Luận án tiến sĩ xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất theo hướng tự chủ tự chịu trách nhiệm tại viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo và sản xuất tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

186
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG MỐI LIÊN KẾT GIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO VÀ SẢN XUẤT TRONG CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

1.1. Hệ khái niệm công cụ

1.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học

1.3. Hoạt động đào tạo

1.4. Hoạt động sản xuất

1.5. Cơ sở lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các viện nghiên cứu và triển khai

1.6. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.7. Kinh tế thị trường và tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.8. Cơ sở lý luận về liên kết

1.9. Khái niệm liên kết

1.10. Tính đa dạng của mối liên kết

1.11. Chính sách “thị trường kéo”, “khoa học và công nghệ đẩy”

1.12. Tính tất yếu của sự liên kết

1.13. Những yếu tố tác động đến liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo

1.14. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo

1.14.1. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất

1.14.2. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo

1.15. Hình thức liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất

1.16. Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo

1.16.1. Chuỗi “xoắn kép ba” (Triple helix) - cơ sở lý luận về liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất có sự quản lý của Nhà nước

1.16.2. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo

1.16.3. Bài học cho Việt Nam

1.17. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG MỐI LIÊN KẾT GIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI SẢN XUẤT VÀ ĐÀO TẠO THEO HƯỚNG TỰ CHỦ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM Ở VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

2.1. Quá trình hình thành sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất trước khi thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.2. Thời kỳ Viện Khoa học Việt Nam (1975-1993)

2.3. Thời kỳ Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (1993-2012)

2.4. Mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.4.1. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.4.2. Mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.4.3. Mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.5. Quá trình xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.5.1. Quá trình xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất

2.5.2. Quá trình xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo

2.6. Nhận xét về quá trình xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất

2.7. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MỐI LIÊN KẾT GIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO VÀ SẢN XUẤT THEO HƯỚNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM Ở VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

3.1. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo là nhu cầu của bản thân các Viện nghiên cứu và triển khai

3.2. Nhu cầu phát triển của Viện nghiên cứu và triển khai

3.3. Nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu của hoạt động đào tạo và hoạt động sản xuất

3.4. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chất lượng đào tạo và hiệu quả triển khai công nghệ

3.5. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo là đòi hỏi của xã hội đối với các Viện nghiên cứu và triển khai

3.6. Gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo để sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư của Nhà nước

3.7. Gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo để nâng cao hiệu quả nghiên cứu

3.8. Kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đòi hỏi sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo

3.9. Kinh tế thị trường đòi hỏi sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất

3.10. Hội nhập quốc tế thúc đẩy liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất

3.11. Tự chủ và mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo

3.12. Tự chủ đòi hỏi liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất

3.13. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất thúc đẩy quá trình tự chủ

3.14. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có những đặc điểm đòi hỏi sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo

3.15. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất là nhu cầu tự thân của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

3.16. Liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất là đòi hỏi của xã hội đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

3.17. Hình thành và hoàn thiện mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất là quá trình tái cấu trúc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

3.18. Điều kiện cần và đủ cho sự hình thành và phát triển mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

3.18.1. Điều kiện cần

3.19. Tái cấu trúc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo hướng liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất và đào tạo

3.19.1. Sự cần thiết tái cấu trúc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo hướng liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất

3.19.2. Tái cấu trúc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo hướng hoàn thiện chức năng đào tạo và sản xuất

3.20. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Liên Kết Giữa Nghiên Cứu Khoa Học Đào Tạo và Sản Xuất

Mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học, đào tạosản xuất là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển bền vững của các tổ chức khoa học tại Việt Nam. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm KH&CNVN) đã nỗ lực xây dựng mối liên kết này nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn. Việc kết hợp giữa nghiên cứu và đào tạo không chỉ giúp cải thiện chất lượng nguồn nhân lực mà còn thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp trong nước.

