CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 1.1 Từ Tiếng Việt Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp có khoảng 300 định nghĩa về từ [26. Điều này chứng tỏ việc định nghĩa về từ không phải là đơn giản, và để có một định nghĩa về từ đầy đủ nhằm thỏa mãn tất cả các nhà nghiên cứu là không thể. Tuy nhiên, theo F.
Sausure thì "từ mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể ngôn ngữ” [25. Trong các tài liệu ngôn ngữ học hiện đại, có ba khuynh hướng cơ bản trong việc miêu tả bản chất của từ. 1) Từ chỉ được khảo sát theo quan điểm ngôn ngữ học một phần nào, còn việc giải quyết nó nói chung là được chuyển sang các khoa học lân cận như triết học, logic và tâm lí học. 2) Từ được xác định một cách phiến diện từ một mặt nào đó của nó, hoặc được xác định một cách chung chung, không cụ thể.
Định nghĩa của K. Buhler thiên về mặt ngữ âm: "Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo tử các âm vị và có thể tạo thành trường”. Fortunatov định nghĩa: “Từ là bất cứ âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ, từ có một ý nghĩa khác với ý nghĩa của những âm khác cũng là từ khác". Schmidt "Từ không phải đơn giản là tổng số có tính số học của vật chất âm thanh và ý nghĩa mà là một chỉnh thể có tổ chức, một đơn vị kết cấu tính của vật chất âm thanh và ý nghĩa".
3) Từ được khảo sát từ các mặt khác nhau, nhưng chủ yếu nhấn mạnh những đặc điểm của nó trong mỗi ngôn ngữ riêng biệt. Các tác giả trong nước cũng đưa ra một số định nghĩa về từ như sau: 8 Với tư cách là định nghĩa sơ bộ có tính giả thiết để làm việc, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đưa ra định nghĩa như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ độc lập về ý nghĩa và hình thức. Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, các tác giả cho rằng: “Từ tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu. Nó có hình thức của một âm tiết, một chữ viết” [26].
Tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thái học và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang nhữmg đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam" [6]. Như vậy, ta thấy từ có rất nhiều định nghĩa khác nhau nhưng để hiểu một cách đơn giản và khái quát nhất thì Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. Định nghĩa vừa nêu trên cho thấy, so với từ của tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Anh,… từ của tiếng Việt có tính cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và chức năng trong câu. Tính cố định và bất biến về âm thanh là điều kiện hết sức quan trọng giúp ta nhận diện từ một cách dễ dàng.
Song cũng chính vì tính cố định và bất biến này mà bản thân hình thức ngữ âm của từ Tiếng Việt không chứa đựng những dấu hiệu chỉ rõ đặc điểm ngữ pháp của chúng. Nói cách khác, ở Tiếng Việt, “đặc điểm ngữ pháp của từ không biểu hiện trong nội bộ từ mà biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ, trong tương quan của nó với các từ khác trong câu”. Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn gọi là các âm tiết "Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ”. Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng cách dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó.2 Vốn từ và làm giàu vốn từ Vốn từ hay từ vựng, kho từ vựng của một người là tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới).
Vốn từ của từng người là cụ 9 thể, không ai giống ai. Vốn từ nhiều hay ít, đơn giản hay đa dạng tùy thuộc vào kinh nghiệm sống, trình độ học vấn, sự giao tiếp, giao lưu văn hóa của mỗi người. Thông thường, vốn từ vựng của con người thường xuyên được tăng lên theo tuổi tác (vì thời gian tiếp xúc và sự giao tiếp của con người tăng lên), nó là công cụ cơ bản và hữu dụng trong giao tiếp, tư duy và thu nhận kiến thức. Với mỗi con người, việc có một vốn từ phong phú là vô cùng quan trọng.
Ta thấy rằng vốn từ của con người càng phong phú bao nhiêu thì khả năng diễn đạt của người đó càng tinh tế, chính xác, khả năng tư duy của người đó càng sắc sảo, mạch lạc bấy nhiêu. Vốn từ mà con người tích lũy được tổ chức thành một hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ có nét chung về hình thức hoặc nội dung khiến con người đứng trước một đơn vị nào đó có thể liên tưởng đến các đơn vị khác cùng hệ thống với chúng. Ta có thể nói rằng, từ được tồn tại trong đầu óc con người như một hệ thống (hệ thống nhỏ thuộc các tầng bậc, cấp bậc khác nhau nằm trong một hệ thống lớn) nhờ đó từ mới được tích lũy nhanh và sử dụng một cách dễ dàng. Theo nghiên cứu của các nhà tâm lí ngôn ngữ học, người có trình độ học vấn trung bình có vốn từ khoảng 25000 từ.
Dựa vào tần suất sử dụng từ, người ta phân biệt hai loại kho từ vựng là chủ động và bị động. Kho từ vựng chủ động là các từ được sử dụng hàng ngày, có tần suất sử dụng cao, được con người nắm vững và sử dụng văn nói và văn viết một cách thành thạo. Kho từ vựng bị động bao gồm các từ không sử dụng hoặc ít sử dụng chúng trong văn nói hoặc viết. Trong quá trình hoàn thiện và phát triển ngôn ngữ, một số từ mới có nghĩa mới được nảy sinh, bên cạnh đó cũng có một số từ cũ bị loại bỏ, không còn được sử dụng.
