CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề lí thuyết về phê bình sinh thái 1. Khái lược về phê bình sinh thái 1. Khái niệm Thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocricism), được sử dụng lần đầu tiên bởi William Rueckett, trong một bài viết có tiêu đề Văn học và sinh thái học: Một thử nghiệm phê bình sinh thái.
Sau William Rueckett, nhiều học giả khác đã đề xuất nhiều thuật ngữ khác. Các thuật ngữ được sử dụng cùng với thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocricism), như là: Nghiên cứu văn học và môi trường ( Studies of literature and environment), Sinh thái học văn học (Literary ecology), Phê bình văn học môi trường (Environmental literary criticism), Phê bình văn hóa xanh (Green cultural studies)… Giới nghiên cứu đã có nhiều tranh luận về tên gọi của thuật ngữ phê bình sinh thái, đặc biệt với hai thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất: Phê bình sinh thái (Ecocricism) và Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature and environment). Theo Giáo sư văn học và môi trường Chery Glotfelry, phần lớn các học giả thích sử dụng thuật ngữ Phê bình sinh thái (Ecocricism) “vì nó ngắn gọn và có thể dễ dàng tạo thành dạng thức khác là ecocrical (tính chất phê bình sinh thái) và ecocritic (nhà phê bình sinh thái). Hơn nữa, họ thích tiền tố “eco-” (sinh thái) hơn tiền tố “enviro-” (môi tường) mang quan điểm con người là trung tâm và có tính nhị nguyên ngụ ý rằng: con người chúng ta là trung tâm, tất cả mọi thứ xung quanh chúng ta là môi trường.
Ngược lại tiền tố “eco-” (sinh thái) ám chỉ vạn vật cộng đồng phụ thuật phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành một hệ thống và những yếu tố trong hệ thống đó luôn có sự hòa hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau” [24, xx]. Vậy thế nào là phê bình sinh thái? Các học giả trên thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm về phê bình sinh thái. Năm 1996, trong lời giới thiệu cho Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học, Giáo sư Cherry Glotfelty - nhà 8 phê bình sinh thái học đầu tiên của Mĩ đã đưa ra một định nghĩ khá giản dị và rõ ràng về phê sinh thái như sau: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường” [24, xviii]. Đây là định nghĩa được thừa nhận và sử dụng rộng rãi nhất bởi tính ngắn gọn và dễ hiểu của nó.
Bà còn giải thích thêm: “Toàn bộ phê bình sinh thái có chung một tiền đề cơ bản, đó chính là văn hóa nhân loại được gắn kết với thế giới vật chất và có ảnh hưởng qua lại với thế giới đó. Phê bình sinh thái lấy mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là văn hóa sáng tạo về ngôn ngữ và văn hóa làm chủ đề. Với tư cách là một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đứng một chân ở văn học, một chân ở trái đất; với tư cách là một diễn ngôn lý thuyết, nó làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại” [24, xix]. Định nghĩa của Cherry Glotfelty thể hiện rất rõ sứ mệnh quan trọng nhất của phê bình sinh thái là thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, truy tìm nguồn gốc văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái.
Đây là yêu cầu chính của chủ nghĩa phê bình. Cũng là điểm nổi bật nhất của định nghĩa đơn giản này. Mục đích của lý luận phê bình sinh thái là làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại. Hàm ý của nó là: Điểm tựa tư tưởng của phê bình sinh thái vừa có thể là chủ nghĩa môi trường với sự nỗ lực cải thiện chất lượng môi trường, thúc đẩy mối quan hệ hòa giữa con người và môi trường, vừa có thể là chủ nghĩa sinh thái với sự nỗ lực tạo nên văn minh sinh thái để từ đó khôi phục lại sự cân bằng của hệ thống sinh thái.
Để làm được điều đó đối tượng nghiên cứu và phê bình của phê bình sinh thái tuyệt đối không chỉ là tác phẩm văn học sinh thái, tác phẩm trực tiếp miêu tả tự nhiên hay “lối viết tự nhiên”, mà là toàn bộ các tác phẩm văn học Đông Tây kim cổ [23, tr. Quá trình hình thành và phát triển Đứng trước những vấn nạn về môi trường toàn cầu hiện nay, nhân loại cần dũng cảm thừa nhận một điều rằng: chúng ta đã bỏ quên mất tự nhiên 9 trong quá trình sinh tồn và phát triển của mình. Từ rất lâu trong tất cả các giáo thuyết tồn tại trong mọi tôn giáo đều cũng đã đề cập, cũng như nói lên mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với “đất mẹ, chúa trời”. Thế nhưng, khi tiếp thu những tư tưởng trên, nhân loại lại thiên về vị kỉ hơn là vị tha, nhấn mạnh việc đề cao con người, giá trị con người mà xem nhẹ thế giới tự nhiên.
Tự nhiên trở thành đối tượng tiêu dùng của con người. Những thành tích chế ngự thiên tai, chinh phục tự nhiên giúp loài người viết nên những trang “thần thoại hiện đại” về sức mạnh con người. Từ đó họ kiêu hãnh cho mình là chủ trái đất này, đó là sự thắng thế của chủ nghĩa nhân loại trung tâm. Tuy nhiên, con người là những “ông bà chủ” có quá nhiều tham vọng.
