Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của tác giả Phạm Đức Tài với đề tài "Xây dựng và sử dụng hồ sơ học tập trong đánh giá năng lực giải quyết vấn đề toán học của học sinh lớp 9" được bảo vệ năm 2019 tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học môn Toán (mã số: 9.11), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Kiều và PGS.TS Nguyễn Thị Lan Phương.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
- Tính cấp thiết: Hoạt động kiểm tra, đánh giá giữ vai trò định hướng, tạo động lực cho quá trình dạy học và cung cấp thông tin phản hồi để điều chỉnh chất lượng giáo dục. Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 và Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu dạy học chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Tuy nhiên, thực tế đánh giá kết quả học tập môn Toán ở cấp trung học cơ sở (THCS) vẫn chủ yếu dựa vào các bài kiểm tra viết định kỳ (15 phút, 1 tiết, học kỳ, thi cuối cấp), thiên về đo lường khả năng tiếp thu kiến thức gián tiếp và ghi nhớ lý thuyết, chưa chú trọng đánh giá quá trình và khả năng vận dụng tri thức vào đời sống thực tiễn. Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) toán học là một trong những năng lực cốt lõi nhưng phương pháp đánh giá hiện hành còn đơn điệu, thiếu công cụ theo dõi sự tiến bộ liên tục của học sinh. Học sinh lớp 9 là đối tượng đang ở giai đoạn hoàn thiện nền tảng kiến thức toán cơ bản của cấp THCS, có sự phát triển về tư duy và tính tích cực cá nhân, đủ năng lực để tham gia vào quá trình tự thu thập minh chứng và đánh giá việc học tập.
- Khoảng trống nghiên cứu: Tại Việt Nam, các nghiên cứu về đánh giá năng lực người học phần lớn tập trung vào phương pháp trắc nghiệm khách quan hoặc bài kiểm tra chuẩn hóa. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống lý luận và thực tiễn về việc xây dựng, sử dụng hồ sơ học tập (HSHT) trong môn Toán nhằm đánh giá và phát triển năng lực GQVĐ toán học cho học sinh phổ thông.
Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận về năng lực, đánh giá năng lực và đánh giá năng lực GQVĐ toán học thông qua HSHT, luận án đề xuất các giải pháp xây dựng và sử dụng HSHT trong đánh giá và dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học của học sinh lớp 9.
- Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động đánh giá năng lực học sinh trong quá trình học tập môn Toán.
- Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá năng lực GQVĐ toán học của học sinh lớp 9 qua HSHT.
- Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng HSHT môn Toán phù hợp với điều kiện học tập của học sinh và sử dụng HSHT để đánh giá, đồng thời đề xuất các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học của học sinh thì sẽ góp phần nâng cao năng lực học tập môn Toán của học sinh.
- Phạm vi và giới hạn đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò, tác dụng, nội dung, quy trình xây dựng, phương thức lưu giữ HSHT và phương pháp sử dụng HSHT để đánh giá năng lực GQVĐ toán học; đề xuất mục đích và cách thực hiện một số biện pháp dạy học phát triển năng lực này cho học sinh lớp 9. Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại một số trường THCS thuộc thành phố Hà Nội và một số tỉnh khác.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế trên hai mạch nội dung chính: kiểm tra đánh giá năng lực và sử dụng hồ sơ học tập.
Tình hình nghiên cứu quốc tế
- Về đánh giá giáo dục và năng lực: Ralph Tyler đặt nền móng cho định nghĩa đánh giá giáo dục là quá trình xác định mức độ đạt được các mục tiêu của chương trình. Kevin Laws xem đánh giá là tiến trình thu thập và phân tích bằng chứng để đưa ra kết luận. Jean Marie Deketele (1989) nhấn mạnh tính phù hợp giữa thông tin thu thập và hệ tiêu chí xác định. Lịch sử đo lường ghi nhận sự phát triển của trắc nghiệm khách quan từ O. Courtis (1845), Fisher (1864) với bộ thang đo định lượng và Rice (1894) với quy trình đánh giá hệ thống. Về chức năng điều khiển quá trình dạy học, N. Savin và T. A. Ilina khẳng định đánh giá là phương tiện kích thích và nâng cao chất lượng dạy học. Các tác giả Hughes, Duncan Harris, Anthony Nitko phân tích vai trò của kiểm tra đánh giá đối với tính tích cực và tự giác của người học. Shepard Lorrie A. (1989), NPEC (2000) và Jean Cardinet chỉ ra ưu điểm của bài tự luận và việc cá nhân hóa đánh giá. Khối cộng đồng chung Anh (2003) và OECD (2012) xác định đo lường năng lực là đánh giá theo chuẩn và sản phẩm đầu ra thông qua hành động thực tiễn của học sinh.
