Luận văn: Xây dựng đời sống văn hóa dân tộc Lô Lô ở Cao Bằng - Lê Thị Thư

Tìm hiểu thực trạng và giải pháp xây dựng đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Lô Lô ở tỉnh Cao Bằng hiện nay nhằm bảo tồn và phát triển giá trị truyền thống.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

115
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về xây dựng đời sống văn hóa dân tộc Lô Lô ở Cao Bằng

Dân tộc Lô Lô tại tỉnh Cao Bằng cư trú tập trung chủ yếu tại huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm. Đây là cộng đồng thiểu số có bề dày lịch sử và kho tàng văn hóa đặc sắc. Đời sống văn hóa của người Lô Lô bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Các yếu tố vật chất thể hiện qua kiến trúc nhà sàn, trang phục thêu tay cầu kỳ và công cụ lao động truyền thống. Đời sống tinh thần thể hiện qua hệ thống lễ hội, tín ngưỡng dân gian, dân ca và phong tục tập quán lâu đời. Việc xây dựng đời sống văn hóa tại đây mang tính cấp thiết chiến lược. Mục tiêu chính là củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc. Đồng thời, công tác này nâng cao trình độ dân trí và cải thiện đời sống người dân. Các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo động lực chuyển biến tích cực. Nhiều thiết chế văn hóa cơ sở từng bước hoàn thiện. Hoạt động bảo tồn di sản luôn gắn liền với phát triển kinh tế nông thôn mới. Việc gìn giữ bản sắc Lô Lô góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam thống nhất.

1.1. Đặc trưng văn hóa truyền thống của người Lô Lô

Văn hóa người Lô Lô ở Cao Bằng mang dấu ấn vùng cao đậm nét. Trang phục phụ nữ Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa có hoa văn ghép vải tinh xảo. Đây là tác phẩm nghệ thuật dân gian độc đáo. Về tín ngưỡng, người Lô Lô duy trì tục thờ cúng tổ tiên và thần linh bảo hộ bản làng. Lễ cầu mưa và lễ hội nhảy cây là những nghi lễ thiêng liêng tiêu biểu. Âm nhạc dân gian phong phú với tiếng trống đồng và các điệu múa cổ truyền. Ngôn ngữ tộc người thuộc ngữ chi Tạng - Miến, lưu giữ nhiều tri thức bản địa quý báu. Những giá trị này tạo nên bản sắc độc nhất của cộng đồng.

1.2. Khái niệm và mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là sự nghiệp của toàn dân. Nội dung trọng tâm bao gồm xây dựng con người mới và môi trường văn hóa lành mạnh. Hoạt động này củng cố gia đình văn hóa, thôn bản văn hóa tại địa phương. Mục tiêu cơ bản là phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp. Đồng thời, công tác này từng bước loại bỏ tập tục lạc hậu và tư tưởng lạc hậu. Đời sống vật chất ấm no là nền tảng cho văn hóa tinh thần phát triển. Quá trình triển khai giúp đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao nhận thức chính trị, gắn kết cộng đồng và chung tay giữ gìn an ninh biên giới.

II. Thực trạng đời sống văn hóa của dân tộc Lô Lô ở tỉnh Cao Bằng

Thực tế triển khai tại Cao Bằng ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống đồng bào. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã lan tỏa sâu rộng. Tỷ lệ gia đình văn hóa và xóm bản văn hóa của người Lô Lô ngày càng tăng. Cơ sở hạ tầng nông thôn được nhà nước đầu tư đồng bộ qua các chương trình mục tiêu quốc gia. Đường giao thông, trạm y tế và trường học kiên cố dần thay thế sự thiếu thốn trước kia. Đời sống vật chất khởi sắc rõ rệt nhờ mở rộng sản xuất lúa nước và chăn nuôi. Tuy nhiên, công tác văn hóa vẫn đối mặt nhiều thách thức nghiêm trọng. Địa bàn sinh sống chia cắt gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động văn hóa tập trung. Nguy cơ mai một tiếng nói và chữ viết truyền thống ở giới trẻ đang hiện hữu. Một số tập tục cưới hỏi, tang ma rườm rà vẫn chưa được xóa bỏ hoàn toàn. Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở còn thiếu và yếu về kỹ năng chuyên môn.

