mở đầu cho việc ĐG, đo lường có hệ thống trong giáo dục. Dưới góc độ phương tiện điều khiển quá trình dạy học N.Savin cho rằng, ĐG có thể trở thành một phương tiện quan trọng để điều khiển việc học tập của HS, đẩy mạnh phát triển giáo dục HS [26].Ilina cũng cho rằng: ĐG kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo là rất quan trọng và là thành phần cần thiết của quá trình dạy học [37, tr.Ilina nhấn mạnh chức năng quan trọng của ĐG, coi nó như là một phương tiện để nâng cao chất lượng dạy học: Việc ĐG là một phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý nghĩa giáo dục rất lớn trong điều kiện nếu như nó được GV sử dụng đúng đắn [37, tr. Lĩnh vực nghiên cứu về KTĐG và đo lường trên thế giới đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Có thể nói, hầu hết các tác giả tiêu biểu như Hughes, Ducan Harris, A.
Nitko,…đã tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ định nghĩa, chức năng, vai trò của KTĐG đối với việc phát triển tri thức, năng lực, đặc biệt là tính tích cực, tự giác của HS, giúp các em tự tin hơn trong học tập và ĐG KQHT của mình [51], [74], [75]. Đề cập đến việc đổi mới các hình thức, phương pháp ĐG, Shepard, Lorrie A. (1989) [78], Tài liệu đánh giá NPEC (2000) [90] đã phân tích sâu hơn các ưu điểm của kĩ năng ĐG qua bài luận, giúp HS rèn luyện tư duy phân tích, tổng hợp. (1990) [63] cũng phân tích ưu điểm và nhược điểm của các dạng thức ĐG, song nhấn mạnh vai trò ĐG qua các câu hỏi TNKQ.
Theo tác giả Jean Cardinet, do việc dạy học thay đổi nên quan điểm về ĐG cũng thay đổi, việc ĐG đã tập trung vào ĐG từng cá nhân. Tài liệu tập huấn ĐG năng lực của Khối cộng đồng chung Anh, năm 2003 nêu rõ: “Đo lường năng lực không chỉ là việc đo lường khả năng thực hiện nhiệm vụ hoặc hành động học tập. Nó bao 8 hàm việc đo lường khả năng tiềm ẩn của HS và đo lường việc sử dụng những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập tới một chuẩn nào đó”. Do đó, có thể thấy ĐG năng lực là ĐG theo chuẩn và theo sản phẩm đầu ra.
Các năng lực cụ thể cốt lõi này được HS thể hiện từ sự vận dụng, kết hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ, v. ĐG năng lực là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc HS đã thực hiện các sản phẩm đầu ra tới mức độ thành công như thế nào, thông qua những hành động cụ thể của HS trong một số nhiệm vụ học tập tiêu biểu [dẫn theo 24]. - Về hồ sơ học tập Để ĐG năng lực HS cần phải sử dụng nhiều loại công cụ và hình thức ĐG khác nhau, trong đó có HSHT của HS. Căn cứ vào các minh chứng trong HSHT, GV và các nhà QLGD có thể xem xét để ĐG năng lực của HS.
HSHT đề cập đến một tập hợp các sản phẩm được tích lũy dần để thể hiện quá trình học tập và năng lực của HS. Việc thu thập các minh chứng về năng lực có thể dựa theo các tiêu chí thực hiện đã quy định. Tại một số trường trên thế giới, HSHT được coi là một trong những công cụ ĐG có giá trị, nó là một công cụ được sử dụng thường xuyên kết hợp với việc KT, ĐG truyền thống thường tổ chức vào cuối một khoảng thời gian học tập, làm cho ĐG việc học tập của HS được phong phú thêm. Giáo dục toán học truyền thống, ở tất cả các cấp, phụ thuộc nhiều vào bài tập và bài KT để ĐG sự tiến bộ của HS, nhưng những công cụ này luôn mang lại thông tin không đầy đủ hoặc chưa phù hợp với sự phát triển của HS.