- Về hồ sơ học tập: Báo cáo của NCATE và khảo sát của Mullis, Gonzalez & Chrostowski (2004) tại các nước OECD (như Đan Mạch, Iceland, Nhật Bản, Mexico, New Zealand) cho thấy tỷ lệ cao các trường sử dụng HSHT môn Toán định kỳ. Wade & Yarborough (1996), Bennet & Ward (1993), Harm H. Tillema (2002) khẳng định HSHT là xu hướng giảng dạy và đánh giá hiệu quả. John Zubizarreta (2004) xây dựng mô hình HSHT dựa trên ba thành phần cốt lõi: tài liệu, phản ánh và hợp tác. Task Stream (2005) phân loại hồ sơ điện tử thành hồ sơ trưng bày, hồ sơ hướng dẫn và hồ sơ tư liệu. Helen C. Barrett (2000, 2005, 2010) thiết lập quy trình phát triển hồ sơ điện tử qua 5 giai đoạn, nhấn mạnh ba chức năng: thước phim phát triển, công cụ nghề nghiệp và mô hình thiết kế sáng tạo. Valencia (1990), Murphy (1997), Dana & Tippins (1998), Santos (2000), Jon Mueller (2005) và De Fina (1992) phân tích sâu các giá trị của HSHT trong việc hỗ trợ xây dựng kiến thức, khuyến khích tự điều chỉnh và cung cấp bằng chứng đánh giá xác thực.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
- Về đánh giá kết quả học tập: Dương Thiệu Tống nghiên cứu trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập theo lý thuyết cổ điển và mô hình Rasch. Trần Bá Hoành định nghĩa đánh giá là quá trình hình thành nhận định, phán đoán dựa trên phân tích thông tin đối chiếu với chuẩn mực để đưa ra quyết định cải thiện thực trạng. Lâm Quang Thiệp đi sâu vào lý thuyết ứng đáp câu hỏi (IRT) và quy trình ước lượng tham số năng lực. Trần Kiều khẳng định đánh giá là điểm tựa cho chu trình dạy học mới với chất lượng cao hơn.
- Về hồ sơ học tập và sản phẩm học tập: Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc xác định phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là một trong các phương pháp đánh giá chất lượng học tập. Đề tài cấp Bộ của Trần Kiều xây dựng phương thức và công cụ đánh giá chất lượng GDPT. Nguyễn Tuyết Nga nghiên cứu đánh giá bằng nhận xét qua một số sản phẩm ở cấp tiểu học. Bùi Thị Hạnh Lâm đề cập bước đầu vai trò của HSHT trong việc rèn luyện kỹ năng tự đánh giá của học sinh THPT môn Toán. Đặng Thị Kim Dung nêu một số yêu cầu và cấu trúc của hồ sơ điện tử.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá qua đề kiểm tra chuẩn hóa hoặc mới đề cập sơ lược đến HSHT như một kênh thông tin bổ trợ chung. Luận án của tác giả Phạm Đức Tài là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam thiết lập khung lý luận đầy đủ và xây dựng quy trình thực hành cụ thể về việc sử dụng HSHT môn Toán để đánh giá năng lực GQVĐ toán học của học sinh lớp 9.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi
- Khái niệm năng lực và năng lực toán học: Luận án tiếp cận quan điểm của DeSeCo, Xavier Rogiers, Howard Gardner, Phạm Minh Hạc, Lâm Quang Thiệp và Chương trình GDPT để xác định: Năng lực là khả năng sử dụng một tập hợp có tổ chức các kiến thức, kỹ năng và thái độ để hoàn thành một số nhiệm vụ. Năng lực toán học là khả năng sử dụng tập hợp có tổ chức các kiến thức, kỹ năng toán học và thái độ để hoàn thành các nhiệm vụ toán học.
