phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lãnh đạo công tác xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 2006 – 2010. Chƣơng 2: Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lãnh đạo đẩy mạnh công tác xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 2010 -2015. Chƣơng 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ LỘC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội và thực trạng đời sống văn hóa ở nông thôn của huyện Mỹ Lộc trƣớc năm 2006.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Mỹ Lộc.
Điều kiện tự nhiên Mỹ Lộc xƣa là một trong các huyện thuộc phủ Thiên Trƣờng. Thời thuộc Pháp, vùng đất của huyện Mỹ Lộc rất rộng lớn, bao gồm cả phần đất của thành phố Nam Định ngày nay. Từ sau Cách mạng Tháng Tám, huyện Mỹ Lộc đã qua nhiều lần điều chỉnh địa giới. Ngày 01/9/1950 cắt 4 xã Lộc An, Mỹ Xá, Lộc Hạ, Lộc Hoà vào thành phố Nam Định.
Năm 1953, cắt các xã Mỹ Toàn, Mỹ An, Mỹ Đồng, Mỹ Phong, Mỹ Điền sang huyện Nam Trực. Đến ngày 25/9/1954, cắt các xã Lộc An, Mỹ Xá, Lộc Hạ, Lộc Hoà trả về huyện Mỹ Lộc. Thời kỳ 1965-1975, huyện thuộc tỉnh Nam Hà. Ngày 13/6/1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 76-CP sát nhập toàn bộ huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định.
Từ 1975-1981, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Sau năm 1981, trở về thuộc tỉnh Nam Định. Ngày 16/2/1997, Chính phủ ra Nghị định số 19/CP tái lập huyện Mỹ Lộc trên cơ sở tách ra từ thành phố Nam Định. Mỹ Lộc là huyện ven thành phố, diện tích tự nhiên 7.407 ha; dân số 69.671 ngƣời Thực hiện nghị định 19/CP và nghị định 95/CP của Chính phủ, huyện Mỹ Lộc đƣợc tái lập gồm có 1 thị trấn Mỹ Lộc và 10 xã là xã Mỹ Tân, Mỹ Trung, Mỹ Phúc, Mỹ Thắng, Mỹ Hà, Mỹ Hƣng, Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành.
Lãnh thổ Mỹ Lộc nằm ở phía Bắc và phía Tây của thành phố Nam Định, đƣợc bao bọc bởi sông Hồng ở phía Đông và sông Châu Giang ở phía Bắc. Trung tâm huyện lỵ nằm trên quốc lộ 21A (trục đƣờng Nam Định – Phủ Lý) cách thành phố Nam Định 8 km và Phủ Lý 23 km. - Phía Bắc giáp huyện Bình Lục và Lý Nhân của tỉnh Hà Nam. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phía Đông giáp sông Hồng và tiếp giáp huyện Vũ Thƣ, tỉnh Thái Bình.
- Phía Nam giáp thành phố Nam Định và huyện Vụ Bản. - Phía Tây giáp huyện Vụ Bản và tỉnh Hà Nam. Nhƣ vậy, về mặt điều kiện tự nhiên nhƣ trên huyện Mỹ Lộc có vị thế rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Địa hình Huyện Mỹ Lộc đƣợc bao bọc bởi tuyến đê sông Hồng (dài 7.1 km) và đê Ất Hợi (dài khoảng 16.5km) của sông Châu Giang, các đê này phân chia lãnh thổ huyện thành hai dạng địa hình chính: - Khu vực ngoài đê có địa hình cao hơn, đất đai màu mỡ do đƣợc phù sa sông Hồng bồi đắp hàng năm, thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt cây công nghiệp (dâu, đay), màu, rau và hoa.
- Khu vực trong đê có địa hình phần lớn thấp, trũng, thƣờng bị úng ngập nên đất bị glay hóa mạnh với độ sâu trên 0,5m, phù hợp cho trồng lúa và nuôi trồng thủy sản. Khí hậu, thủy văn Cũng nhƣ các khu vực ở đồng bằng sông Hồng, khí hậu ở Mỹ Lộc cũng mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. - Nhiệt độ trung bình năm là 23,7 độ C, tổng lƣợng mƣa trung bình năm 1750mm, tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1670 giờ. - Độ ẩm không khí trung bình năm khá cao (trên 80%), chênh lệch giữa các tháng không nhiều (3-8%).
- Có 2 sông chính chảy bao quanh lãnh thổ Mỹ Lộc là sông Hồng và sông Châu Giang. Sông Hồng đoạn chảy dọc ranh giới phía Đông huyện dài 7,1km. Điều kiện kinh tế - xã hội Tình hình kinh tế - xã hội trong những năm gần đây, huyện Mỹ Lộc đã đạt đƣợc nhiều thành tựu nổi bật về kinh tế - xã hội, nền kinh tế có tốc độ tăng trƣởng khá và dần ổn định. Tổng giá trị sản xuất của huyện năm 2015 đạt 2.