2.1. Những kết quả tích cực trong bảo tồn văn hóa

Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được tăng cường đầu tư xây dựng. Nhiều nhà văn hóa xóm được trang bị thiết bị âm thanh và dụng cụ sinh hoạt cộng đồng. Các lễ hội truyền thống như lễ hội cầu mưa được phục dựng bài bản theo chuẩn mực văn hóa. Đời sống tín ngưỡng lành mạnh được tôn trọng và duy trì trật tự. Tinh thần tương thân tương ái trong xóm bản phát huy mạnh mẽ. Nhiều hộ gia đình đồng bào Lô Lô chủ động ứng dụng kỹ thuật mới vào canh tác, nâng cao thu nhập. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt mức cao. Ý thức bảo vệ di sản văn hóa dân tộc trong nhân dân ngày càng nâng cao rõ rệt.

2.2. Những hạn chế và thách thức đang tồn tại

Sự xâm nhập của lối sống hiện đại tác động mạnh đến nhận thức giới trẻ. Một bộ phận thanh niên Lô Lô ít quan tâm đến việc học tiếng mẹ đẻ và trang phục cổ truyền. Nguy cơ đồng hóa ngôn ngữ và phai nhạt bản sắc truyền thống gia tăng. Mức hưởng thụ văn hóa tinh thần ở vùng sâu, vùng xa còn chênh lệch lớn so với vùng thấp. Cơ sở vật chất tại một số nhà sinh hoạt cộng đồng còn đơn sơ và xuống cấp. Kinh phí dành cho công tác bảo tồn di sản phi vật thể còn hạn hẹp. Hoạt động du lịch cộng đồng chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng bản địa.

III. Giải pháp xây dựng đời sống văn hóa dân tộc Lô Lô tại Cao Bằng

Nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và khoa học. Trước hết, cấp ủy và chính quyền địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương của Đảng. Việc giáo dục ý thức tự hào dân tộc phải được thực hiện thường xuyên trong trường học và cộng đồng. Cần gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế với bảo tồn di sản văn hóa. Các mô hình làng du lịch văn hóa cộng đồng cần được hỗ trợ nguồn vốn và kỹ năng tiếp thị. Nguồn lực đầu tư công phải ưu tiên hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở. Cán bộ văn hóa người địa phương cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng quản lý. Cần phát huy vai trò của các nghệ nhân dân gian và già làng, trưởng bản uy tín. Những người có uy tín là hạt nhân nòng cốt truyền dạy phong tục và hòa giải cơ sở. Bên cạnh đó, việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang cần được đưa vào quy ước thôn bản.

3.1. Phát triển kinh tế gắn với du lịch văn hóa

Phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết củng cố đời sống văn hóa. Các cơ quan chức năng cần định hướng đồng bào khai thác tiềm năng văn hóa để làm du lịch. Các sản phẩm thủ công truyền thống như vải thêu tay dệt hoa văn Lô Lô có thể trở thành sản phẩm OCOP đặc trưng. Mô hình lưu trú homestay mang lại thu nhập trực tiếp cho người dân bản địa. Khách du lịch trong và ngoài nước có cơ hội trải nghiệm nghi lễ truyền thống và ẩm thực độc đáo. Thu nhập từ du lịch sẽ tái đầu tư vào việc bảo tồn lễ hội và kiến trúc nhà sàn. Cách làm này tạo ra sinh kế bền vững và kích thích niềm tự hào dân tộc.

3.2. Nâng cao chất lượng thiết chế văn hóa cơ sở

Chính quyền địa phương cần bố trí quỹ đất và kinh phí nâng cấp nhà sinh hoạt cộng đồng. Mỗi nhà văn hóa cần có tủ sách pháp luật và trang thiết bị phục vụ sinh hoạt văn nghệ thể thao. Cần tổ chức các lớp truyền dạy ngôn ngữ, dân ca và kỹ thuật thêu hoa văn Lô Lô do chính các nghệ nhân cao tuổi đứng lớp. Xây dựng hương ước, quy ước xóm bản phù hợp với nếp sống mới và phong tục tiến bộ. Phát huy tinh thần tự quản của người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường nông thôn. Đẩy mạnh phong trào văn nghệ quần chúng nhằm tạo sân chơi lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội.

