (1975-1993): Khảo sát các mốc triết lý chính sách KH&CN giai đoạn 1981-1992 (Bảng 3.1), sự ra đời của các doanh nghiệp spin-off ban đầu nhằm đưa kết quả nghiên cứu vào thực tế trong bối cảnh đất nước bắt đầu đổi mới.
- Thời kỳ Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (1993-2012): Từng bước chuyển đổi cơ chế quản lý, mở rộng hợp đồng nghiên cứu và dịch vụ KH&CN.
- Thực trạng liên kết tại Viện Hàn lâm KH&CNVN giai đoạn từ 2012 đến thời điểm nghiên cứu:
- Lực lượng cán bộ: Đánh giá số liệu phân bố và biến động lực lượng cán bộ khoa học năm 2016 so với các năm trước (Hình 3.1, Hình 3.2).
- Liên kết NCKH với sản xuất: Đánh giá tình hình thực hiện hợp đồng KH&CN giai đoạn 2011-2016 (Hình 3.3), phân tách giữa hợp đồng có nguồn gốc ngân sách nhà nước (Hình 3.4) và hợp đồng ngoài ngân sách nhà nước (Hình 3.5); tổng kinh phí hoạt động giai đoạn 2011-2017 (Hình 3.6).
- Liên kết NCKH với đào tạo: Phân tích việc hình thành khối đào tạo sau đại học và đại học trực thuộc Viện, cụ thể là Học viện Khoa học và Công nghệ và Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH với các chuyên ngành đào tạo (Bảng 3.2).
- Nhận xét, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân khiến mối liên kết ba bên tại Viện vẫn chưa thực sự đồng bộ và bền vững.
| Danh mục tư liệu, số liệu thống kê tiêu biểu trong Chương 3 |
Chỉ số / Nội dung phản ánh |
| Bảng 3.1 |
Các mốc triết lý chính sách KH&CN giai đoạn 1981 - 1992 |
| Bảng 3.2 |
Danh mục các chuyên ngành đào tạo của Trường Đại học KH&CN Hà Nội (USTH) |
| Hình 3.1 & 3.2 |
Cơ cấu và biến động lực lượng cán bộ khoa học của Viện Hàn lâm KH&CNVN năm 2016 |
| Hình 3.3, 3.4, 3.5 |
Tình hình thực hiện các hợp đồng KH&CN (tổng thể, nguồn NSNN và ngoài NSNN) giai đoạn 2011 - 2016 |
| Hình 3.6 |
Tổng kinh phí hoạt động hàng năm của Viện Hàn lâm KH&CNVN giai đoạn 2011 - 2017 (không kể vốn ngoài nước) |
Chương 4. Điều kiện đảm bảo cho hình thành và phát triển mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chương 4 tập trung luận giải các điều kiện đảm bảo và đề xuất giải pháp tái cấu trúc tổ chức:
- Phân tích nhu cầu tự thân của Viện NC&TK và đòi hỏi khách quan từ xã hội, yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư của Nhà nước, áp lực cạnh tranh của kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế.
- Khảo sát chuỗi dữ liệu kinh phí hàng năm của Viện Hàn lâm KH&CNVN giai đoạn 2006-2016 (Hình 4.1) để chứng minh mối quan hệ giữa nguồn lực tài chính và mức độ tự chủ.
- Xác lập hệ điều kiện cần và đủ:
- Điều kiện cần: Môi trường thể chế kinh tế thị trường hoàn thiện, hội nhập quốc tế sâu rộng và các chính sách vĩ mô của Nhà nước (về tài chính, sở hữu trí tuệ, cơ chế tự chủ).
- Điều kiện đủ: Các chính sách quản trị vi mô, sự chủ động và nỗ lực nội tại của tổ chức KH&CN trong việc tổ chức lại bộ máy.
