Tổng quan luận án
Công tác giáo dục thể chất trong hệ thống giáo dục đại học giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện thể chất, nâng cao sức khỏe và hình thành nhân cách của người học nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, theo đánh giá của tác giả trong văn bản, công tác giáo dục thể chất tại các trường đại học khối kỹ thuật trên địa bàn Thành phố Hà Nội còn tồn tại nhiều bất cập: một số trường chưa thực hiện đồng bộ chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sinh viên còn xem môn học như một rào cản, và đặc biệt mảng hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa gần như bị bỏ ngỏ. Trong khi nhu cầu vận động và rèn luyện của sinh viên rất lớn, nội dung và hình thức hoạt động ngoại khóa chưa được thiết kế khoa học, chưa đáp ứng được sở thích và đặc thù tâm, sinh lý của sinh viên khối kỹ thuật. Các công trình nghiên cứu về môn Bóng chuyền trong nước thời gian qua hầu hết chỉ tập trung vào vận động viên thành tích cao, thiếu vắng các nghiên cứu về chương trình tập luyện ngoại khóa cho sinh viên đại học, đặc biệt tại khối trường kỹ thuật tại Hà Nội.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể thao ngoại khóa môn Bóng chuyền của sinh viên Đại học khối các trường kỹ thuật Thành phố Hà Nội; trên cơ sở đó, xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền cho đối tượng này, bước đầu ứng dụng trong thực tế và đánh giá hiệu quả chương trình nhằm phát triển thể lực, nâng cao kết quả học tập môn Giáo dục thể chất và phát triển phong trào tập luyện ngoại khóa.
Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng công tác Giáo dục thể chất và thể thao ngoại khóa của sinh viên Đại học khối các trường kỹ thuật Thành phố Hà Nội.
- Nhiệm vụ 2: Xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền cho sinh viên Đại học khối các trường kỹ thuật Thành phố Hà Nội.
- Nhiệm vụ 3: Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả chương trình Bóng chuyền đã xây dựng trên sinh viên Đại học khối các trường kỹ thuật Thành phố Hà Nội.
Giả thuyết khoa học của luận án nêu rõ: Thông qua quan sát thực tế công tác giáo dục thể chất ngoại khóa của sinh viên Đại học khối các trường kỹ thuật Thành phố Hà Nội, nếu xây dựng được chương trình tập luyện ngoại khóa môn bóng chuyền phù hợp với sinh viên Đại học khối kỹ thuật trên địa bàn Thành phố Hà Nội, đáp ứng mục tiêu thể dục thể thao trường học thì sẽ thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền; đồng thời đóng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, đáp ứng mục tiêu của thể dục thể thao trường học.
Đối tượng nghiên cứu là chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền cho sinh viên đại học khối các trường kỹ thuật Thành phố Hà Nội. Luận án tiến hành khảo sát và thực nghiệm trên các nhóm khách thể cụ thể:
| Nhóm khách thể |
Số lượng và cơ cấu mẫu |
Mục đích khảo sát / can thiệp |
| Sinh viên khảo sát thực trạng và nhu cầu |
1635 sinh viên (1168 nam, 467 nữ) |
Khảo sát nhu cầu, động cơ, mức độ và hình thức tập luyện ngoại khóa |
| Chuyên gia, giảng viên GDTC phỏng vấn nguyên tắc |
32 chuyên gia, giảng viên |
Xác định hệ thống nguyên tắc xây dựng chương trình |
| Chuyên gia kiểm định độ phù hợp chương trình |
35 chuyên gia, giảng viên, huấn luyện viên |
Đánh giá mức độ phù hợp của khung chương trình đã thiết kế |
| Chuyên gia hội thảo khoa học |
15 chuyên gia (6 GS/PGS, 7 TS, 2 ThS có 15–20 năm thâm niên) |
Góp ý, hoàn thiện chi tiết nội dung chương trình |
| Sinh viên kiểm tra thể lực thực trạng |