IV. Đánh giá và định hướng đời sống văn hóa dân tộc Lô Lô Cao Bằng

Xây dựng đời sống văn hóa cho người Lô Lô tại tỉnh Cao Bằng là nhiệm vụ chiến lược dài hạn. Nhiệm vụ này vừa bảo vệ bản sắc truyền thống vừa thúc đẩy tiến bộ xã hội. Kết quả thực tiễn khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự đồng thuận của nhân dân. Văn hóa chính là nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh quan trọng thúc đẩy kinh tế biên giới phát triển. Trong giai đoạn hội nhập, các cấp chính quyền cần tiếp tục kiên trì thực hiện các mục tiêu bảo tồn có chọn lọc. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại sẽ tạo nên sức sống mới cho văn hóa Lô Lô. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lưu trữ và quảng bá di sản cần được mở rộng. Các chính sách dân tộc cần được thực thi linh hoạt, sát với thực tế địa bàn huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm. Đây là con đường đúng đắn để nâng cao đời sống toàn diện cho đồng bào.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cơ sở

Thực tiễn chứng minh công tác văn hóa chỉ thành công khi xuất phát từ lợi ích của nhân dân. Mọi chính sách cần tôn trọng nguyện vọng chính đáng và phong tục lành mạnh của người Lô Lô. Phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng phải được quán triệt sâu sắc. Cán bộ văn hóa phải am hiểu ngôn ngữ và tập quán địa phương để tạo niềm tin trong nhân dân. Việc bài trừ hủ tục đòi hỏi sự kiên trì thuyết phục, tránh áp đặt khiên cưỡng. Xây dựng văn hóa phải tiến hành song song với các biện pháp giảm nghèo bền vững.

4.2. Khả năng nhân rộng và ứng dụng chính sách

Mô hình xây dựng đời sống văn hóa của người Lô Lô ở Cao Bằng mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu. Mô hình này có thể áp dụng cho các cộng đồng dân tộc thiểu số rất ít người khác trên vùng núi phía Bắc. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, doanh nghiệp du lịch và cộng đồng bản địa là chìa khóa thành công. Việc số hóa kho tàng văn hóa phi vật thể giúp bảo lưu dữ liệu phục vụ nghiên cứu và giáo dục truyền thống lâu dài. Đây là cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách dân tộc và văn hóa hiệu quả hơn trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Xây dựng đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc lô lô ở tỉnh cao bằng hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. - Một số vấn đề lý luận về xây dựng đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Lô Lô ở tỉnh Cao Bằng hiện nay. 10 - Thực trạng xây dựng đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Lô Lô ở tỉnh Cao Bằng hiện nay. - Phương hướng và giải pháp xây dựng đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Lô Lô ở tỉnh Cao Bằng hiện nay.

11 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC LÔ LÔ Ở TỈNH CAO BẰNG HIỆN NAY 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về văn hóa Văn hóa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội. Hiện nay, trên thế giới đã có tới hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa.

Theo UNESCO đã định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [40, tr. Thông qua định nghĩa này, UNESCO đã nhấn mạnh văn hóa tồn tại, hiện hữu, phát triển gắn liền với tiến trình phát triển của lịch sử mỗi cộng đồng dân tộc. Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, tạo nên những giá trị truyền thống riêng biệt của từng dân tộc, làm cho văn hóa của dân tộc này có nét khác biệt với văn hóa dân tộc khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [19, tr. Với định nghĩa văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ và cụ thể hơn về văn hóa.

Theo đó, mọi hoạt động sống của con người đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống” trải qua hoạt động thực tiễn và được lặp đi, lặp lại tạo thành những thói 12 quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực được tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên bản sắc riêng, độc đáo của mỗi cộng đồng trở thành di sản văn hóa trong kho tàng văn hóa của nhân loại. Với góc độ khác: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [5, tr. Ở đây, văn hóa được xem như là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do chính hoạt động của con người đã sáng tạo, tích lũy trong thực tiễn. Văn hóa là do con người sáng tạo ra và được chính con người giữ gìn, sử dụng nhằm phục vụ đời sống của mình.

Tất cả đều được thừa nhận và được truyền lại từ đời này sang đời sau. “Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và lịch sử xã hội của mình” [13, tr. Mỗi dân tộc, quốc gia đều có những giá trị văn hóa riêng. Chính giá trị văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, so sánh nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái xác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống; phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân, thiện, mỹ” [48, tr.

Yếu tố dân tộc quyết định nền văn hóa mỗi dân tộc vì “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [24, tr. Do vậy, vấn đề kế thừa và giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sẽ tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc. Nhận thức và giải quyết tốt vấn đề này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc. Tóm lại, với các quan niệm trên về văn hóa cho ta thấy: Con người và văn hóa có mối quan hệ gắn kết hữu cơ với nhau.