- Đề xuất giải pháp tái cấu trúc: Tái cấu trúc Viện Hàn lâm KH&CNVN từ mô hình tổ chức cơ học (đơn chức năng) sang mô hình tổ chức hữu cơ (đa chức năng) thông qua hoàn thiện chức năng đào tạo (Đại học USTH, Học viện KH&CN) và chức năng sản xuất (doanh nghiệp spin-off, chuyển giao công nghệ), thể hiện qua sơ đồ mô hình tổ chức sau tái cấu trúc (Hình 4.2).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Tiếp cận hệ thống: Vận dụng lý thuyết hệ thống để phân tích thực thể NCKH, thực thể SX và thực thể ĐT như các phần tử cấu thành hữu cơ thuộc hệ thống Viện Hàn lâm KH&CNVN, có quan hệ tương tác mật thiết, không thể tách rời.
- Vận dụng mô hình Triple Helix và chính sách đẩy - kéo: Vận dụng lý thuyết liên kết ba (Viện NC&TK – Doanh nghiệp – Nhà nước) để làm rõ vai trò của Viện trong hệ thống đổi mới; kết hợp chính sách "KH&CN đẩy" và "thị trường kéo" để phân loại liên kết NCKH - SX thành 2 nhóm với 5 liên kết cụ thể.
- Lý thuyết tái cấu trúc tổ chức: Khẳng định quá trình hình thành và phát triển mối liên kết NCKH với ĐT và SX thực chất là quá trình chuyển đổi tổ chức từ lý thuyết cơ học (đơn chức năng) sang lý thuyết tổ chức hữu cơ (đa dạng hóa cấu trúc và chức năng).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng lịch sử: Tổng kết và phân tích quá trình tự điều chỉnh để hình thành mối liên kết tại Viện Hàn lâm KH&CNVN qua hơn 40 năm (từ thời kỳ Viện Khoa học Việt Nam 1975-1993, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia 1993-2012, đến Viện Hàn lâm KH&CNVN 2012-2018).
- Xác lập điều kiện thực thi: Xác định rõ ràng hệ thống điều kiện cần (kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chính sách vĩ mô của Nhà nước) và điều kiện đủ (chính sách vi mô, cơ chế tự chủ, nỗ lực nội tại) để liên kết hình thành và phát triển bền vững.
- Đề xuất mô hình tái cấu trúc tổ chức: Cung cấp luận cứ và mô hình tổ chức sau tái cấu trúc cho Viện Hàn lâm KH&CNVN nhằm hoàn thiện đồng thời hai phân hệ đào tạo (Học viện KH&CN, Đại học USTH) và phân hệ sản xuất (doanh nghiệp spin-off, văn phòng chuyển giao công nghệ).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Luận án tập trung phạm vi khảo sát điển cứu tại Viện Hàn lâm KH&CNVN – một tổ chức nghiên cứu khoa học tự nhiên và công nghệ đa ngành lớn nhất cả nước trực thuộc Chính phủ. Do tính chất đặc thù về quy mô và nguồn lực của Viện Hàn lâm, các phát hiện và giải pháp chưa bao quát chi tiết đến các viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc các Bộ, ngành kinh tế - kỹ thuật hoặc hệ thống các viện nghiên cứu thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng kiểm chứng và áp dụng khung lý thuyết liên kết NCKH - ĐT - SX cho các tổ chức R&D thuộc các Bộ, ngành và khối doanh nghiệp nhà nước;
- Nghiên cứu sâu cơ chế tài chính và phân chia lợi ích sở hữu trí tuệ giữa nhà khoa học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp spin-off trong bối cảnh thực thi các luật KH&CN sửa đổi bổ sung.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu thực chứng cho Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính trong việc hoàn thiện thể chế tự chủ (thay thế hoặc sửa đổi Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Nghị định 96/2010/NĐ-CP), hoàn thiện chính sách thành lập doanh nghiệp KH&CN trong viện nghiên cứu và phát triển thị trường công nghệ.