2700 sinh viên (mỗi năm 900 SV: 500 nam, 400 nữ; 100 nam/100 nữ mỗi trường) |
Đánh giá thực trạng trình độ thể lực theo quy định Bộ GD&ĐT |
| Sinh viên tham gia thực nghiệm sư phạm |
Ban đầu: 794 SV năm thứ nhất (453 nam, 341 nữ); Cỡ mẫu hoàn thành đối chứng - thực nghiệm: 496 SV |
Kiểm nghiệm hiệu quả can thiệp của chương trình trong 1 năm học |
Phạm vi nghiên cứu về không gian được giới hạn tại 5 trường đại học khối kỹ thuật trên địa bàn Thành phố Hà Nội, bao gồm: Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội và Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Về mặt nội dung, luận án tập trung khảo sát phong trào thể dục thể thao ngoại khóa, chương trình ngoại khóa môn Bóng chuyền và tổ chức thực nghiệm sư phạm đánh giá sự phát triển thể lực và kỹ thuật của sinh viên năm thứ nhất.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hoạt động thể chất trường học, việc phát triển các môn thể thao ngoại khóa và môn Bóng chuyền:
Về các nghiên cứu quốc tế:
- Kimiko Fujita (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động ngoại khóa đối với thành tích học tập của học sinh trung học tại Walnut Creek Christian Academy, chỉ ra rằng việc tham gia hoạt động thể thao tác động tích cực đến kết quả học tập.
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2007, 2008) thông qua loạt thông tin về sức khỏe học đường và chuyên mục phát triển thể chất thông qua thể dục thể thao đã khẳng định hoạt động thể chất là nền tảng cho sức khỏe học đường, khuyến nghị các cơ sở giáo dục tạo môi trường duy trì lối sống năng động cho giới trẻ.
- Tenhouse phân tích các loại hình hoạt động ngoại khóa trong trường đại học tại Mỹ, xác định các tổ chức thể dục thể thao giúp sinh viên tăng cường tương tác xã hội và gắn bó với môi trường đào tạo.
- Don J. Webber và Andrew Mearman (2009) tại Đại học West of England kết luận các trường đại học cần thúc đẩy chính sách khuyến khích sinh viên tham gia thể thao có tổ chức chặt chẽ và mang tính thi đấu xã hội.
Về các nghiên cứu trong nước:
- Lĩnh vực giáo dục thể chất và thể thao trường học: Nguyễn Kỳ Anh và Vũ Đức Thu (1993) đề xuất mục tiêu cải tiến công tác giáo dục thể chất đến năm 2000; Lê Văn Lẫm và các cộng sự (1993) khảo sát nhu cầu tập luyện ngoại khóa của thanh thiếu niên học sinh tại trường 10-10; Huỳnh Trọng Khải (2001) bảo vệ luận án tiến sĩ về sự phát triển thể chất của học sinh nữ tiểu học tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động của ngoại khóa thể dục thể thao; Nguyễn Đức Thành (2012) nghiên cứu xây dựng nội dung, hình thức tổ chức thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thực nghiệm lựa chọn 5 môn (bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, cầu lông, võ thuật) trên 185 sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng; Đỗ Đình Quang nghiên cứu động cơ, ý thức học tập của 94 sinh viên khoa Thể dục thể thao Trường Đại học Hải Phòng; Lê Thanh Hà (2019) nghiên cứu nhu cầu và động cơ tập luyện ngoại khóa của sinh viên các trường đại học tại Hà Nội.
- Lĩnh vực xây dựng chương trình môn học: Hồ Đắc Sơn (2004) nghiên cứu chương trình giáo dục thể chất theo định hướng nghề cho sinh viên tiểu học; Nguyễn Cẩm Ninh (2011) xây dựng nội dung giảng dạy cử nhân ngành Quản lý Thể dục thể thao; Lê Trường Sơn Chấn Hải (2012) đổi mới chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên đại học sư phạm vùng Trung Bắc theo hướng bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động thể thao trường học.