1.1. Khái Niệm và Tầm Quan Trọng Của Mối Liên Kết

Mối liên kết giữa nghiên cứu khoa họcđào tạo là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. Điều này không chỉ giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với các nghiên cứu mới nhất mà còn tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp. Theo nghiên cứu của Phạm Tuấn Huy, việc xây dựng mối liên kết này là cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Mối Liên Kết Tại Viện Hàn Lâm KH CNVN

Viện Hàn lâm KH&CNVN đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong việc xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học, đào tạosản xuất. Từ những năm 1975, Viện đã bắt đầu hình thành các chương trình hợp tác với các trường đại học và doanh nghiệp, nhằm tạo ra một hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả.

II. Thách Thức Trong Việc Xây Dựng Mối Liên Kết Giữa Nghiên Cứu và Đào Tạo

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng việc xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa họcđào tạo tại Viện Hàn lâm KH&CNVN vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu nguồn lực, sự phân tán trong quản lý và thiếu sự phối hợp giữa các bên liên quan đã cản trở quá trình này.

2.1. Thiếu Nguồn Lực và Hỗ Trợ Từ Chính Phủ

Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu nguồn lực tài chính và hỗ trợ từ chính phủ. Việc đầu tư cho nghiên cứu khoa họcđào tạo cần có sự quan tâm và đầu tư đồng bộ từ các cấp quản lý nhà nước để tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển.

2.2. Sự Phân Tán Trong Quản Lý và Điều Phối

Sự phân tán trong quản lý giữa các viện nghiên cứu và các trường đại học cũng là một rào cản lớn. Việc thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan dẫn đến việc không tận dụng được tối đa nguồn lực và tiềm năng của từng bên.

III. Phương Pháp Xây Dựng Mối Liên Kết Hiệu Quả Giữa Nghiên Cứu và Đào Tạo

Để xây dựng mối liên kết hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học, đào tạosản xuất, Viện Hàn lâm KH&CNVN cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Các phương pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng nghiên cứu mà còn tạo ra những sản phẩm ứng dụng thực tiễn.

3.1. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Bên Liên Quan

Việc tăng cường hợp tác giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp là rất quan trọng. Các chương trình hợp tác nghiên cứu, thực tập và chuyển giao công nghệ cần được thiết lập để tạo ra sự gắn kết chặt chẽ hơn.

3.2. Đổi Mới Chương Trình Đào Tạo Theo Nhu Cầu Thực Tế

Chương trình đào tạo cần được đổi mới để phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Việc tích hợp các nghiên cứu mới nhất vào chương trình giảng dạy sẽ giúp sinh viên có được kiến thức và kỹ năng cần thiết.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Mối Liên Kết Giữa Nghiên Cứu và Đào Tạo

Mối liên kết giữa nghiên cứu khoa họcđào tạo không chỉ mang lại lợi ích cho các tổ chức mà còn cho toàn xã hội. Các ứng dụng thực tiễn từ các nghiên cứu đã được triển khai tại nhiều doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

4.1. Các Dự Án Nghiên Cứu Thành Công

Nhiều dự án nghiên cứu đã thành công trong việc chuyển giao công nghệ và sản phẩm cho các doanh nghiệp. Những kết quả này không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

4.2. Tác Động Đến Nguồn Nhân Lực

Mối liên kết này cũng đã tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động. Sinh viên tốt nghiệp từ các chương trình đào tạo liên kết thường có khả năng làm việc tốt hơn và dễ dàng tìm được việc làm.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Mối Liên Kết Giữa Nghiên Cứu và Đào Tạo

Mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học, đào tạosản xuất tại Viện Hàn lâm KH&CNVN cần được tiếp tục phát triển và hoàn thiện. Tương lai của mối liên kết này sẽ phụ thuộc vào sự nỗ lực của tất cả các bên liên quan trong việc tạo ra một môi trường nghiên cứu và đào tạo hiệu quả.

