Mở đầu: giới thiệu vấn đề cần phải quyết của luận văn; mục tiêu, phương pháp luận nghiên cứu, giới hạn nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài. • Chương 2 – Tính tương hợp trong triển khai CPĐT. Mục tiêu của Chương 2 là nghiên cứu sơ bộ về CPĐT; các mô hình của CPĐT. 15 Phần quan trọng của chương là nghiên cứu tính tương hợp, liên thông giữa các ứng dụng, hệ thống thông tin trong việc xây dựng CPĐT.
• Chương 3: Nghiên cứu về các nền tảng cho việc xây dựng kiến trúc CPĐT bao gồm: kiến trúc doanh nghiệp (EA), kiến trúc hướng dịch vụ (SOA), mô hình tham chiếu cho việc xử lý phân tán mở (RM- ODP). • Chương 4: Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và triển khai kiến trúc CPĐT và khung tương hợp CPĐT của một số nước trên thế giới như kiến trúc FEA của Mỹ, kiến trúc SAGA của Đức, khung tương hợp CPĐT e-GIF của Anh. • Chương 5: Tiếp cận xây dựng khung kiến trúc CPĐT. Trong chương này, tác giả sẽ phân tích so sánh ưu nhược điểm của từng mô hình kiến trúc CPĐT đã đề cập trong Chương 4.
Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đưa ra khuyến nghị về việc lựa chọn mô hình tham khảo cho việc xây dựng kiến trúc và khung tương hợp CPĐT Việt Nam. tác giả sẽ đề xuất một hướng tiếp cận xây dựng kiến trúc CPĐT Việt Nam: mô hình tổng thể, các giai đoạn (phase) tiến hành, triển khai, các mô hình tham chiếu cho việc triển khai, áp dụng. Kết luận và hướng phát triển tiếp theo. • Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo.
Đối tượng quan tâm của Luận văn Cũng như các luận văn khác, độc giả trước hết của luận văn là thầy giáo hướng dẫn và các thầy/cô giáo phản biện, các thầy/cô giáo tham gia hội đồng bảo vệ Luận văn. Tiếp đến là các đối tượng có quan tâm đến việc nghiên cứu, xây dựng kiến trúc CPĐT, kiến trúc doanh nghiệp và kiến trúc hướng dịch vụ. Các đối tượng giữ vai trò giám đốc CNTT cũng có thể tìm được những thông 16 tin hữu ích liên quan tới công việc trong phạm vi có thể của họ khi đọc bản Luận văn này. Và sau cùng là các bạn đồng môn và các bạn đồng nghiệp của tác giả– những người đã đóng góp và chia sẻ với tác giả nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế quý báu về kiến trúc EA, SOA và kiến trúc CPĐT.
Từ khóa (Keyword): Enterprise Architecture, Service Oriented Architecture, Interoperability, e-Government Architecture. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài Đề tài được chọn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn công việc của tác giả. Việc nghiên cứu kiến trúc doanh nghiệp có thể hiểu như là việc nghiên cứu vấn đề quy hoạch phát triển của một thành phố, quốc gia nhưng việc nghiên cứu đó diễn ra dưới góc độ hỗ trợ chặt chẽ của CNTT-TT. Các khung kiến trúc CPĐT của các nước tiên tiến được đúc rút hy vọng sẽ là nguôn tư liệu tham khảo quý báu cho việc thiết kế và xây dựng khung kiến trúc và khung tương hợp CPĐT Việt Nam và các mô hình tham chiếu chi tiết kèm theo.
Một kết quả nữa của Luận văn là đề xuất khung kiến trúc và khung tương hợp CPĐT trong điều kiện Việt Nam. Do thời gian và trình độ hiểu biết có hạn nên những đề xuất trong Luận văn chưa thật chi tiết, tuy nhiên, những kết quả này có thể xem là nền tảng cơ bản để triển khai trong các giai đoạn tiếp theo. 17 CHƯƠNG 2 TÍNH TƯƠNG HỢP CỦA CÁC HỆ THỐNG CNTT TRONG XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Trong chương này, tác giả sẽ trình bày tổng quan về CPĐT, đặc biệt tác giả sẽ tập trung phân tích khía cạnh tương hợp (hay liên thông) của các hệ thống CNTT trong việc xây dựng CPĐT. Đây là một trong những vấn đề mấu chốt, có vai trò quyết định trong việc triển khai thành công CPĐT tại bất cứ quốc gia nào.
Chính phủ điện tử là gì? Chính phủ điện tử (CPĐT) là một thuật ngữ đã trở nên khá quen thuộc đối với giới CNTT-TT Việt Nam trong vài năm gần đây. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về cách hiểu bản chất của thuật ngữ này thậm chí cả về cách dịch sang tiếng Việt nhưng hầu hết mọi người đều thống nhất rằng triển khai Chính phủ điện tử là nhằm mục đích cung cấp tốt hơn các dịch công tới người dân (G2C), doanh nghiệp (G2B) bằng các phương tiện CNTT-TT. Để thực hiện thành công mục tiêu đó thì bản thân các công việc, quy trình làm việc của các cơ quan Nhà nước cũng phải được hiện đại hóa bằng các phương tiện CNTT- TT mà chúng ta thường gọi là tin học hóa quản lý hành chính nhà nước (G2G). Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới [20], “CPĐT là việc áp dụng các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ việc trao đổi thông tin - nghiệp vụ - quy trình - thủ tục hành chính giữa chính phủ và công dân, chính phủ và doanh nghiệp, giữa chính phủ và chính phủ hay giữa các Bộ, Ban, Ngành.
thuộc chính phủ với nhau, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ trong việc điều hành công việc và cung cấp các dịch vụ công tốt hơn, thuận tiện hơn cho người dân”. 18 Theo Sally Katzen, phó giám đốc điều hành cơ quan quản lý ngân sách thời tổng thống B.Clinton [10] thì "Chính phủ điện tử là việc mọi công dân và doanh nghiệp có thể truy cập thông tin và sử dụng dịch vụ Chính phủ 24/24 giờ, 7 ngày mỗi tuần. Chính phủ điện tử chủ yếu dựa vào các cơ quan Chính phủ sử dụng Internet và các công nghệ tiên tiến khác để nhận và cung cấp thông tin, dịch vụ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và rẻ hơn". Cách hiểu này đã được nêu trong nhiều chiến lược về Chính phủ điện tử của các quốc gia, có thể coi đây là khái niệm đúng nhất về Chính phủ điện tử.