- Lĩnh vực môn Bóng chuyền: Hàng loạt luận án và đề tài như Nguyễn Thành Lâm (1998), Trần Đức Phấn (2001), Bùi Trọng Toại (2006), Trần Hùng (2008), Lương Cao Đại (2011), Lê Trí Trường (2012), Tô Xuân Thục (2014); cùng các luận văn của Lê Anh Duy (2014), Trần Hoàng Kim (2015), Nguyễn Đức Thọ (2015), Hồ Ngọc Cường (2016), Trương Thị Yến (2017), Lê Đình Thạo (2017), Vũ Văn Duân (2018).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các đề tài nghiên cứu về môn Bóng chuyền tại Việt Nam chỉ tập trung vào nhóm đối tượng vận động viên thể thao thành tích cao nhằm hoàn thiện kỹ thuật hoặc phát triển thể lực chuyên môn. Chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu việc xây dựng một chương trình tập luyện ngoại khóa bài bản môn Bóng chuyền dành riêng cho đối tượng sinh viên các trường đại học kỹ thuật trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết sư phạm thể dục thể thao và các văn bản quy phạm pháp luật:
- Khái niệm Giáo dục thể chất và Giáo dưỡng thể chất: Luận án vận dụng quan điểm của A. P. Nôvicôp về bản chất quá trình sư phạm giáo dục thể chất kết hợp chặt chẽ giữa việc giảng dạy động tác và giáo dục các tố chất thể lực; quan điểm của Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Vũ Đức Thu; học thuyết giáo dưỡng thể chất của P. F. Lexgaphơtơ (1837–1909) về việc trang bị kỹ năng vận động có ý thức, tốn ít năng lượng; các định nghĩa theo Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (Điều 20) và Nghị định số 11/2015/NĐ-CP.
- Lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thể thao ngoại khóa: Luận án phân tích tính tích cực học tập theo quan điểm tâm lý học của Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem, Mai Văn Muôn (đánh giá qua tình cảm, ý chí, độ tập trung và mức độ tham gia); lý thuyết động cơ học tập của A. Ghebơxơ; hệ thống cơ chế quản lý và tổ chức xã hội về thể dục thể thao trường đại học của Vũ Đức Thu.
- Hệ thống văn bản pháp lý chỉ đạo: Chỉ thị 36/CT-TW (1994) của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Luật Giáo dục 2005 và sửa đổi 2009; Luật Giáo dục đại học 2012; Quyết định số 72/2008/QĐ-BGDĐT về quy định tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa; Thông tư số 25/2015/TT-BGDĐT quy định chuẩn 3 tín chỉ môn học Giáo dục thể chất trình độ đại học.
- Đặc điểm nhân trắc và tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên (18–22 tuổi): Hệ thần kinh đã hoàn thiện với trọng lượng não trung bình 1400g, 14–16 tỷ tế bào thần kinh, hưng phấn chiếm ưu thế; hệ vận động có xương khớp bắt đầu ổn định, quá trình cốt hóa hoàn toàn diễn ra từ 20–25 tuổi; hệ hô hấp với 350–700 triệu phế nang, lưu thông khoảng 10.000 lít không khí/ngày đêm; trao đổi chất với chỉ số hấp thụ oxy tối đa (VO2 max) đạt cực đại ở nam giới vào tuổi 25; nồng độ acid lactic máu tối đa đạt ở tuổi 22. Đặc thù sinh viên khối kỹ thuật có tỷ lệ nam chiếm đa số, tư duy thực tế, ham thích hoạt động kỹ thuật thao tác, đòi hỏi thể lực bền bỉ và khả năng làm việc ngoài trời.
