Chương 1.Cơ sở lý luận chung 1. Cơ sở lý luận về du lịch 1. Những vấn đề về cơ bản về cơ sở dữ liệu trong GIS 1.Quy trình xây dựng CSDL trong GIS Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội tỉnh Savannakhet 2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 2.
Đặc điểm kinh tế xã hội 2. Đánh giá các nguồn lực và thực trạng du lịch tỉnh Savannakhet.4 Định hƣớng và phát triển du lịch tỉnh Savannakhet Chương 3: Xây dựng cơ sở dữ liệu trong GIS phục vụ định hướng phát triển du lịch tỉnh Savannakhet 3. Thiết kế cơ sở dữ liệu 3. Giao diện, các chức năng của hệ thống cơ sở dữ liệu GIS Savannakhet 3.Chức năng hỏi đáp, tìm kiếm thông tin phục vụ định hƣớng, phát triển du lịch.
Kết luận và kiến nghị Phụ lục 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Cơ sở lý luận về du lịch Ngày nay, du lịch là một hoạt động không thể thiếu đƣợc trong hoạt động kinh tế xã hội của mỗi ngƣời. Du lịch đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một ngành kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên do sự khác nhau về hoàn cảnh và góc độ nghiên cứu nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch. Định nghĩa về du lịch Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc tế các Tổ chức Lữ hành chính thức: “Du lịch đƣợc hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…” Theo I.Pirogonic (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cƣ trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lƣu lại tạm thời bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá”. Theo Luật Du lịch Việt Nam (44/2005/QH11): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một thời gian nhất định”. Tài nguyên du lịch Theo Khoản 4 (Điều 4 - Chƣơng I - Luật Du lịch Việt Nam): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhân văn khác có thể đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.” Nhƣ vậy, tài nguyên du lịch là tiền đề phát triển các hoạt động du lịch.
Tài nguyên du lịch càng phong phú đa dạng thì các hoạt động du lịch càng phát triển. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang đƣợc khai thác và chƣa đƣợc khai thác. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tài nguyên du lịch tự nhiên Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể đƣợc sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
*Các thành phần tự nhiên - Địa hình: Các vùng núi có phong cảnh đẹp; các hang động, các bãi biển, các di tích tự nhiên - Khí hậu: Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khỏe của con ngƣời, tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc an dƣỡng, chữa bệnh; tài nguyên khí hậu phục vụcho việc triển khai các hoạt động du lịch - Thủy văn: nƣớc mặt: sông, hồ, suối, thác nƣ ớc, các vùng ngập nƣớc ngọt, các vùng nƣớc ven biển; các vùng nƣớc ven biển có bãi cát đẹp hoặc ven các hồ, sông có môi trƣờng trong sạch thƣờng đƣợc khai thác để phát triển các loại hình thể thao, bơi lội, lặn biển, tắm biển, đua thuyền, lƣớt ván, .các thác nƣớc cũng tạo nơi có phong cảnh đẹp và hấp dẫn du khách; các điểm nƣớc khoáng, suối nƣớc nóng - Sinh vật: + Bao gồm toàn bộ các loài thực vật, động vật sống trên lục địa và dƣới nƣớc vốn có sẵn trong tự nhiên và do con ngƣời thuần dƣỡng, chăm sóc, lai tạo. + Tài nguyên sinh vật thƣờng đƣợc khai thác thích hợp tập trung ở các vƣờn quốc gia, các khu rừng, di tích lịch sử văn hóa, các khu bảo tồn (khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài và nơi cƣ trú, khu bảo tồn cảnh quan), một số hệ sinh thái đặc biệt và các điểm tham quan sinh vật. *Các cảnh quan du lịch tự nhiên Chỉ có một số cảnh quan có sự đa dạng, đặc sắc về các dạng tài nguyên có cảnh quan đẹp, có sức hấp dẫn du khách mới tạo nên cảnh quan du lịch tự nhiên, và tùy theo đặc điểm, quy mô mà có thể chia chúng thành các điểm du lịch tự nhiên hoặc các khu du lịch tự nhiên. *Tuyến du lịch, điểm du lịch 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tuyến du lịch: Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thuỷ, đƣờng hàng không.