Nhịp độ tăng trƣởng bình quân giai đoạn 2010 – 2015 đạt 14,46%/năm. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giá trị sản xuất bình quân đầu ngƣời tăng qua các năm, năm 2010 đạt 24 triệu đồng/ngƣời, năm 2015 đạt 47 triệu đồng/ngƣời (theo giá hiện hành). Cơ cấu kinh tế đã có bƣớc chuyển dịch tích cực theo hƣớng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Các lĩnh vực văn hóa – xã hội có nhiều bƣớc tiến bộ, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, Mỹ Lộc sớm đạt đƣợc các chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Chất lƣợng giáo dục trên cả hai mặt đạo đức và học lực đều có tiến bộ. Tỷ lệ thi tốt nghiệp ở bậc Tiểu học hàng năm đạt 100%, Trung học cơ sở đạt 99%, Trung học phổ thông đạt 98% trở lên. Công tác khuyến học đƣợc quan tâm, phong trào xã hội hóa giáo dục phát triển. Công tác khám, chữa bệnh hàng năm hoàn thành và vƣợt kế hoạch, thực hiện tốt các công tác phòng chống dịch, không có dịch bệnh lớn xảy ra.
Các chƣơng trình y tế quốc gia, phòng chống lao, phòng chống bƣớu cổ đã đƣợc thực hiện nghiêm túc. Công tác quản lý y tế cơ sở đƣợc tăng cƣờng, đến nay có 8/11 trạm xá xã, thị trấn có bác sỹ (đạt 72,7%), bƣớc đầu quan tâm y tế thôn, xóm có 115/137 thôn xóm có cán bộ y tế hoạt động, chiếm 83,9%. Phong trào thể dục, thể thao phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo nhân dân tham gia phong trào “Rèn luyện thể dục, thể thao theo gƣơng Bác Hồ vĩ đại”. Đời sống văn hóa nhân dân đƣợc cải thiện rõ rệt.
Nhân dân đƣợc tiếp cận với các hoạt động văn hóa phong phú và đa dạng. Phong trào xây dựng Làng văn hóa, GĐVH đƣợc sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, các cấp. Hoạt động tuyên truyền, vận động, phổ biến xây dựng Làng văn hóa, GĐVH đƣợc chú trọng. Nhân dân tích cực tham gia xây dựng Làng văn hóa, GĐVH, xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn, góp phần tích cực vào phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và tạo nền tảng, tiền đề để thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ về xây dựng “nông thôn mới”.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thực trạng đời sống văn hóa ở nông thôn của huyện Mỹ Lộc trước năm 2006. Chủ trương Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là cuộc vận động lớn của Đảng đƣợc xác định là một trong 4 giải pháp thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc nhằm thu hút mọi nguồn lực xã hội, các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động sáng tạo cung cấp phổ biến nâng cao mức hƣởng thụ văn hoá của nhân dân. Những quan điểm về văn hóa nói chung, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nói riêng của Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 5 (khóa VIII) tiếp tục đƣợc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001) bổ sung, phát triển.
Đại hội đã xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa , “Xây dựng nếp sống văn minh và GĐVH”, “Phong trào ngƣời tốt việc tốt”, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cƣ, từng gia đình, từng ngƣời, hoàn thiện hệ giá trị mới của con ngƣời Việt Nam, kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài ngƣời, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại. Nâng cao tinh thần văn hóa trong hoạt động kinh tế, chính trị xã hội và sinh hoạt của nhân dân. Tháng 7/2004, Hội nghị BCH Trung ƣơng Đảng lần thứ 10 (khóa IX) họp đã tổng kết, đánh giá 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 5 khóa VIII. Trên cơ sở đó, Hội nghị cũng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa VIII), nâng cao chất lƣợng công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa” [18, tr.
Với sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, ngày 16/7/2000 BCĐ phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của tỉnh Nam Định đƣợc thành lập theo tinh thần Nghị quyết TW5 (khóa VIII). Ngày 19/9/2000 Lễ phát động và kế hoạch triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã đƣợc ban hành tới các cơ sở, ngành, đoàn thể và các huyện, thị trên địa bàn Tỉnh. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XVI (2001) đã đƣợc tổ chức trong đó quan điểm về văn hóa đƣợc xác định: Đẩy mạnh phong trào “.” Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phong trào thi đua yêu nước, động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc. Tiếp tục đưa các hoạt động văn hóa, thông tin về cơ sở.
Đẩy mạnh phong trào thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng Làng văn hóa, GĐVH”. Đại hội cũng đƣa ra một số mục tiêu cụ thể xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nhiệm kỳ 2001-2005 của tỉnh: “.70% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn GĐVH, 50% số làng xã đạt tiêu chuẩn làng xã văn hóa” [28, tr.42] Quán triệt đƣờng lối đổi mới về văn hóa của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa VIII) và Hội nghị Trung ƣơng 10 (khóa IX), Đảng bộ tỉnh Nam Định đã đề ra các chủ trƣơng, biện pháp kịp thời lãnh đạo chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.