5.1. Định Hướng Phát Triển Trong Tương Lai

Viện Hàn lâm KH&CNVN cần xác định rõ định hướng phát triển cho mối liên kết này. Các chính sách và chiến lược cần được xây dựng để đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả.

5.2. Vai Trò Của Chính Phủ Trong Việc Hỗ Trợ Liên Kết

Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể để thúc đẩy mối liên kết giữa nghiên cứu khoa họcđào tạo. Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sẽ tạo ra những bước tiến quan trọng cho nền kinh tế.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ xây dựng mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất theo hướng tự chủ tự chịu trách nhiệm tại viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỐI LIÊN KẾTGIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO VÀ SẢN XUẤT TRONG CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu được công bố ở trong nước có liên quan đến chủ đề Luận án Ở Việt Nam đã có một số công bố trực tiếp hoặc gián tiếp về liên kết giữa NCKH với ĐT và SX của các tổ chức khoa học công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Các nghiên cứu này có thể phân thành: công bố trên các tạp chí, tọa đàm khoa học và qua các đề tài, dự án.

Các nghiên cứu đã công bố trên tạp chí và tọa đàm khoa học trong nước Các nghiên cứu công bố trên các tạp chí trong nước về liên kết giữa NCKH với ĐT và SX của các tổ chức khoa học công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm chủ yếu theo 2 hướng: liên kết giữa NCKH với sản xuất của các Viện NC&TK và liên kết giữa hoạt động đào tạo với NCKH tại các Trường đại học. Ngoài ra có một số ít bài viết đề cập đến liên kết giữa NCKH với ĐT và SX. Tác giả Lê Văn Chương, Phạm Thị Bích Hà: "Đổi mới cơ chế kết hợp giữa nghiên cứu - sản xuất - đào tạo sau đại học". Bài viết đã nêu hiện trạng kết hợp hoạt động giữa NCKH - SX - ĐT tại các Trường đại học, các tổ chức NCKH, các Doanh nghiệp và hoạt động đào tạo sau đại học [Lê Văn Chương, Phạm Thị Bích Hà, 2004, tr.

Bài viết: "Đẩy mạnh hoạt động NCKH và sự tích hợp với hoạt động đào tạo góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học" của 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác giả Trương Quang Học đã đưa ra những kiến nghị ở cấp vĩ mô và vi mô để thúc đẩy liên kết giữa NCKH với đào tạo ở Việt Nam đồng thời kết luận NCKH vừa là mục đích, vừa là phương tiện để đào tạo nhân lực chất lượng cao [Trương Quang Học, 2004, tr. Trong bài viết: "Suy nghĩ về xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội theo mô hình một ĐHNC hiện đại", Trương Quang Học đã phân tích các đặc trưng của ĐHNC ở Hoa Kỳ (tỷ lệ giảng dạy/nghiên cứu/dịch vụ là 3/5/2) và xu thế phát triển đại học trên thế giới, qua đó đề xuất phương hướng xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội thành một Trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao theo mô hình ĐHNC [Trương Quang Học, 2005, tr. Tác giả Trịnh Ngọc Thạch: "Biện pháp chính sách phát triển nhân lực nghiên cứu trong các trường đại học ở Việt Nam", tác giả đã khẳng định quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với NCKH trong các Trường đại học và đề xuất một số giải pháp chính sách phát triển nhân lực nghiên cứu trong các trường đại học của Việt Nam [Trịnh Ngọc Thạch, 2004, tr. Bài viết của tác giả Vũ Cao Đàm: "Giải pháp chính sách nâng cao năng lực nghiên cứu của các Trường đại học".