- Điểm du lịch: Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Các khu, tuyến, điểm du lịch có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển du lịch. Chúng tạo nên sức thu hút về du lịch, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, tạo ra giá trị mới về kinh tế và góp phần vào sự tăng trƣởng kinh tế của địa phƣơng và ngành du lịch, đóng góp vào ngân sách và ngày một tăng, tạo thêm nhiều công ăn việc làm và giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thông qua việc tổ chức du lịch với các dịch vụ khác nhau, nâng cao thể trí cho khách du lịch góp phần tái tạo lại sức lao động xã hội và nâng cao dân trí cho khách du lịch.
Củng cố và phát triển tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trong cộng đồng và giữa nhân dân bản với khách du lịch nƣớc ngoài. Giáo dục lòng yêu thiên nhiên, môi trƣờng, yêu đất nƣớc, tôn trọng những giá trị về văn hóa lịch sử, kiến trúc, thờ tín. Khu, tuyến, điểm du lịch có những mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc vào nhau hết sức khách quan. Sự tác động của con ngƣời vào mối quan hệ phụ thuộc vào nhau của khu, tuyến, điểm du lịch nếu theo phƣơng pháp tiếp cận khoa học dựa trên quy hoạch chiến lƣợc phát triển dựa trên cân đối cung cầu du lịch, đầu tƣ hợp lý, cân bằng sẽ tất yếu cho một kết quả khả quan, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và mức sinh lợi cao.4 Tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể đƣợc sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
- Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể thực chất là những di sản văn hóa, hấp dẫn du khách có thể bảo tồn, khai thác vào mục đích phát triển du lịch, mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trƣờng. + Di sản văn hóa thế giới vật thể + Các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng cấp quốc gia và địa phƣơng + Các cổ vật và bảo vật quốc gia + Các công trình đƣơng đại. - Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể là di sản văn hóa phi vật thể có giá trị hấp dẫn du khách có thể bảo tồn, khai thác vào mục đích phát triển du lịch, mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trƣờng. Tài nguyên du lịch bao gồm: Di sản văn hóa thế giới truyền miệng và phi vật thể, các lễ hội truyền thống, nghềvà làng nghề thủ công cổ truyền, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, văn hóa ứng xử, phong tục, tập quán, thơ ca và văn học, văn hóa các tộc ngƣời, các phát minh sáng kiến khoa học, các hoạt động văn hóa, thể thao, kinh tế - xã hội có tính sự kiện.
Những vấn đề cơ bản về cơ sở dữ liệu 1. Tổng quan về GIS *Định nghĩa về GIS Hệ Thông tin địa lý (GIS) là một công cụ máy tính để lập bản đồ và phân tích các sự vật, hiện tƣợng thực trên trái đất. Công nghệ GIS kết hợp các thao tác cơ sở dữ liệu thông thƣờng (nhƣ cấu trúc hỏi đáp) và các phép phân tích thống kê, phân tích địa lý, trong đó phép phân tích địa lý và hình ảnh đƣợc cung cấp duy nhất từ các bản đồ. Những khả năng này phân biệt GIS với các hệ thống thông tin khác và khiến cho GIS có phạm vi ứng dụng rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (phân tích các sự kiện, dự đoán tác động và hoạch định chiến lƣợc).
Hiện nay, những thách thức chính mà chúng ta phải đối mặt - bùng nổ dân số, ô nhiễm, phá rừng, thiên tai - chiếm một không gian địa lý quan trọng. Hiện nay, GIS là một công cụ đƣợc các cá nhân, tổ chức, trƣờng học, chính phủ và các doanh nghiệp sử dụng nhằm hƣớng tới các phƣơng thức mới giải quyết vấn đề. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lập bản đồ và phân tích địa lý không phải là kỹ thuật mới, nhƣng GIS thực thi các công việc này tốt hơn và nhanh hơn các phƣơng pháp thủ công cũ. Trƣớc khi có công nghệ GIS, chỉ có một số ít ngƣời có những kỹ năng cần thiết để sử dụng thông tin địa lý giúp ích cho việc giải quyết vấn đề và đƣa ra các quyết định.
Ngày nay, GIS là một ngành công nghiệp hàng tỷ đô la với sự tham gia của hàng trăm nghìn ngƣời trên toàn thế giới. GIS đƣợc dạy trong các trƣờng phổ thông, trƣờng đại học trên toàn thế giới. Các chuyên gia của mọi lĩnh vực đều nhận thức đƣợc những ƣu điểm của sự kết hợp công việc của họ và GIS.