- Lãnh đạo và nhà quản lý các Viện nghiên cứu, Trường đại học: Tham khảo mô hình tổ chức hữu cơ, bài học kinh nghiệm về quản lý spin-off thập niên 90, cơ chế thành lập cơ sở đào tạo đại học/sau đại học trực thuộc viện nghiên cứu (mô hình USTH và Học viện KH&CN) nhằm tận dụng trang thiết bị phòng thí nghiệm và đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý KH&CN, Quản lý Giáo dục, Chính sách công: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia và khung phân tích Triple Helix kết hợp chính sách "đẩy - kéo" trong quản lý khoa học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chỉ ra nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến sự phân ly giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất ở Việt Nam?
Trả lời: Luận án chỉ ra rằng nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc hệ thống tổ chức KH&CN của Việt Nam trong thời gian dài được thiết kế theo lý thuyết cơ học với mô hình tổ chức đơn chức năng dưới cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Mô hình này tách rời ba hoạt động thành các thực thể độc lập, thiếu động lực kinh tế thị trường để gắn kết.
2. Luận án vận dụng mô hình lý thuyết nào để phân tích mối quan hệ giữa Viện NC&TK, Doanh nghiệp và Nhà nước?
Trả lời: Luận án vận dụng lý thuyết "chuỗi xoắn kép ba" (Triple Helix) để phân tích vai trò ngày càng chủ động của Viện NC&TK trong hệ thống đổi mới sáng tạo, cũng như sự tương tác mạng lưới giữa Viện NC&TK, Doanh nghiệp và Nhà nước nhằm thay đổi cấu trúc truyền thống và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
3. Tác giả đã tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu với cơ cấu mẫu như thế nào?
Trả lời: Tác giả phỏng vấn sâu 10 chuyên gia, nhà khoa học và nhà quản lý (09 nam, 01 nữ), bao gồm: 01 Viện sĩ, 05 GS/PGS.TS, 01 TS và 01 Giám đốc doanh nghiệp, đại diện cho các ngành Toán học, Vật lý, Hóa học, Cơ học, Vật liệu, Môi trường, Quản lý KH&CN. Mẫu bao gồm lãnh đạo Viện Hàn lâm, lãnh đạo các Viện chuyên ngành, giám đốc spin-off và giảng viên đại học.
4. Điều kiện cần và điều kiện đủ để hình thành mối liên kết theo đề xuất của luận án gồm những gì?
Trả lời: Điều kiện cần bao gồm nền kinh tế thị trường hoàn thiện, tiến trình hội nhập quốc tế về KH&CN và hệ thống chính sách vĩ mô phù hợp của Nhà nước. Điều kiện đủ bao gồm các quy định, chính sách quản trị vi mô cùng nỗ lực chủ động tái cấu trúc tổ chức của chính Viện Hàn lâm KH&CNVN.
5. Bản chất của việc xây dựng mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX tại Viện Hàn lâm KH&CNVN được luận án xác định là gì?
Trả lời: Luận án xác định bản chất của quá trình này là tái cấu trúc tổ chức KH&CN, chuyển dịch từ mô hình tổ chức cơ học đơn chức năng sang mô hình tổ chức hữu cơ với đặc trưng là đa dạng hóa cấu trúc và hoàn thiện đa chức năng (nghiên cứu, đào tạo và sản xuất/thương mại hóa).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Phạm Tuấn Huy đã giải quyết một vấn đề cấp thiết trong quản lý khoa học và công nghệ: xây dựng mối liên kết giữa NCKH với ĐT và SX theo hướng tự chủ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Bằng việc kết hợp cách tiếp cận hệ thống, phân tích chính sách và phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia, luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết tổ chức hữu cơ, mô hình Triple Helix và chính sách đẩy - kéo trong liên kết KH&CN. Công trình đã đúc kết thực tiễn phát triển qua hơn 40 năm của Viện Hàn lâm, xác lập hệ thống điều kiện cần - đủ và đề xuất phương án tái cấu trúc tổ chức nhằm khắc phục triệt để sự phân ly giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.