Trong bài viết tác giả đã đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực nghiên cứu và đề xuất các biện pháp chính sách tái lập mối quan hệ giữa NCKH và đào tạo trong đó có giải pháp tái cấu trúc hệ thống đại học và khoa học Việt Nam [Vũ Cao Đàm, 2005, tr. Tác giả Mai Hà: "Kết hợp giữa NCKH và đào tạo đại học: cần hiệu quả và khách quan". Trong bài viết này tác giả đã đề xuất điều kiện cần và đủ để thực hiện liên kết giữa NCKH với đào tạo; xác định nguyên nhân của sự thiếu gắn kết giữa NCKH và đào tạo và đề xuất giải pháp khắc phục những nguyên nhân này [Mai Hà, 2005, tr. Trong bài "Thiếu gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo: Đâu là nguyên nhân?" , tác giả Mai Hà ngoài xác định nguyên nhân của sự thiếu gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo đã khẳng định muốn bài 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giảng có giá trị giảng viên buộc phải tiến hành NCKH, đây là hoạt động sống còn của nhà trường và của cá nhân từng giảng viên [Mai Hà, 2002, tr.

Bài viết “Mô hình nào cho tổ chức KH&CN trong Trường đại học’’ của Nguyễn Ngọc Điện cho thấy Trường đại học có thể quản lý, kiểm soát Doanh nghiệp KH&CN thông qua công cụ vốn và điều quan trọng là cần bỏ suy nghĩ Trường đại học là cơ quan chủ quản của Doanh nghiệp [Nguyễn Ngọc Điện, 2011, tr. Ngoài các công bố về liên kết giữa NCKH với đào tạo trong các Trường đại học nêu trên còn nhiều công bố về liên kết giữa NCKH với sản xuất trong các tổ chức KH&CN theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đặc biệt sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về Doanh nghiệp KH&CN. Bài báo "Các Viện công nghệ Việt Nam đi về đâu?" của Vũ Cao Đàm đề xuất những chính sách để các Viện công nghệ tự chuyển đổi một cách mềm mại theo nhiều phương án tùy chọn sao cho bản thân họ thấy có lợi nhất như: trở thành Doanh nghiệp với nhiều spin-off; trở thành Viện công nghệ với nhiều spin-off sản xuất; trở thành Doanh nghiệp công nghệ; trở thành tổ chức tư vấn (tư vấn pháp lý, tư vấn công nghệ, tư vấn đầu tư.) [Vũ Cao Đàm, 2000, tr. Trong bài viết “Doanh nghiệp KH&CN - một lực lượng sản xuất mới’’ tác giả Nguyễn Quân đưa ra liên kết giữa NCKH với sản xuất trong các tổ chức khoa học công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm là chuyển đổi các Viện NC&TK thành Doanh nghiệp KH&CN.

Bài báo đã nêu lý do phải tạo lập và phát triển Doanh nghiệp KH&CN đồng thời đưa ra chính sách đối với Doanh nghiệp KH&CN [Nguyễn Quân, 2006, tr. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Thanh Tùng với bài viết “Chuyển các Viện công nghệ sang Doanh nghiệp: điều kiện cần và đủ” cho rằng mới có điều kiện cần cho các Viện NC&TK chuyển sang Doanh nghiệp KH&CN mà chưa có điều kiện đủ. Bài báo đưa ra 2 vấn đề có tính chất quyết định đến điều kiện đủ của việc chuyển đổi đó là: hình thức chuyển đổi và doanh thu. Bài báo cũng đã đề ra một số giải pháp cần lưu ý khi chuyển đổi [Nguyễn Thanh Tùng, 2006, tr.

Bài viết: "Gắn khoa học với thực tiễn: Kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt Nam" của Nguyễn Minh Khả và Bùi Ngọc Quynh đã tổng hợp kinh nghiệm của các nước: Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc đưa ra giải pháp cho Việt Nam [Nguyễn Minh Khả, Bùi Ngọc Quynh, 2013, tr. Bài viết: "Đẩy mạnh liên kết đưa khoa học vào cuộc sống" của tác giả Nguyễn Duyên đề cập đến liên kết NCKH và sản xuất. Bài học để thương mại hóa các kết quả NCKH là hãy bắt đầu từ nhu cầu thực tế, đừng làm ra sản phẩm rồi “bắt” mọi người phải dùng [Nguyễn Duyên, 2013, tr. Các đề tài, dự án thực hiện trong nước Trong giai đoạn 1991-1995, đề tài cấp Bộ " Nghiên cứu và đề xuất một số phương án đổi mới hệ thống các cơ quan KH&CN Quốc gia" đã đưa ra phương pháp luận xây dựng cơ cấu tổ chức mạng lưới các cơ quan NC&TK với các nguyên tắc hình thành và phát triển của cơ quan NC&TK.