Ví dụ trước đây người ta thường sử dụng các từ như: phi cơ, tàu bay, xa hỏa,. nhưng ngày nay những từ này ít xuất hiện, ít được sử dụng và có nguy cơ bị loại bỏ. Những từ cũ này dần dần được gạt ra khỏi kho từ vựng chủ động, còn những từ mới xuất hiện thì chưa thể thành kho từ vựng chủ động, ta cần phải tích cực hóa những từ đó bằng cách vận 10 dụng vào hoạt động giao tiếp một cách thường xuyên và hiệu quả. Vì vậy, để nâng cao trình độ văn hóa về mặt ngôn ngữ của con người chúng ta cần nâng cao vốn từ bằng cách làm giàu vốn từ tích cực.
Làm giàu vốn từ (còn gọi là phát triển vốn từ hay phong phú hóa vốn từ) nghĩa là trên cơ sở vốn từ đã có, bổ sung thêm những từ ngữ mới, làm cho vốn từ của cá nhân thêm nhiều hơn, phong phú hơn. Làm giàu vốn từ là cung cấp cho học sinh vốn từ với các nét nghĩa tinh tế, đa dạng: nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa văn chương. Chúng ta thấy rằng, khi có một vốn từ phong phú thì cá nhân có thể có điều kiện tốt nhất để cùng tham gia vào các hoạt động giao tiếp một cách tự tin và hiệu quả. Việc tổ chức phát triển vốn từ cho học sinh tiểu học được xác lập dựa trên những cơ sở chủ yếu sau: thứ nhất dựa vào quy luật tiếp nhận từ ngữ của trẻ em nói riêng, con người nói chung; thứ hai dựa trên quy luật liên tưởng của con người cụ thể dựa trên quan hệ liên tưởng giữa các từ trong bộ não của con người.
Về quan hệ liên tưởng giữa các từ, F.Sausure cũng đã nói: Một từ nào đó bao giờ cũng có thể gợi lên tất cả những cái gì có thể liên tưởng với nó bằng cách này hay cách khác. Từ những luận điểm trên, người ta chủ trương làm giàu vốn từ cho học sinh theo hai hướng: theo liên tưởng trực tuyến và liên tưởng hình tuyến. Đó cũng chính là chỗ dựa lí luận của nhóm bài tập “Làm giàu vốn từ”.2 Cơ sở tâm lí - ngôn ngữ học Như chúng ta đã biết, tâm lí ngôn ngữ học là một khoa học liên ngành. Nó nghiên cứu các hoạt động của con người trong quá trình con người sử dụng ngôn ngữ và hình thành ngôn ngữ.
Một phần nội dung nghiên cứu của tâm lí ngôn ngữ học là xem xét quá trình tích lũy vốn từ, phát triển và mở rộng vốn từ. Đây là một trong những tiền đề quan trọng cho việc dạy mở rộng vốn từ.1 Quy luật tiếp nhận và tích lũy từ ngữ của con người với việc mở rộng vốn từ Tác giả Phan Thiều đã đưa ra ý kiến: "Khi con người học từ, trước hết là phải học trong thực tiễn, trong quá trình học tập, giao tiếp hằng ngày với mọi người xung quanh. Khi sử dụng từ vào quá trình giao tiếp, những từ ngữ này không đứng riêng lẻ mà nó tồn tại trong câu, trong một đoạn văn, một văn bản (là câu, là bài) gắn liền với những chủ điểm, hoàn cảnh thực tại nhất định. Chính văn cảnh, hoàn cảnh đó, từ ngữ mới sẽ xuất hiện và thúc đẩy người nghe, người đọc tìm hiểu từ ngữ mới đó (nghĩa của từ, từ ngữ thuộc chủ điểm nào, cách sử dụng từ ra sao).
Đồng thời là cơ sở dựa vào đó mà người nghe, người đọc dần dần đoán nhận ra nội dung từ ngữ, qua đó mà tiếp nhận, mà chiếm lĩnh từ ngữ mới của riêng mình và biết cách sử dụng từ trong hoàn cảnh giao tiếp sao cho phù hợp". Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cũng khẳng định: Từ sẽ mất đi sức sống nếu tách nó ra khỏi hoạt động giao tiếp [7]. Như vậy, ta thấy rằng để có được vốn từ phong phú thì người dạy và người học phải gắn liền với các hoạt động giao tiếp. Về quá trình lĩnh hội từ ngữ của con người, theo LS.
Vygotski, ông cho rằng, “Tư tưởng của con người ta không phải được thể hiện trong từ mà nó được hoàn thiện trong bản thân từ.” Theo các nhà tâm lí học, có hai con đường để học sinh tiếp nhận và tích lũy từ ngữ, làm phong phú vốn từ của mình: Con đường thứ nhất dựa trên quy luật tiếp nhận từ ngữ của con người.