Nói đến con người là nói 13 đến văn hóa, sự tồn tại, phát triển của con người đều tạo ra văn hóa. Mặt khác, thông qua văn hóa mới làm cho con người trở thành Người với đúng nghĩa của nó. Hay nói cách khác: Văn hóa là tổng thể các giá trị bao gồm cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần, được sáng tạo, được tích lũy gắn liền với sự vận động và phát triển của lịch sử, thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Văn hóa chính là phương thức sống, hoạt động của mỗi dân tộc, tạo nên đặc tính riêng, độc đáo của mỗi dân tộc.

Khái niệm và cấu trúc của đời sống văn hóa Đời sống văn hóa Trong quyển sách "Đời sống mới", Bác Hồ đã chỉ ra mục đích của việc xây dựng đời sống mới: “Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn” [20, tr. Đời sống văn hóa bao gồm tất cả các hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần, thông qua sự tác động vào quá trình sinh hoạt hàng ngày tạo nên các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, làm chất lượng sống của con người được nâng lên. Đời sống văn hóa tác động vào đời sống vật chất, tinh thần, vào chính đời sống của mỗi cá nhân con người. Trước hết, tác động vào đời sống vật chất, đảm bảo yếu tố cho con người tồn tại và sinh sống, phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm vật chất cho xã hội.

Tác động vào đời sống tinh thần, hướng con người có ý thức trong tình cảm, lối sống, tâm tư, nguyện vọng, tư tưởng, đạo đức giúp thỏa mãn các nhu cầu chủ quan của con người. Tác động vào bản thân mỗi cá nhân con người, điều chỉnh và lựa chọn các phương thức ứng xử phù hợp nhất với phong tục, tập quán, lối sống, đặc điểm, điều kiện của con người trong cộng đồng dân tộc. Đời sống văn hóa là nội dung, ý nghĩa của đời sống thường nhật hướng con người vươn lên theo cái đúng, cái đẹp, cái tốt của những chuẩn mực Chân - Thiện - Mỹ của cuộc sống. Đời sống văn hóa vừa có tính kế thừa, vừa có tính đổi mới.

Kế thừa 14 truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài, tiếp thu tinh hoa nhân loại là một trong những vấn đề có tính quy luật của quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kế thừa là một trong những quy luật phủ định của phủ định biểu hiện qua tự nhiên, xã hội như là mối liên hệ tất yếu giữa cái cũ và cái mới trong quá trình phát triển. Đổi mới, phản ánh khát vọng vươn lên của con người, mong đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần theo hướng tốt hơn. Với những phân tích nêu trên, có thể hiểu: Đời sống văn hóa chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hóa, tác động vào đời sống văn hóa vật chất, tinh thần, cá nhân con người theo chiều hướng tốt hơn.

Là hiện thực phản ánh sống động nhất các hoạt động của con người, duy trì, tái tạo, không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội theo những giá trị văn hóa, hướng con người đến những chuẩn mực xã hội phù hợp đáp ứng nhu cầu quá trình đổi mới. Cấu trúc của đời sống văn hóa Cấu trúc của đời sống văn hóa được xác định có: con người văn hóa, hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa [8, tr. Cấu trúc của đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố, bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể, nhân cách văn hóa bao quanh con người. Gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình thành lối sống và nếp sống con người ở đó [31, tr.

Xét từ góc độ khác, cấu trúc của đời sống văn hóa bao gồm: con người văn hóa, hệ thống các giá trị văn hóa, các hoạt động văn hóa, hệ thống các quan hệ văn hóa, hệ thống các thiết chế và cảnh quan văn hóa. Trong đó: Con người văn hóa là nhân tố sáng tạo, hình thành, xác lập ra các giá trị văn hóa. Thông qua đó, con người tái tạo và sử dụng chúng như công cụ và phương tiện nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của chính bản thân mình. Hoạt động của con người gắn liền hoạt động của đời sống văn hóa, kiến 15 tạo nên đời sống văn hóa.

Chính con người trở thành sản phẩm của đời sống văn hóa. Ngược lại, thông qua con người những năng lực của văn hóa được nuôi dưỡng và từng ngày được phát triển. Hệ thống các giá trị văn hóa là sản phẩm của con người, của sự phát triển xã hội và văn hóa mỗi thời đại. Là một hệ thống có quan hệ biện chứng giữa các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người tạo ra thông qua quá trình hoạt động của thực tiễn bản thân.

Hạt nhân của văn hóa và đời sống văn hóa chính là giá trị. Hoạt động văn hóa là hoạt động tinh thần, sử dụng các hệ thống ký hiệu và biểu tượng để sáng tạo và hưởng thụ các sản phẩm của văn hóa. Thỏa mãn trực tiếp nhu cầu văn hóa của con người, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