Đề tài đã đưa ra nguyên tắc hình thành và phát triển các cơ quan nghiên cứu trong Trường đại học như bộ phận hợp thành của mạng lưới cơ quan NC&TK. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đã “cứng hoá” tổ chức của các cơ quan NC&TK, chưa chú ý đến tính đặc thù của cơ quan NCKH và phát triển công nghệ là chúng có thể tự điều chỉnh, tự thích nghi trong quá trình chuyển đổi phù hợp với môi trường kinh tế xã hội bên ngoài [Vũ Cao Đàm, 2013, tr. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề tài cấp Bộ (1998) về “Cải tiến cơ chế quản lý các cơ quan R&D trong bối cảnh kinh tế thị trường ở Việt Nam’’ do Nguyễn Văn Học thực hiện. Đề tài nghiên cứu hai vấn đề: tổ chức hoạt động NC&TK trong Doanh nghiệp và tổ chức sản xuất kinh doanh trong các tổ chức KH&CN.

Đề tài cho rằng trong quá trình chuyển đổi của hệ thống các tổ chức KH&CN các biện pháp sắp xếp mang tính chất hành chính thường dẫn đến "phương án dở dang", đặc biệt nếu thiếu các biện pháp cơ chế kinh tế - tài chính hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi đó [Nguyễn Văn Học. Đề tài “Cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về KH&CN’’ do tác giả Vũ Cao Đàm thực hiện giai đoạn 1997-1999, sau khi phân tích tình hình các tổ chức NC&TK, tác giả đưa ra một số hình thức tái cấu trúc các tổ chức này: giữ nguyên trạng các Viện công nghệ hiện nay và chuyển đổi thành các Viện đầu ngành quốc gia; nhập vào một doanh nghiệp sản xuất; chuyển thành các doanh nghiệp engineering; chuyển thành các công ty tư vấn đa chức năng [Vũ Cao Đàm, 1999]. Đề tài cấp Bộ (2003-2004) “Nghiên cứu sự hình thành và phát triển Doanh nghiệp KH&CN và sự chuyển đổi một số tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam sang hoạt động theo cơ chế Doanh nghiệp’’ do Bạch Tân Sinh thực hiện. Sau khi đưa ra một số vấn đề lý luận của Doanh nghiệp KH&CN, đề tài kết luận nên chuyển đổi một số tổ chức KH&CN thành Doanh nghiệp KH&CN [Bạch Tân Sinh, 2004].

Đề tài cấp Bộ (2005) về “Nghiên cứu sự chuyển đổi một số tổ chức R&D sang hoạt động theo cơ chế Doanh nghiệp và sự hình thành và phát triển Doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam” do Bạch Tân Sinh làm chủ nhiệm đã nghiên cứu về nội dung chuyển đổi tổ chức KH&CN sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm và các điều kiện thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com R&D khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế Doanh nghiệp [Bạch Tân Sinh, 2005]. Đề tài cấp bộ về “Nghiên cứu sự phát triển của tổ chức R&D ở một số nước chọn lọc và Việt Nam” năm 2007 của tác giả Phạm Quang Trí, đã đưa ra lý luận về phát triển mạng lưới cơ quan R&D của một số nước như Đức, Trung Quốc, Việt Nam và đề xuất định hướng phát triển của các tổ chức R&D của Việt Nam [Phạm Quang Trí, 2007].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