phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng, 8 tiết. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện ở thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định hiện nay. Chƣơng 3: Mục tiêu, phƣơng hƣớng, giải pháp tăng cƣờng xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới ở thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc.
Do tính chất đặc thù của từng quốc gia, khái niệm công chức của các nƣớc cũng không hoàn toàn thống nhất. Có nƣớc chỉ giới hạn CC trong phạm vi những ngƣời tham gia các hoạt động QLNN một số nƣớc khác có quan niệm rộng hơn, CC không chỉ bao gồm những ngƣời thực hiện trực tiếp các hoạt động QLNN mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng…. Ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của CC ở một nƣớc nào đó thƣờng là: - Là công dân của nƣớc đó; - Đƣợc tuyển dụng qua thi tuyển; - Đƣợc bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; - Đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc [19]. Ở nƣớc ta, khái niệm công chức cũng đã đƣợc quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện.
Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/SL về "Quy chế công chức", đây đƣợc xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm công chức. Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của CC, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch CC trong toàn quốc, theo đó "những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là CC" [13]. Thời gian sau đó, chúng ta cũng có nhiều văn bản đề cập đến CC, công 11 vụ và gần đây nhất, trƣớc đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII thông qua Luật cán bộ, công chức. Theo khoản 2, Điều 4 của Luật này: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [17].
Đến ngày 25/11/2019 Quốc hội khoá XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức; trong đó, khái niệm CC có sự thay đổi, đó là: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [18]. Khái niệm công chức cấp huyện Theo mô hình QLNN, nƣớc ta hiện nay có 4 cấp quản lý hành chính: trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Trong đó, cấp huyện có vai trò 12 quan trọng đối với việc chỉ đạo, hƣớng dẫn trực tiếp cho cấp xã thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc; chỉ đạo phát triển KT - XH ở địa phƣơng. Ở cấp huyện, CC thực thi công vụ nhà nƣớc đƣợc gọi là CC cấp huyện.
Hiện nay, chƣa có khái niệm cụ thể về CC cấp huyện. Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những ngƣời là CC cấp huyện gồm những đối tƣợng sau đây [5]: Thứ nhất, CC trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam ở quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) là ngƣời giữ chức vụ, chức danh ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu và ngƣời làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh (khoản 3, Điều 3). Thứ hai, CC trong các cơ quan hành chính ở cấp huyện: Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và ngƣời làm việc trong Văn phòng HĐND và UBND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và ngƣời làm việc trong văn phòng UBND quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức HĐND; Ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và ngƣời làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND (khoản 2, Điều 6). Thứ ba, CC trong hệ thống Tòa án nhân dân: Chánh án, Phó Chánh án tòa án nhân dân cấp huyện; Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện; thƣ ký tòa án; ngƣời làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện (khoản 3, Điều 7).
Thứ tư, CC trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân: Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và ngƣời làm việc trong Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (khoản 3, Điều 8). Thứ năm, CC trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội ở cấp huyện: Ngƣời làm việc trong cơ quan của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức 13 tƣơng đƣơng (khoản 3, Điều 9). Từ những quy định trên, có thể hiểu CC cấp huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, làm việc trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, chính quyền, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân cấp huyện theo luật định, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KT - XH ở địa phương. Khái niệm ĐNCC cấp huyện Theo Từ điển Tiếng Việt “Đội ngũ”: 1.
Tổ chức gồm nhiều ngƣời tập hợp lại thành một lực lƣợng; 2. Tập hợp một số đông ngƣời có cùng chức năng nghề nghiệp” [30, tr. Đội ngũ có thể hiểu là tập hợp của số đông ngƣời, có tổ chức, có kỷ luật, trong đó những thành viên có mối liên hệ hợp tác, có cùng mục đích, cùng thực hiện nhiệm vụ nào đó. ĐNCC là tập hợp nhiều ngƣời đƣợc xác định là công chức, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật, tạo thành một khối thống nhất và hoạt động theo sự phân công, phối hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất, trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc. Từ những quan niệm trên, có thể hiểu ĐNCC cấp huyện là tập hợp những CC cấp huyện được hình thành, tổ chức theo một yêu cầu, chuẩn mực và tiêu chí nhất định, có số lượng, thành phần và cơ cấu phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ chính trị của cấp huyện. Khái niệm xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện 14 Theo Đại Từ điển tiếng Việt, cụm từ “xây dựng”: 1. có nghĩa là làm nên, gây dựng nên; 2.
tạo ra cái có giá trị tinh thần, có nội dung nào đó; 3. (thái độ, ý kiến) có tinh thần đóng góp, làm cho tốt hơn [30, tr. - Xây dựng đội ngũ công chức: Việc xây dựng ĐNCC của một ngành, một lĩnh vực hay một cơ quan đơn vị giống nhƣ xây dựng một công trình. Muốn cho chất lƣợng công trình tốt, bền đòi hỏi phải có vật liệu tốt, ngƣời thợ xây phải có kỹ thuật, có đạo đức, có tinh thần trách nhiệm.
Tổ chức của một ngành, một đơn vị cũng vậy, muốn vững mạnh thì nền tảng của nó phải là đội ngũ nhân sự là những CC có năng lực và phẩm chất. Mặt khác, trong quá trình xây dựng đội ngũ còn đòi hỏi những ngƣời “thợ xây”, những ngƣời làm công tác tổ chức phải có tâm, có tầm. Hay nói cách khác, công tác tổ chức cán bộ cũng là một trong những yếu tố quyết định xây dựng đội ngũ nhân lực, quyết định sự thành công hay thất bại của một đơn vị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, CC nói chung là tổng thể các biện pháp của các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc, đoàn thể trong xây dựng tiêu chuẩn; đánh giá; quy hoạch; đào tạo, bồi dƣỡng; luân chuyển, điều động; bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, khen thƣởng, kỷ luật cán bộ, CC.
nhằm phát huy năng lực đội ngũ cán bộ, CC theo hƣớng bố trí đủ số lƣợng, cơ cấu hợp lý, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu hoạt động của hệ thống chính trị trong tình hình mới. Nhƣ vậy, xây dựng ĐNCC là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền nhằm hình thành ĐNCC đảm bảo các yêu cầu, đòi hỏi của hoạt động QLNN trong hiện tại và tƣơng lai. Xây dựng ĐNCC là quá trình tuyển dụng, đào tạo và quá trình xây dựng tổ chức bộ máy. Bao gồm việc xác định chủ trƣơng, mục tiêu, đến việc xây dựng tiêu chuẩn, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dƣỡng CC.