- Năng lực giải quyết vấn đề toán học: Dựa trên quan niệm của George Polya, Alan Schoenfeld, Mayer (1992), Randall Charles, Lester & O'Daffer (1987), Lesh & Zawojewski (2007), luận án định nghĩa: Năng lực GQVĐ toán học là khả năng sử dụng một tập hợp có tổ chức các kiến thức, kĩ năng toán học và thái độ để giải quyết thành công những nhiệm vụ toán học mà phương pháp và cách giải quyết nhiệm vụ đó, học sinh không được biết trước.
- Bốn thành tố của năng lực GQVĐ toán học:
- Hiểu vấn đề toán học: Nhận biết, phát hiện vấn đề cần giải quyết; xác định và phân tích các thông tin đã cho và thông tin cần tìm (ở dạng tường minh và ẩn tàng); phát hiện mâu thuẫn trong tình huống.
- Lựa chọn giải pháp: Phân tích, kết nối dữ liệu đã biết với kiến thức sẵn có; chuyển đổi ngôn ngữ thực tiễn sang ngôn ngữ toán học (toán học hóa); huy động kiến thức thuật toán và kiến thức chiến lược để đề xuất phương án và thiết lập mô hình toán học.
- Thực hiện giải pháp GQVĐ: Vận dụng chính xác các kiến thức, thuật toán, công cụ toán học; trình bày logic, chia nhỏ vấn đề phức tạp và tính toán đúng để tìm ra kết quả.
- Đánh giá giải pháp và khái quát vấn đề: Kiểm tra lại quy trình giải và tính hợp lý của kết quả; phản ánh giá trị giải pháp; áp dụng thao tác tương tự hóa, đặc biệt hóa, khái quát hóa để mở rộng và đề xuất vấn đề mới.
- Lý thuyết về hồ sơ học tập: Luận án định nghĩa HSHT là bộ sưu tập có mục đích, có tổ chức những sản phẩm học tập và kết quả của học sinh, phản ánh quá trình học tập, sự tiến bộ về kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực trong một khoảng thời gian. Dựa trên phân loại của Jon Mueller, luận án tập trung vào hai dạng: HSHT phát triển (theo dõi sự thay đổi, rèn kỹ năng tự đánh giá) và HSHT đánh giá (minh chứng cho sự đạt chuẩn).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận, điều tra thực tiễn và thực nghiệm sư phạm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tiếp cận hệ thống quá trình dạy học (mục tiêu, nội dung, phương pháp, đánh giá, môi trường); phân tích, tổng hợp và hồi cứu các tài liệu chuyên khảo trong và ngoài nước về đo lường giáo dục, lý thuyết kiểm tra đánh giá và phương pháp dạy học toán.
- Phương pháp điều tra thực tiễn: Khảo sát thực trạng tại các trường THCS thông qua hệ thống phiếu hỏi (phiếu khảo sát giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh), phỏng vấn sâu và phương pháp chuyên gia để thu thập dữ liệu về nhận thức, cách thức kiểm tra đánh giá và mức độ sử dụng HSHT môn Toán.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm tại các trường THCS để kiểm chứng quy trình xây dựng HSHT, tính khả thi của các phiếu đánh giá, thang đo Rubric 4 thành tố và đường phát triển năng lực GQVĐ toán học trên các trường hợp học sinh cụ thể.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về hồ sơ học tập trong đánh giá sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đánh giá giáo dục, phân tích bản chất của đánh giá năng lực theo chuẩn thực hiện và quy trình 4 bước của Patrick Griffin (Xác định mục đích; Thu thập bằng chứng; Giải thích bằng chứng; Báo cáo các bên liên quan). Tác giả làm rõ các thành tố của năng lực GQVĐ toán học và mối quan hệ giữa đánh giá với hoạt động dạy học.
