Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khủng hoảng môi trường sinh thái toàn cầu bắt nguồn từ sự lạm dụng tự nhiên quá đà của con người trong quá trình công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế. Nhận thức được những nguy cơ như hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường sống và sự suy giảm các loài sinh vật, các ngành khoa học nhân văn, đặc biệt là văn học, đã hình thành khuynh hướng phê bình sinh thái nhằm khôi phục và xây dựng ý thức sinh thái cho con người. Tại Việt Nam – một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường là yêu cầu cấp thiết. Cấp Tiểu học đóng vai trò nền tảng quan trọng; học sinh tiểu học chiếm khoảng 10% dân số, là lực lượng tuyên truyền và định hình lối sống hòa hợp với thiên nhiên cho tương lai.

Chương trình môn Tiếng Việt ở lớp 4 và 5 chứa đựng nhiều ngữ liệu văn học nghệ thuật phản ánh vẻ đẹp thiên nhiên, đời sống muôn loài và quan hệ giữa con người với môi sinh. Dạy học tích hợp theo quan điểm phê bình sinh thái trong môn học này là hướng tiếp cận phù hợp để giáo dục ý thức sinh thái mà không làm mất đi mục tiêu hình thành và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Đề xuất một số biện pháp dạy học tích hợp môn Tiếng Việt ở lớp 4, 5 theo quan điểm phê bình sinh thái.
  • Cung cấp cho giáo viên tiểu học cách tiếp cận mới về giáo dục môi trường qua văn học, từ đó nâng cao nhận thức, tình cảm và đạo đức sinh thái cho học sinh.
  • Khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức sinh thái và bảo vệ môi trường trong trường phổ thông.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm sáng tỏ các khái niệm lý luận liên quan đến phê bình sinh thái.
  2. Làm rõ vị trí, vai trò, mục tiêu và nguyên tắc dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
  3. Tìm hiểu các vấn đề lý luận chung về dạy học tích hợp ở cấp Tiểu học.
  4. Nghiên cứu nội dung, chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5 nhằm xác định các khía cạnh sinh thái và khả năng vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái, từ đó đề xuất các biện pháp tích hợp phù hợp.
  5. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm phê bình sinh thái trong dạy học các nội dung có đề cập tới vấn đề môi trường trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5.
  • Phạm vi nội dung: Khảo sát và vận dụng trong 4 phân môn chủ yếu của môn Tiếng Việt lớp 4, 5 gồm Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn và Kể chuyện.
  • Phạm vi khảo sát: Giáo viên và học sinh tại một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, Trường Tiểu học Gia Cẩm, Trường Tiểu học Tiên Cát).
  • Phạm vi thực nghiệm: Triển khai thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên hai trục chính: lý thuyết phê bình sinh thái và lý luận dạy học tích hợp ở tiểu học.