Các nhà giáo dục liên tục chỉnh sửa hoặc tìm kiếm các kỹ thuật ĐG mới để giải quyết những thiếu sót và HSHT toán học đã trở nên phổ biến như là một công cụ có tiềm năng ĐG hiệu quả [dẫn theo 57]. Trong các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, HSHT môn Toán của HS được sử dụng như là một hình thức ĐG. Trung bình trong số các nước OECD, 43% hiệu trưởng các trường báo cáo rằng HSHT của HS được sử dụng ít nhất ba lần trong một năm để ĐG trẻ em 15 tuổi và ở Đan Mạch, Iceland, Nhật Bản, Mexico, Tây Ban Nha và Brazil áp dụng cho từ 75 đến 96% (Mullis, Gonzalez & Chrostowski, 2004). Tại New Zealand, các trường trung học sử dụng HSHT như là một hình thức ĐG trong toán học [dẫn theo 83].
Hội đồng Quốc gia về Kiểm định chất lượng giáo dục (NCATE) cho rằng HSHT như là một công cụ có hiệu lực, để trưng bày các kỹ năng đại diện chuẩn bị cho nghề nghiệp và để có được thành công trong nghề nghiệp. NCATE quy định các tiêu chuẩn 9 nghề nghiệp làm chuẩn để đo lường các thành tích được biểu thị bằng các thành phần trong HSHT. Trong tiếng Anh và một số ngành khác, HSHT và nhật kí từ lâu đã được sử dụng đều đặn trong một số các lớp đại học. Nhưng gần đây, sau khi quan tâm tổ chức việc giảng dạy các khóa học về HSHT, HSHT học tập đã bắt đầu thu hút sự chú ý đáng kể trong môi trường giáo dục đại học và cao đẳng.
Giờ đây, tồn tại rất nhiều trang web thông tin trực tuyến về HSHT, cung cấp các mô hình phong phú và đa dạng về cách sử dụng HSHT trên toàn thế giới cho nhiều mục đích, chủ yếu đến từ các trường đại học và cao đẳng. Các quốc gia như Úc, Anh, Hà Lan, New Zealand, Canada, Pháp, Phần Lan, Hồng Kông, Mexico, Singapore và tất nhiên là Hoa Kỳ (chỉ nêu tên một số các tổ chức có chương trình HSHT được thiết kế mà kế hoạch ĐG KQHT của HS có hệ thống). Mặc dù phải mất thời gian, nhưng HSHT học tập rõ ràng đã trở thành xu hướng chủ đạo trong giáo dục đại học [93]. Ngoài ra, trong năm 1996, HSHT được xác định là một trong ba xu hướng chương trình giảng dạy hàng đầu tại Mỹ và đã được ca ngợi như là một phương pháp khác để ĐG HS (Wade & Yarborough, 1996) [dẫn theo 73].
Qua công trình của Harm H.Tillema (2002), cho thấy nhiều nhà khoa học giáo dục đã tập trung nghiên cứu việc sử dụng HSHT từ những năm 90 của thế kỷ trước. Bennet và Ward (1993) khẳng định HSHT là một công cụ ĐG đã trở nên phổ biến rộng rãi [72]. Có thể kể ra một số tác giả nghiên cứu về xây dựng và ĐG qua HSHT: - John Zubizarreta (2004) [93] đã nghiên cứu về HSHT và tập trung vào một số vấn đề như: + Đề xuất một mô hình đơn giản nhất cho một HSHT dựa trên 3 thành phần cơ bản là tài liệu, phản ánh và hợp tác. + Khẳng định có nhiều hình thức của HSHT dựa vào mục đích hoặc do thiết kế của người xây dựng.