- 5 nguyên tắc sư phạm thiết kế chương trình: Luận án xác lập 5 nguyên tắc gồm: (1) Nguyên tắc quán triệt mục tiêu; (2) Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học; (3) Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất; (4) Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn; (5) Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp đồng bộ 6 phương pháp:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa các chỉ thị, nghị quyết, công trình nghiên cứu và tài liệu lý luận liên quan.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Theo dõi, ghi nhận thực trạng tổ chức các giờ học giáo dục thể chất, hoạt động tập luyện và thi đấu bóng chuyền ngoại khóa tại 5 trường đại học.
- Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu hỏi và tọa đàm trực tiếp trên 1635 sinh viên (nhu cầu, mức độ tập luyện), 32 chuyên gia (xác định nguyên tắc), 35 chuyên gia (đánh giá tính phù hợp) và hội thảo khoa học với 15 chuyên gia đầu ngành.
- Phương pháp kiểm tra sư phạm: Đo lường các chỉ số thể lực chung của sinh viên theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bài kiểm tra kỹ thuật chuyên môn bóng chuyền (chuyền bóng cao tay, phát bóng, đập bóng).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Bố trí nhóm thực nghiệm (tập theo chương trình mới xây dựng) và nhóm đối chứng (tập theo hình thức cũ) trong thời gian 1 năm học tại 5 trường đại học thành viên, tiến hành kiểm tra trước và sau thực nghiệm.
- Phương pháp toán học thống kê: Sử dụng các công thức thống kê tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, sai số, kiểm định tham số so sánh sự khác biệt và nhịp tăng trưởng thể lực qua các giai đoạn.
Nguồn dữ liệu thực chứng được thu thập tại 5 trường: Đại học Mỏ - Địa chất, Đại học Xây dựng, Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp, Đại học Công nghiệp Hà Nội và Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục thể chất, thể thao ngoại khóa và môn Bóng chuyền. Tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm: giáo dục thể chất nội khóa, thể thao ngoại khóa, giáo dưỡng thể chất và chương trình môn học. Nội dung phân tích khẳng định tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền có ý nghĩa to lớn đối với sinh viên kỹ thuật: phát triển toàn diện các tố chất thể lực, nâng cao phản xạ vận động, hỗ trợ xương khớp dẻo dai, củng cố tính kỷ luật, tinh thần đồng đội và giải tỏa căng thẳng học tập.
Về mặt chuyên môn, chương trình ngoại khóa môn Bóng chuyền bao hàm các kỹ thuật vận động nền tảng:
- Tư thế đứng và kỹ thuật di chuyển.
- Kỹ thuật chuyền bóng: chuyền bóng cao tay và chuyền bóng thấp tay.
- Kỹ thuật phát bóng: phát bóng thấp tay, phát bóng cao tay, nhảy phát bóng.
- Kỹ thuật đập bóng: đập bóng trước mặt, đập bóng nghiêng mình, đập bóng quay người.
- Kỹ thuật chắn bóng và sơ đồ tổ chức chiến thuật thi đấu (Sơ đồ 1.1).
Chương 1 phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thể thao ngoại khóa, chia thành hai nhóm:
- Yếu tố chủ quan: Tính tích cực học tập môn Giáo dục thể chất; nhu cầu tập luyện thể thao (với xu hướng sinh viên thích tập luyện tại câu lạc bộ và có người hướng dẫn); động cơ tham gia rèn luyện của người học.
- Yếu tố khách quan: Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường; mô hình tổ chức xã hội thể dục thể thao trường đại học (Sơ đồ 1.2 mô tả cấu trúc phối hợp giữa Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Bộ môn Giáo dục thể chất, Hội đồng Thể dục thể thao khoa và các câu lạc bộ); hệ thống cơ sở vật chất, sân bãi, kinh phí; năng lực chuyên môn và phương pháp của đội ngũ giảng viên, huấn luyện viên.