  • Lý thuyết phê bình sinh thái (Ecocriticism): Thuật ngữ xuất hiện lần đầu năm 1974 trong công trình của William Rueckett. Khóa luận tiếp cận định nghĩa của Cheryll Glotfelty (1996): phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên, lấy mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên và văn hóa làm chủ đề nhằm làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại. Tác giả tổng hợp tiến trình phát triển của trào lưu từ các công trình của Joseph Meeker (1974), Lawrence Buell (1995), Jonathan Bate (1991), Greg Garrard, Peter Barry và Karen Thornber (với khái niệm "mơ hồ sinh thái" - ecoambiguity). Tại Việt Nam, hướng tiếp cận này được kế thừa qua các nghiên cứu của Đỗ Văn Hiểu, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trần Đình Sử, Huỳnh Như Phương, Đặng Lưu, Nguyễn Đăng Điệp.
  • Lý luận về dạy học Tiếng Việt và dạy học tích hợp: Tiếp cận định nghĩa tích hợp theo Từ điển Giáo dục học và các quy định mục tiêu môn Tiếng Việt theo Quyết định ngày 09/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Môn Tiếng Việt giữ vị trí trung tâm trong nhà trường phổ thông (chiếm 35% tổng số tiết học tại Việt Nam, tương đương 49/140 tiết ở cấp tiểu học). Khóa luận hệ thống hóa 4 hình thức dạy học tích hợp: tích hợp trong nội bộ môn học (chiều ngang và chiều dọc), tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn (học theo dự án, thương lượng chương trình).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu khoa học, giáo trình, luận văn, bài báo về phê bình sinh thái và sư phạm tiểu học.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích cấu trúc chương trình và ngữ liệu sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, 5 nhằm phát hiện các yếu tố sinh thái.
  • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn của giảng viên hướng dẫn và các giảng viên bộ môn Văn thuộc Trường Đại học Hùng Vương.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức văn học, sinh thái học, đạo đức học và địa lý học để giải mã ngữ liệu văn bản.
  • Phương pháp điều tra, quan sát: Sử dụng phiếu hỏi đối với 30 giáo viên dạy Tiếng Việt lớp 4, 5 tại 3 trường tiểu học ở TP. Việt Trì; phát phiếu khảo sát học sinh các lớp 5A2 (Tiểu học Đinh Tiên Hoàng), 4G (Tiểu học Gia Cẩm), 5B (Tiểu học Tiên Cát); tiến hành dự giờ 3 tiết dạy (1 tiết Tập đọc, 1 tiết Luyện từ và câu, 1 tiết Tập làm văn).
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm và đối chứng tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 tập trung làm rõ nguồn gốc, khái niệm và lịch sử phát triển của phê bình sinh thái trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời phân tích cơ sở sư phạm của việc dạy học tích hợp môn Tiếng Việt ở tiểu học. Tác giả chứng minh rằng chương trình Tiếng Việt 4 và 5 chứa đựng nhiều văn bản nghệ thuật miêu tả thiên nhiên (văn học sinh thái tiền lý thuyết), tạo tiền đề thuận lợi để giáo viên tích hợp giáo dục ý thức môi trường.

Về mặt thực tiễn, tác giả công bố kết quả điều tra 30 giáo viên tại thành phố Việt Trì, phản ánh bức tranh thực trạng qua các số liệu:

Tiêu chí khảo sát Tỷ lệ (%) Số lượng (n=30)
Hiểu biết về dạy học tích hợp và cơ sở khoa học của tích hợp 86,7% 26/30
Có tiến hành lồng ghép bảo vệ môi trường vào tiết dạy Tiếng Việt 100% 30/30
Biết về lý thuyết phê bình sinh thái trong văn học 43,3% 13/30
Đã từng nghiên cứu, tìm hiểu sâu về phê bình sinh thái 6,7% 2/30
Đang trong quá trình tìm hiểu về phê bình sinh thái 10,0% 3/30
Đã từng dạy tích hợp Tiếng Việt 4, 5 theo phê bình sinh thái 0% 0/30
Hứng thú với biện pháp tích hợp môn Tiếng Việt theo phê bình sinh thái 100% 30/30
Sử dụng hình thức tích hợp đa môn khi dạy bài có nội dung tự nhiên 60,0% 18/30
Chưa từng xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp riêng cho môn Tiếng Việt 62,0% -
Chưa xây dựng kế hoạch bài học theo quan điểm phê bình sinh thái 100% 30/30

Kết quả khảo sát cho thấy, việc lồng ghép giáo dục môi trường hiện nay chủ yếu dừng lại ở mức độ nhắc nhở trực tiếp sau bài học hoặc tích hợp đa môn rời rạc. Giáo viên gặp khó khăn do chưa nắm vững lý thuyết phê bình sinh thái, lo ngại quá tải kiến thức hoặc biến giờ Tiếng Việt thành giờ phân tích văn học nặng tính hàn lâm.

Chương 2: Đề xuất một số biện pháp dạy học tích hợp môn Tiếng Việt ở lớp 4, 5 theo quan điểm phê bình sinh thái

Trên cơ sở lý luận và thực trạng, tác giả xác định 4 nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng biện pháp:

  1. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học: Tinh giản kiến thức hàn lâm, tăng tính trải nghiệm thực tiễn phù hợp tâm lý học sinh.
  2. Nguyên tắc đảm bảo kích thích hứng thú, sự tích cực của học sinh: Sử dụng trò chơi, sắm vai, thảo luận nhóm và học ngoài lớp học.
  3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi: Các biện pháp phải sử dụng được trong điều kiện dạy học thực tế hiện nay.
  4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn: Gắn kết bài học với các vấn đề môi trường cụ thể tại địa phương.