Chương này trình bày chi tiết vai trò kép của HSHT: vừa là công cụ giảng dạy giúp giáo viên chẩn đoán và điều chỉnh kế hoạch, vừa là công cụ đánh giá xác thực giúp theo dõi sự tiến bộ của từng cá nhân. Luận án trích dẫn bảng so sánh giữa đánh giá qua HSHT và đánh giá qua bài kiểm tra chuẩn hóa theo De Fina (1992):
| Tiêu chí |
Đánh giá qua hồ sơ học tập |
Đánh giá qua bài kiểm tra chuẩn hóa |
| Bối cảnh thực hiện |
Diễn ra trong môi trường tự nhiên của học sinh |
Là một sự kiện không tự nhiên |
| Phạm vi thể hiện |
Tạo cơ hội thể hiện thế mạnh cũng như hạn chế |
Cung cấp tóm tắt một đoạn phim về học sinh |
| Thông tin cung cấp |
Cung cấp thông tin thực tế, tại chỗ cho giáo viên |
Cung cấp rất ít thông tin chẩn đoán |
| Chủ thể tham gia |
Cho phép học sinh, phụ huynh, giáo viên cùng đánh giá |
Cung cấp thông tin xếp hạng |
| Cơ hội quan sát |
Nhiều cơ hội quan sát quá trình đang diễn ra |
Là một lần chụp ảnh nhanh về khả năng |
| Tính chất nhiệm vụ |
Đánh giá nhiệm vụ học tập thực tế, thường xuyên |
Đánh giá nhiệm vụ nhân tạo |
| Sự suy ngẫm |
Tạo cho học sinh suy ngẫm về công việc và tri thức |
Yêu cầu một phản ánh mong muốn duy nhất |
| Thông tin phụ huynh |
Phản ánh quá trình làm việc và kiến thức của con |
Cung cấp dữ liệu số cơ bản, ít tính mô tả |
| Tương tác sư phạm |
Khuyến khích thảo luận giữa giáo viên và học sinh |
Buộc giáo viên họp quản lý hành chính |
| Định hướng GD |
Đặt học sinh ở trung tâm của quá trình giáo dục |
Chương trình giảng dạy là trung tâm |
Về thực tiễn, tác giả khảo sát ý kiến của giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh THCS. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng việc kiểm tra đánh giá hiện nay còn nặng về điểm số của bài kiểm tra viết, giáo viên chưa có quy trình chuẩn và công cụ cụ thể để triển khai HSHT trong môn Toán.
Chương 2. Xây dựng hồ sơ học tập môn Toán. Sử dụng hồ sơ học tập trong dạy học và đánh giá năng lực giải quyết vấn đề toán học của học sinh lớp 9
Chương 2 đề xuất quy trình xây dựng HSHT môn Toán gồm 6 bước có mối quan hệ chặt chẽ:
- Học sinh thu thập dữ liệu: Thu thập bài làm, bài tập thực hành, bài toán mở, biên bản hoạt động nhóm, sản phẩm dự án toán học gắn với thực tiễn.
- Học sinh thảo luận với giáo viên: Trao đổi để lựa chọn minh chứng phù hợp với tiêu chí và mục tiêu học tập.
- Học sinh tự đánh giá HSHT của cá nhân: Viết bản phản ánh, tự nhận xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo thang đo.
- Học sinh chia sẻ, phản hồi và đánh giá đồng đẳng: Tổ chức trao đổi chéo trong nhóm, ghi nhận ý kiến đóng góp của bạn học.
- Giáo viên kiểm tra, đánh giá: Giáo viên sử dụng tiêu chí định sẵn để đánh giá tiến bộ của học sinh, đưa ra nhận xét chẩn đoán.
- Tổ chức lưu giữ HSHT: Lưu giữ có hệ thống bằng cặp tài liệu truyền thống hoặc thư mục điện tử để theo dõi dọc theo thời gian.
Tác giả thiết kế bộ công cụ đánh giá chi tiết bao gồm:
- Thang đánh giá năng lực GQVĐ toán học (Rubric): Mô tả các mức độ đạt được cho cả 4 thành tố (Hiểu vấn đề; Lựa chọn giải pháp; Thực hiện giải pháp; Đánh giá và khái quát).
- Hệ thống phiếu đánh giá: Phiếu tự đánh giá qua từng sản phẩm; Phiếu tự đánh giá tổng thể; Phiếu đánh giá đồng đẳng; Phiếu đánh giá của giáo viên; Phiếu tham khảo ý kiến phụ huynh học sinh; Bảng tổng hợp đánh giá.