CPĐT theo định nghĩa của Gartner Group là "sự tối ưu hoá liên tục việc chuyển giao các dịch vụ, sự tham gia của các thành phần và sự cai quản nhà nước bởi việc chuyển đổi các quan hệ bên trong và bên ngoài thông qua công nghệ, Internet và các phương tiện mới". Các thành phần bên ngoài ở đây chỉ các dịch vụ trực tuyến đối với công dân hay doanh nghiệp; còn quan hệ bên trong để chỉ các hoạt động của chính phủ từ các công chức của bộ máy nhà nước. Còn nói theo nghĩa đen của Fisher Folta Inc thì CPĐT là một "chính phủ vận hành trực tuyến" hay "chính phủ" 24x7, thậm chí 365x24x7. Một điểm cơ bản của CPĐT là khả năng sử dụng các công nghệ mới như hạ tầng cơ sở CNTT, mạng máy tính và cao nhất là Internet làm nền tảng cho việc quản lý và vận hành của bộ máy nhà nước nhằm cung cấp các "dịch vụ" cho toàn xã hội một cách tốt nhất.
Trong xã hội thông tin hiện nay, quá trình hoạt động và quản lý từ cấp cao nhất đến cơ sở cần phải được dựa trên các hệ thống tập hợp, lưu trữ, xử lý, sử dụng và khai thác thông tin có hiệu quả để cai quản và điều hành vĩ mô mọi hoạt động của nền kinh tế toàn xã hội. Tốc độ phát triển mạnh mẽ như vũ bão của Internet hiện nay đã và đang là động lực làm thay đổi cách thức kinh doanh và vận hành doanh nghiệp và cũng là nhân tố tích cực cho việc hình thành và phát triển khái niệm CPĐT, để trở thành một hệ thống "hiệu quả 19 hơn" và "phục vụ tốt hơn". Dưới thời tổng thống G.Bush hiện nay còn xuất hiện một khái niệm rộng hơn về CPĐT [10] như sau: "Bằng việc cung cấp cho các cá nhân khả năng tham gia vào bộ máy hành chính liên bang để truy cập thông tin và giao dịch kinh doanh, Internet hứa hẹn trao bớt quyền lực từ tay các nhà lãnh đạo trong chính quyền Washington vào tay các công dân Mỹ.Bush tin tưởng rằng việc người dân có thể truy cập thông tin và dịch vụ Chính phủ dễ dàng hơn chính là bước đầu tiên của Chính phủ điện tử. Nói tóm lại, mục tiêu chung nhất của CPĐT là góp phần cải thiện mối tương tác giữa ba chủ thể: Chính phủ, Doanh nghiệp và Người dân nhằm thúc đẩy tiến trình chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước.
Nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển đã có lộ trình xây dựng CPĐT với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ công, cung cấp thông tin trực tuyến đến mọi người dân và doanh nghiệp một cách nhanh chóng, thuận lợi và tiết kiệm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Các mô hình Chính phủ điện tử Các mô hình của Chính phủ [20] điện tử bao gồm 4 dạng: G2C (Government To Citizen), G2E (Government To Employee), G2B (Government To Business) và G2G (Government To Government).1 Mô hình G2C Được hiểu như khả năng giao dịch và cung cấp các dịch vụ của chính phủ trực tiếp cho cộng đồng, thí dụ tổ chức bầu cử của công dân, thăm dò dư luận, quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, tư vấn, khiếu nại, giám sát và thanh toán thuế, hoá đơn của các ngành với người thuê bao, dịch vụ thông tin trực tiếp 24x7, phục vụ công cộng, môi truờng, giáo dục.2 Mô hình G2E Chỉ các dịch vụ, giao dịch trong mối quan hệ giữa chính phủ đối với người làm công lao động như bảo hiểm, dịch vụ việc làm, trợ cấp thất ngiệp, y tế, nhà ở,.3 Mô hình G2B Dịch vụ và quan hệ của chính phủ đối với các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, nhà sản xuất như dịch vụ mua sắm, thanh tra, giám sát doanh nghiệp (về đóng thuế, tuân thủ luật pháp,.); thông tin về phát triển đất đai, đấu thầu, xây dựng; cung cấp thông tin dạng văn bản, hướng dẫn sử dụng, quy định, thi hành chính sách. cho các doanh nghiệp. Đây là thành phần quan hệ cơ bản trong mô hình nhà nước là chủ thể quản lý vĩ mô nền kinh tế, xã hội thông qua chính sách, cơ chế và luật pháp và doanh nghiệp như là khách thể đại diện cho lực lượng sản xuất trực tiếp ra của cải vật chất của nền kinh tế 2.4 Mô hình G2G Được hiểu như khả năng phối hợp, chuyển giao và cung cấp các dịch vụ một cách có hiệu quả giữa các cấp, ngành, tổ chức, bộ máy của nhà nước trong việc điều hành và quản lý nhà nước, trong đó chính bản thân bộ máy của chính phủ vừa đóng vai trò là chủ thể và khách thể trong mối quan hệ này.