Tác giả đề xuất 3 nhóm biện pháp cụ thể:

Biện pháp 1: Trang bị cho giáo viên kiến thức về phê bình sinh thái Định hướng giáo viên tự học qua các tài liệu chuyên sâu của Karen Thornber, Đỗ Văn Hiểu, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Đặng Lưu; tham gia các hội thảo chuyên đề; tăng cường trải nghiệm thực tế qua tham quan, dã ngoại để bồi đắp cảm quan sinh thái.

Biện pháp 2: Tích hợp phê bình sinh thái trong các tiết dạy trên lớp Tác giả xây dựng ma trận phân loại ngữ liệu và phương thức tích hợp (trực tiếp và gián tiếp) cho các phân môn Tiếng Việt 4 và 5:

Phân môn Bài học (Tuần) Nội dung tích hợp sinh thái Phương thức tích hợp
Tiếng Việt 4
Kể chuyện Sự tích hồ Ba Bể (T1) Giáo dục khắc phục hậu quả thiên tai (lũ lụt); chỉ ra nguyên nhân từ tác động của con người. Khai thác trực tiếp
Tập đọc Thư thăm bạn (T3) Nhận thức thiệt hại của lũ lụt; liên hệ việc trồng cây gây rừng, tránh tàn phá môi trường. Khai thác gián tiếp
Tập đọc Tre Việt Nam (T4) Cảm nhận vẻ đẹp cây tre gắn với phẩm chất con người; bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên. Khai thác gián tiếp
Kể chuyện Lời ước dưới trăng (T7) Khai thác vẻ đẹp ánh trăng và giá trị của tự nhiên trong việc mang lại niềm hy vọng. Khai thác gián tiếp
Tập đọc Bè xuôi sông La (T21) Cảm nhận vẻ đẹp sông nước quê hương đất nước; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Khai thác trực tiếp
Tập làm văn Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối (T21) Khai thác ngữ liệu bài "Cây gạo" để cảm nhận vẻ đẹp cây cối trong môi trường tự nhiên. Khai thác trực tiếp
Kể chuyện Con vịt xấu xí (T22) Giáo dục tình yêu thương loài vật, không đánh giá qua vẻ ngoài. Khai thác gián tiếp
Kể chuyện Kể chuyện được chứng kiến, tham gia (T22) Kể về việc giữ gìn xóm làng, trường học xanh - sạch - đẹp. Khai thác trực tiếp
Tập đọc Đoàn thuyền đánh cá (T24) Vẻ đẹp huy hoàng của biển cả; sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên. Khai thác trực tiếp
Tập làm văn Tóm tắt tin tức (T24) Tóm tắt bản tin Vịnh Hạ Long được tái công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Khai thác gián tiếp
Tập làm văn LT xây dựng mở bài văn tả cây cối (T25) Hướng dẫn quan sát và giới thiệu cây cối, tạo thái độ gần gũi với thiên nhiên. Khai thác gián tiếp
Tập làm văn LT miêu tả cây cối (T26) Thực hiện đề tài tả cây bóng mát, cây ăn quả, cây hoa em yêu thích. Khai thác trực tiếp
Tập đọc Đường đi Sa Pa (T29) Cảm nhận thiên nhiên tráng lệ, hùng vĩ; nâng cao ý thức bảo vệ cảnh quan. Khai thác trực tiếp
LTVC MRVT: Du lịch - Thám hiểm (T29) Giải câu đố về tên các dòng sông qua tranh ảnh; bảo vệ nguồn nước. Khai thác gián tiếp
Kể chuyện Kể chuyện đã nghe, đã đọc (T30) Mở rộng hiểu biết về môi trường sống trên thế giới qua truyện du lịch, thám hiểm. Khai thác trực tiếp
Tập đọc Dòng sông mặc áo (T30) Cảm nhận vẻ đẹp biến đổi kỳ diệu của dòng sông; liên hệ bảo vệ nguồn nước. Khai thác trực tiếp
Tiếng Việt 5
Tập đọc Quang cảnh làng mạc ngày mùa (T1) Khai thác chi tiết thời tiết, cảnh sắc làng quê trù phú để nuôi dưỡng tình yêu quê hương. Khai thác trực tiếp
Tập làm văn Cấu tạo của bài văn tả cảnh (T1) Khai thác ngữ liệu "Hoàng hôn trên sông Hương" và "Nắng trưa" để cảm thụ vẻ đẹp tự nhiên. Khai thác gián tiếp