Đồng thời, chương 2 xây dựng các biện pháp dạy học tích hợp HSHT nhằm phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh lớp 9 thông qua các chủ đề đại số (như phương trình bậc nhất, phương trình bậc hai, biến đổi biểu thức) và hình học (như hệ thức lượng trong tam giác vuông, tỉ số lượng giác).
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm tại các trường THCS nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp.
- Nội dung thực nghiệm: Hướng dẫn giáo viên và học sinh áp dụng quy trình 6 bước lập HSHT môn Toán lớp 9; sử dụng thang Rubric và hệ thống phiếu để tiến hành tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và giáo viên đánh giá; theo dõi diễn tiến năng lực GQVĐ toán học của học sinh.
- Phương pháp phân tích kết quả: Tác giả xây dựng và phân tích biểu đồ biểu diễn kết quả và đường phát triển năng lực của từng thành tố (từ thành tố 1 đến thành tố 4) cũng như tổng hợp cả 4 thành tố trên các trường hợp học sinh điển hình (như trường hợp học sinh HS1, học sinh HS2).
- Kết quả xử lý thống kê: Số liệu thu thập qua phiếu hỏi giáo viên và phiếu hỏi học sinh sau thực nghiệm được tổng hợp trong các bảng thống kê. Kết quả khẳng định: giáo viên hướng dẫn được học sinh xây dựng HSHT, sử dụng tốt thang đo Rubric và xếp loại chính xác năng lực; học sinh hình thành kỹ năng tự đánh giá, phản ánh quá trình học và nâng cao rõ rệt năng lực GQVĐ toán học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về năng lực toán học và năng lực GQVĐ toán học của học sinh phổ thông, xác lập cấu trúc năng lực GQVĐ gồm 4 thành tố gắn với các chỉ báo hành vi quan sát và đo lường được.
- Làm sáng tỏ lý luận về HSHT môn Toán, vai trò của HSHT như một phương thức đánh giá quá trình đích thực, bổ trợ cho đánh giá tổng kết truyền thống và hỗ trợ đắc lực cho dạy học phát triển năng lực.
Đóng góp mới về thực tiễn
- Khảo sát, lượng hóa và đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá môn Toán ở trường THCS, chỉ ra nhu cầu và sự thiếu hụt công cụ đánh giá quá trình tại Việt Nam.
- Xây dựng quy trình 6 bước tường minh, khả thi trong việc xây dựng và quản lý HSHT môn Toán dành cho học sinh lớp 9.
- Thiết kế trọn bộ công cụ đo lường thực tiễn: Thang đánh giá Rubric cho 4 thành tố của năng lực GQVĐ toán học, hệ thống biểu mẫu phiếu tự đánh giá, phiếu đánh giá đồng đẳng, phiếu giáo viên đánh giá và phiếu khảo sát ý kiến phụ huynh.
- Minh chứng tính hiệu quả và khả năng áp dụng của HSHT thông qua thực nghiệm sư phạm, cung cấp mô hình vẽ đường phát triển năng lực cá nhân của học sinh trong dạy học môn Toán.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất các cơ sở giáo dục THCS từng bước áp dụng HSHT môn Toán kết hợp hài hòa với các hình thức kiểm tra định kỳ hiện hành.
- Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên toán về kỹ thuật xây dựng tiêu chí đánh giá theo Rubric và phương pháp hướng dẫn học sinh thu thập minh chứng, viết phiếu phản ánh.
- Tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc sử dụng HSHT như một kênh thông tin phản hồi thường xuyên về sự tiến bộ của học sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực nghiệm và khảo sát thực trạng ở môn Toán lớp 9 tại một số trường THCS thuộc thành phố Hà Nội và một số địa phương lân cận; các biện pháp dạy học đề xuất chủ yếu tập trung mô tả mục đích và cách thức thực hiện mà chưa mở rộng sang mọi chủ đề của chương trình; việc lưu trữ HSHT chủ yếu triển khai ở dạng hồ sơ giấy truyền thống do hạn chế về hạ tầng công nghệ thông tin tại thời điểm khảo sát.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu áp dụng quy trình xây dựng và sử dụng HSHT môn Toán cho các khối lớp khác ở cấp THCS và THPT; đẩy mạnh nghiên cứu và thiết kế phần mềm hồ sơ học tập điện tử (E-Portfolio) trên nền tảng web hoặc ứng dụng di động để tối ưu hóa việc lưu trữ, chia sẻ và tương tác trực tuyến giữa giáo viên, học sinh và phụ huynh.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học môn Toán và Khoa học giáo dục, đặc biệt là phương pháp luận nghiên cứu về đo lường, đánh giá năng lực người học và kỹ thuật thiết kế công cụ Rubric.