Trong “cơn điên tăng trưởng” của thời hiện đại, vì lợi ích của mình, họ không dừng ở việc hưởng lợi từ tự nhiên mà còn khai thác tận diện, bóc lột tự nhiên. Hành động đi ngược lại quy luật tự nhiên đã khiến cho người phải trả giá rất đắt. Trong những nỗi bất an, khủng hoảng của con người thời hiện đại không chỉ có chiến tranh, khủng bố mà còn có thảm họa môi trường - thảm họa mang tính bất ngờ và vượt khỏi tầm kiểm soát của con người. Trước vấn nạn đó, tất cả các ngành khoa học khác nhau đang hướng sự chú ý của mình vào môi trường sinh thái, nhằm thức tỉnh nhân loại và ngăn chặn những nguy cơ đe dọa sinh thái.
Từ nửa sau của thế kỉ XX, nhân loại bắt đầu nhận ra rằng chỉ dựa vào khoa học - kĩ thuật thì không thể giải quyết được mối quan hệ căng thẳng giữa con người và tự nhiên, hoặc thay đổi thái độ sống của con người, mà cần dựa vào khoa học nhân văn. Các nhà sử học kêu gọi: “đừng coi tự nhiên như là sân khấu cho vở diễn của con người, mà là một diễn viên ngang hàng trong tấn kịch ấy. Họ tìm thấy nguồn gốc của các mối quan hệ giữa hoàn cảnh môi trường với các phương thức sản xuất kinh tế và các ý tưởng văn hóa xuyên thời gian” [24, xxi]; các nhà nhân loại học chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và địa lí; các nhà tâm lí học thừa nhận sự bất hòa giữa con người và tự nhiên là nguồn gốc của các căn bệnh xã hội, bệnh tâm lí; các nhà triết học đề xuất các vấn đề về sinh thái học xã hội, sinh thái học luân lí học… Còn văn học thì sao? Văn học từ xưa đến nay ca ngợi bao 10 hành động đều là nhưng người khẳng định vị thế chúa tể muôn loài, khát vọng chinh phục tự nhiên. Nên văn học cũng có lỗi trong việc khiến trái đất ngày càng trở nên kiệt quệ.
Vậy để “chuộc lỗi” văn học và các nhà nghiên cứu văn học họ đã làm gì? Theo học giả Kate Rugby trong tiểu luận Phê bình sinh thái (Ecocricism) ở chương 7 của công trình giới thiệu phê bình đầu thế kỉ XX do Julian Wolfreys chủ biên, các nhà phê bình văn học là những người “phản ứng chậm”. Những nghiên cứu văn học thế kỷ XX vẫn là những mối bận tâm đến con người: phê bình nữ quyền, phê bình phân tâm học,… lí thuyết tiếp nhận, mà bỏ ra ngoài một sự thực: trái đất đang lâm nguy. Dù vậy từ những năm 70 của thế kỉ XX có một số nhà nghiên cứu văn học và văn hóa đã phát triển lí thuyết và phê bình về phương diện sinh thái. Các nghiên cứu của họ được coi là những “nghiên cứu trước tác về tự nhiên” tản mạn dưới những tên gọi khác nhau như: chủ nghĩa đồng quê, sinh thái học con người, chủ nghĩa địa phương, tự nhiên và văn học,… Tuy nhiên những năm này đã xuất hiện một số tác phẩm quan trọng đối với lịch sử của phong trào phê bình sinh thái.
Công trình của Joseph Mecker là Hài kịch của sự sinh tồn (1974), đã đưa ra vẫn đề tranh luận cơ bản: chính văn hóa phương Tây với nền tảng tư tưởng của thuyết con người là trung tâm đã khiến cho môi sinh trở nên khủng hoảng.Waage biên tập cuốn sách mang tên Giảng dạy văn học môi trường: Tài liệu, phương pháp và tiềm năng. Cuốn sách này có ảnh hưởng rất lớn đến văn học trong và ngoài nước, kích thích các giáo sư ở Mĩ biên soạn các môn học liên quan văn học sinh thái và tiến hành nghiên cứu lĩnh vực này. Hay Bản tin văn học Mĩ về đề tài tự nhiên (1989) của Alicia Nitecki, công bố các bài luận vắn tắt, điểm sách và những thông tin liên quan đến nghiên cứu cách viết về tự nhiên và môi trường. Nhưng phải đến mãi những năm 1990, phê bình sinh thái mới thực sự phát triển.
Các hội nghị khoa học về vấn đề môi trường và văn học được tổ chức hằng năm. Phiên họp đặc biệt nổi tiếng của Hội nghiên cứu ngôn ngữ 11 học hiện đại (MLA) vào năm 1991 được thành lập bởi Harold Fromm có chủ đề “Phê bình sinh thái: Xanh hóa nghiên cứu văn học” đã thực sự tạo được tiếng vang và thúc đẩy hướng nghiên cứu này phát triển mạnh mẽ. Năm 1994, Kroeber cho xuất bản chuyên luận Phê bình văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và sinh thái học tinh thần, đề xướng khái niệm “phê bình văn học sinh thái” và “phê bình mang khuynh hướng sinh thái”. Năm 1995, Lawrence Buell khoa Anh văn Đại học Harvard cho xuất bản chuyên luận Tưởng tượng môi trường.
Nghiên cứu của ông là một dấu mốc cho phê bình sinh thái. Một tác phẩm có ý nghĩa quan trọng và có ảnh hưởng trong lĩnh vực này - đây là cuốn sách phổ biến về phê bình sinh thái. Tuy nhiên để nhận thức rõ ràng về phê bình sinh thái phải kể đến Cherry Glotfelty - người có công gây dựng và phát triển phong trào phê bình sinh thái.