Biện pháp 3: Tích hợp phê bình sinh thái trong các hoạt động ngoại khóa Tổ chức các hoạt động câu lạc bộ, phong trào bảo vệ môi trường, cuộc thi tìm hiểu tự nhiên nhằm củng cố kiến thức và chuyển hóa nhận thức văn học thành hành vi thực tiễn.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất. Thực nghiệm được thiết kế theo quy trình khoa học:

  • Địa bàn và đối tượng thực nghiệm: Triển khai tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), phân chia thành nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) với trình độ đầu vào tương đương.
  • Quy trình tổ chức: Tiến hành kiểm tra đầu vào để xác lập tính tương đồng giữa hai nhóm (Bảng 3.1 và Biểu đồ 3.1); tổ chức dạy thực nghiệm các bài học có tích hợp quan điểm phê bình sinh thái theo kế hoạch bài dạy đã thiết kế; tổ chức kiểm tra đầu ra (Bảng 3.3 và Biểu đồ 3.2).
  • Đánh giá kết quả: Kết hợp đánh giá định lượng qua điểm số các bài kiểm tra và đánh giá định tính (Bảng 3.2) trên các bình diện: mức độ hứng thú học tập, năng lực cảm thụ văn học sinh thái, mức độ nhận thức về môi trường và khả năng biểu đạt tình cảm, hành vi sinh thái của học sinh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Đánh giá thực trạng: 100% giáo viên được khảo sát có ý thức lồng ghép bảo vệ môi trường nhưng chưa ai áp dụng quan điểm phê bình sinh thái; 86,7% hiểu về dạy học tích hợp nhưng 62% chưa từng lập kế hoạch dạy học tích hợp riêng cho môn Tiếng Việt.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm: Khóa luận ghi nhận sự chuyển biến tích cực ở nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng: học sinh nhóm thực nghiệm thể hiện hứng thú học tập cao hơn, trả lời sâu sắc hơn các câu hỏi liên hệ sinh thái và đạt kết quả kiểm tra đầu ra cao hơn nhóm đối chứng cả về năng lực ngôn ngữ lẫn nhận thức môi trường.

Giải pháp và kiến nghị

  • Giải pháp: Nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên thông qua tài liệu tự học và sinh hoạt chuyên đề; thực hiện tích hợp linh hoạt theo hai phương thức trực tiếp và gián tiếp dựa trên ma trận bài học đã xác lập; phối hợp đồng bộ giữa giờ học chính khóa và hoạt động ngoại khóa.
  • Kiến nghị: Nhà trường và các tổ chuyên môn cần tạo điều kiện tổ chức các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học tích hợp; cung cấp thêm nguồn tư liệu đọc về phê bình sinh thái cho giáo viên tiểu học.

Đóng góp của đề tài

  • Về mặt lý luận: Khóa luận là công trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phê bình sinh thái vào phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học, góp phần kiểm định hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học, sinh thái học và giáo dục học.
  • Về mặt thực tiễn: Đề xuất hệ thống 4 nguyên tắc và 3 nhóm biện pháp cụ thể, lập bảng địa chỉ tích hợp chi tiết cho các phân môn Tiếng Việt 4 và 5; cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cho giáo viên tiểu học và sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực nghiệm và khảo sát thực trạng mới được thực hiện trong phạm vi một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (khảo sát 30 giáo viên; thực nghiệm tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng). Nội dung nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 4 phân môn của chương trình Tiếng Việt lớp 4 và 5.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các lớp 1, 2, 3 ở tiểu học; mở rộng sang các môn học khác có liên quan như Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Đạo đức; triển khai thực nghiệm trên các địa bàn có đặc thù tự nhiên và xã hội đa dạng hơn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với các đối tượng sau:

  • Giáo viên tiểu học: Cung cấp định hướng sư phạm và ma trận bài học cụ thể để thiết kế giáo án tích hợp giáo dục môi trường trong môn Tiếng Việt mà không bị gượng ép hay quá tải.
  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Cung cấp tài liệu học tập, tham khảo về cách thức vận dụng lý thuyết nghiên cứu văn học mới vào phương pháp dạy học chuyên ngành.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn cấp tiểu học: Cung cấp cơ sở khoa học để chỉ đạo các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn về dạy học tích hợp và đổi mới phương pháp dạy học.

Câu hỏi thường gặp

1. Phê bình sinh thái được định nghĩa như thế nào trong khóa luận?
Khóa luận tiếp cận định nghĩa của Giáo sư Cheryll Glotfelty (1996): Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên, lấy mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên và văn hóa làm chủ đề nhằm làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại.

2. Thực trạng nhận thức của giáo viên về phê bình sinh thái tại địa bàn khảo sát ra sao?
Khảo sát 30 giáo viên tại 3 trường tiểu học ở TP. Việt Trì cho thấy: 43,3% giáo viên biết về lý thuyết phê bình sinh thái, 6,7% từng nghiên cứu, 10% đang tìm hiểu, nhưng 0% giáo viên từng tiến hành dạy học tích hợp môn Tiếng Việt lớp 4, 5 theo quan điểm này; 100% giáo viên bày tỏ sự hứng thú với biện pháp được đề xuất.

3. Khóa luận phân loại các phương thức tích hợp trong tiết dạy Tiếng Việt như thế nào?
Khóa luận chia thành 2 phương thức chính:

  • Khai thác trực tiếp nội dung bài: Áp dụng cho các bài học có ngữ liệu trực tiếp phản ánh thiên nhiên, môi trường, loài vật hoặc thiên tai (như Sự tích hồ Ba Bể, Bè xuôi sông La, Đoàn thuyền đánh cá, Đường đi Sa Pa, Dòng sông mặc áo).
  • Khai thác gián tiếp nội dung bài: Áp dụng cho các bài học gợi mở liên hệ, hướng dẫn học sinh nhận thức về vẻ đẹp tự nhiên, hậu quả thiên tai hoặc rèn luyện kỹ năng quan sát cây cối, cảnh vật (như Thư thăm bạn, Tre Việt Nam, Lời ước dưới trăng, Con vịt xấu xí, Tóm tắt tin tức).

4. Bốn nguyên tắc xây dựng biện pháp dạy học tích hợp trong đề tài là gì?
Bốn nguyên tắc gồm: (1) Đảm bảo tính khoa học; (2) Đảm bảo kích thích hứng thú, sự tích cực trong hoạt động học tập của học sinh; (3) Đảm bảo tính khả thi; (4) Đảm bảo tính thực tiễn.

5. Địa bàn và quy trình thực nghiệm sư phạm của đề tài được tổ chức như thế nào?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Tác giả tổ chức phân chia nhóm thực nghiệm và đối chứng, kiểm tra đầu vào, tiến hành dạy học tích hợp theo các kế hoạch bài dạy đã thiết kế và kiểm tra đánh giá đầu ra trên cả bình diện định tính và định lượng.

Kết luận

Khóa luận "Dạy học tích hợp môn Tiếng Việt ở lớp 4, 5 theo quan điểm phê bình sinh thái" của tác giả Nguyễn Thu Hường đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phê bình sinh thái và dạy học tích hợp ở bậc tiểu học. Trên cơ sở khảo sát thực trạng 30 giáo viên tại thành phố Việt Trì, tác giả đã đề xuất hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm gắn liền với ma trận tích hợp chi tiết cho các phân môn Tiếng Việt 4 và 5. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả của hướng tiếp cận này trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ gắn liền với bồi dưỡng ý thức sinh thái cho học sinh tiểu học.