- Đối với giáo viên môn Toán THCS: Cung cấp tài liệu hướng dẫn thực hành sư phạm trực tiếp, giúp giáo viên nắm bắt quy trình 6 bước lập HSHT môn Toán lớp 9, áp dụng ngay các mẫu phiếu tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và các bài toán tình huống để phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh.
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục và người làm chính sách: Cung cấp căn cứ thực tiễn và giải pháp kỹ thuật phục vụ việc triển khai đổi mới công tác kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong Chương trình GDPT.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn thành tố của năng lực giải quyết vấn đề toán học được luận án xác định là gì?
Bốn thành tố gồm: (1) Hiểu vấn đề toán học; (2) Lựa chọn giải pháp; (3) Thực hiện giải pháp GQVĐ; (4) Đánh giá giải pháp và khái quát vấn đề.
2. Quy trình xây dựng hồ sơ học tập môn Toán do tác giả đề xuất gồm những bước nào?
Quy trình gồm 6 bước: Bước 1. Học sinh thu thập dữ liệu để đưa vào HSHT; Bước 2. Học sinh thảo luận với giáo viên về nội dung đưa vào HSHT; Bước 3. Học sinh tự đánh giá HSHT của cá nhân; Bước 4. Học sinh chia sẻ, phản hồi và đánh giá đồng đẳng; Bước 5. Giáo viên kiểm tra, đánh giá HSHT của học sinh; Bước 6. Tổ chức lưu giữ HSHT của học sinh.
3. Đánh giá qua hồ sơ học tập khác biệt cơ bản như thế nào so với kiểm tra chuẩn hóa?
Theo luận án (dẫn theo De Fina, 1992), kiểm tra chuẩn hóa chỉ là "ảnh chụp nhanh" tại một thời điểm với các nhiệm vụ nhân tạo để xếp hạng, trong khi đánh giá qua HSHT diễn ra trong môi trường học tập tự nhiên, cung cấp thông tin chẩn đoán quá trình liên tục, tạo cơ hội cho học sinh tự suy ngẫm và thể hiện năng lực vận dụng thực tế.
4. Bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ qua HSHT trong luận án gồm những gì?
Bộ công cụ bao gồm: Thang đánh giá năng lực GQVĐ toán học (Rubric 4 thành tố); Phiếu tự đánh giá qua từng sản phẩm; Phiếu tự đánh giá năng lực GQVĐ tổng hợp; Phiếu đánh giá đồng đẳng; Phiếu giáo viên đánh giá; Phiếu tham khảo ý kiến phụ huynh; Bảng tổng hợp đánh giá năng lực GQVĐ toán học.
5. Giả thuyết khoa học của luận án được phát biểu như thế nào?
Giả thuyết khoa học nêu rõ: "Nếu xây dựng HSHT môn Toán phù hợp với điều kiện học tập của HS và sử dụng HSHT để ĐG, đề xuất các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ toán học của HS thì sẽ góp phần nâng cao năng lực học tập môn Toán của HS."
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Đức Tài đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về việc xây dựng và sử dụng hồ sơ học tập trong đánh giá năng lực giải quyết vấn đề toán học của học sinh lớp 9. Công trình đã xác lập cơ sở lý luận vững chắc với cấu trúc năng lực GQVĐ gồm 4 thành tố, đề xuất quy trình 6 bước lập hồ sơ học tập và hệ thống hóa bộ công cụ đo lường tiêu chuẩn. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định việc sử dụng hồ sơ học tập tạo ra bước chuyển biến tích cực trong việc cá nhân hóa đánh giá, rèn luyện kỹ năng tự đánh giá và nâng cao năng lực học tập môn Toán của học sinh.