+ Khẳng định giá trị quan trọng nhất của HSHT là thu hút HS tham gia vào xây dựng HSHT. + Nêu khái quát định hướng nội dung của một HSHT. Các kết quả nghiên cứu của John Zubizarreta mang tính định hướng chung cho tất cả các loại HSHT, có tính lí luận cao, có tính trừu tượng, do đó người đọc cần nghiên cứu nhiều về HSHT mới có thể hiểu và vận dụng được. John Zubizarreta 10 chưa đi sâu vào việc sử dụng HSHT để ĐG HS cũng như chưa đi sâu nghiên cứu HSHT môn Toán.
- Task Stream (2005) nghiên cứu về HSHT điện tử và chia làm 3 loại: + Hồ sơ trưng bày: sử dụng cho việc trưng bày và ĐG quá trình. Kết quả của hồ sơ là hàng trăm các web trong đó chứa các kết quả, các sản phẩm hoạt động và học tập của HS, HS có thể chia sẻ hồ sơ của mình với tất cả mọi người. + Hồ sơ hướng dẫn: là công cụ ĐG hoạt động của HS, nơi GV đưa ra các chỉ dẫn, ĐG HS. Từ hồ sơ này người ta dễ dàng thu thập các thông tin phục cho mục tiêu ĐG.
+ Hồ sơ tư liệu: đó là hồ sơ công việc. HS chứa các sản phẩm của mình trên mạng. Những sản phẩm này thể hiện cuộc sống, tâm hồn và KQHT của HS. - Một tác giả có nhiều bài nghiên cứu về HSHT đặc biệt là HSHT điện tử là Helen C Barrett.
Helen C Barrett thiết lập quy trình phát triển một HSHT gồm 5 giai đoạn: Xác định mục tiêu HSHT và bối cảnh; HSHT làm việc (thu thập và chọn); HSHT phản ánh (chọn và phản ánh); HSHT kết nối (kiểm tra, hoàn thiện, kết nối); HSHT trình bày (lưu trữ và trình bày) [53]. Theo Helen C Barrett (2000): HSHT cung cấp một “bức tranh phong phú hơn” về học tập và năng lực của HS. Việc ĐG qua HSHT rất thuận lợi khi công nghệ thông tin phát triển. Helen C Barrett (2005) [54] chỉ rõ ba chức năng của hồ sơ điện tử: Là thước phim về sự phát triển và trưởng thành của HS; Là công cụ phát triển nghề nghiệp: hồ sơ cần giúp HS phát triển các kĩ năng nghề nghiệp cần thiết; Là mô hình thiết kế sáng tạo của HS: giúp HS học và hiểu sâu hơn bài học, hiểu được năng lực của mình và HSHT là cơ hội để HS lên kế hoạch và ĐG việc học tập của bản thân họ.
Helen C Barrett (2005) còn chỉ ra sự khác biệt giữa hồ sơ điện tử và hồ sơ truyền thống: HSHT điện tử sử dụng công nghệ điện tử để chứa các hiện vật; Cho phép HS thu thập và tổ chức các hiện vật ở nhiều loại phương tiện (âm thanh, video, đồ họa, văn bản); Sử dụng các liên kết siêu văn bản để tổ chức tài liệu, kết nối bằng chứng cho các kết quả, mục tiêu hoặc tiêu chuẩn phù hợp; Dễ dàng tìm kiếm hơn và các bản ghi có thể lấy được, thao tác, chỉnh sửa và tổ chức lại đơn giản hơn; Đỡ mất thời gian, có thể truy cập ngay lập tức, toàn diện và chặt chẽ hơn; Có thể sử dụng nhiều tài liệu hơn; Dễ dàng mang theo và chia sẻ với đồng nghiệp, phụ huynh và những người khác; Cho 11 phép phản hồi nhanh; Thể hiện các kỹ năng công nghệ sáng tạo; Cung cấp quyền truy cập cho độc giả toàn cầu nếu họ dựa trên web. Helen C Barrett tiến hành so sánh về HSHT điện tử sử dụng cho ĐG của việc học tập và ĐG cho việc học tập.