Chương này cũng xác định cơ sở tâm, sinh lý lứa tuổi 18–22 và 5 nguyên tắc sư phạm bắt buộc khi thiết kế chương trình ngoại khóa, đồng thời điểm luận chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế để làm nổi bật khoảng trống nghiên cứu của đề tài.
Chương 2. Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình, công cụ và tiến trình tổ chức nghiên cứu. Tác giả trình bày cụ thể nội dung thực hiện 6 phương pháp nghiên cứu (phân tích tổng hợp tài liệu, quan sát sư phạm, phỏng vấn, kiểm tra sư phạm, thực nghiệm sư phạm, toán học thống kê).
Chương này xác định rõ các mốc tổ chức khảo sát và can thiệp thực nghiệm:
- Khảo sát thực trạng quy mô 1635 sinh viên tại 5 trường kỹ thuật về nhận thức, nhu cầu, thời lượng và môn thể thao ngoại khóa yêu thích.
- Tổ chức phỏng vấn chuyên gia qua 3 giai đoạn: xác định nguyên tắc (n=32), thẩm định tính phù hợp của khung chương trình (n=35) và hội thảo chuyên đề hoàn thiện (n=15).
- Kiểm tra thể lực thực trạng trên 2700 sinh viên (chia đều cho 3 khối năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba, mỗi khối 900 sinh viên gồm 500 nam và 400 nữ) theo danh mục test tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm trong thời gian 1 năm học trên đối tượng sinh viên năm thứ nhất tại 5 trường đại học thuộc phạm vi nghiên cứu, chia thành nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng nhằm kiểm định giả thuyết khoa học.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm tương ứng với 3 nhiệm vụ nghiên cứu thông qua hệ thống 34 bảng thống kê, 2 sơ đồ và 4 biểu đồ:
Thực trạng công tác Giáo dục thể chất và thể thao ngoại khóa (Nhiệm vụ 1)
Kết quả khảo sát thực trạng tại 5 trường đại học khối kỹ thuật (Bảng 3.1 đến Bảng 3.18) chỉ ra:
- Khung chương trình giáo dục thể chất nội khóa còn nặng tính hình thức, số tín chỉ bắt buộc chỉ dừng ở mức tối thiểu (3 tín chỉ). Đội ngũ giảng viên giáo dục thể chất tại 5 trường (Bảng 3.2) còn mỏng, tỷ lệ sinh viên/giảng viên cao.
- Nhu cầu tập luyện thể thao ngoại khóa của sinh viên rất lớn (Bảng 3.3). Khảo sát 1635 sinh viên (Bảng 3.5, Bảng 3.6, Biểu đồ 3.1) cho thấy bóng chuyền là một trong những môn có số lượng sinh viên đăng ký tập luyện cao, nhưng đa số tự tập tự phát, thiếu hướng dẫn bài bản.
- Cơ sở vật chất sân bãi dành cho môn Bóng chuyền còn thiếu thốn, xuống cấp (Bảng 3.4), số lượng câu lạc bộ thể thao còn ít và hoạt động chưa đều (Bảng 3.8), phong trào tổ chức thi đấu còn thưa thớt (Bảng 3.7).
- Đánh giá thực trạng thể lực trên 2700 sinh viên (Bảng 3.9, 3.10, 3.11): Tỷ lệ sinh viên không đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn ở mức cao.
- So sánh thể lực theo mức độ tập luyện ngoại khóa (Bảng 3.12 đến 3.17): Sinh viên các năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba có tham gia tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa thường xuyên đều có các chỉ số thể lực và tỷ lệ đạt chuẩn phân loại thể lực cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sinh viên không tập luyện hoặc tập luyện không thường xuyên.
- Thực trạng chương trình ngoại khóa môn Bóng chuyền hiện hành (Bảng 3.18): Hầu hết các trường chưa có phân phối chương trình chính thức, chủ yếu là sinh viên tự chơi hoặc tập các kỹ thuật rời rạc không theo tiến trình sư phạm.
Xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền (Nhiệm vụ 2)
Dựa trên cơ sở khoa học và kết quả khảo sát thực trạng, tác giả tiến hành thiết kế chương trình:
- Kết quả phỏng vấn 32 chuyên gia (Bảng 3.19, Bảng 3.20) đã thống nhất cao về hệ thống nguyên tắc và nội dung nguyên tắc khi xây dựng chương trình ngoại khóa môn Bóng chuyền.
- Luận án xây dựng bảng phân bổ chi tiết chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền (Bảng 3.21) với cấu trúc logic từ kỹ thuật cơ bản, phối hợp kỹ thuật, chiến thuật thi đấu đến phát triển thể lực và luật thi đấu.
- Kiểm định mức độ phù hợp qua phỏng vấn 35 chuyên gia (Bảng 3.22) và tổng hợp ý kiến đóng góp của 15 chuyên gia tại hội thảo khoa học (Bảng 3.23) cho thấy chương trình đạt sự đồng thuận cao về tính khoa học, tính sư phạm và tính khả thi.
- So sánh chương trình mới xây dựng với chương trình cũ (Bảng 3.24) làm rõ sự vượt trội về cấu trúc phân bổ thời lượng, phương pháp huấn luyện và tiêu chí đánh giá năng lực vận động.
Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả chương trình qua thực nghiệm sư phạm (Nhiệm vụ 3)
Chương trình được đưa vào thực nghiệm trong 1 năm học trên sinh viên năm thứ nhất tại 5 trường kỹ thuật:
- Phân bổ mẫu thực nghiệm và đối chứng được kiểm soát chặt chẽ ở thời điểm bắt đầu (Bảng 3.25) và thời điểm kết thúc (Bảng 3.26).
- Trước thực nghiệm: So sánh sự khác biệt về trình độ thể lực (Bảng 3.27) và phân loại thể lực theo quy định Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bảng 3.28, n=496) giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p > 0.05), đảm bảo tính đồng đều trước can thiệp.
- Sau 1 năm thực nghiệm:
- Sự khác biệt về trình độ thể lực giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng (Bảng 3.29) thể hiện rõ rệt (p < 0.05).
- Nhịp tăng trưởng thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm vượt trội hơn hẳn nhóm đối chứng ở cả nam và nữ (Bảng 3.30, Biểu đồ 3.2 và Biểu đồ 3.3).
- Tỷ lệ phân loại thể lực theo tiêu chuẩn Bộ Giáo dục và Đào tạo của nhóm thực nghiệm đạt loại Tốt và Đạt cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (Bảng 3.31, n=496).
- Kết quả học tập môn Giáo dục thể chất nội khóa của nhóm thực nghiệm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (Bảng 3.32, Biểu đồ 3.4).
- Kiểm tra trình độ kỹ thuật môn Bóng chuyền sau 1 năm (Bảng 3.33) cho thấy nhóm thực nghiệm nắm vững kỹ thuật, thực hiện động tác chuẩn xác và thi đấu hiệu quả hơn nhóm đối chứng 1.
- Mức độ phát triển phong trào tập luyện thể thao ngoại khóa của nhóm thực nghiệm tăng lên rõ rệt (Bảng 3.34), tỷ lệ sinh viên duy trì thói quen tập luyện tự giác tăng cao.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã:
- Hệ thống hóa, bổ sung và làm sâu sắc thêm các quan điểm lý luận về giáo dục thể chất nội khóa và thể thao ngoại khóa trong bối cảnh các trường đại học khối kỹ thuật.
- Xác định hệ thống 5 nguyên tắc sư phạm chuyên biệt làm cơ sở khoa học cho việc thiết kế chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền cho sinh viên đại học.
- Làm sáng tỏ mối liên hệ biện chứng giữa việc tập luyện thể thao ngoại khóa có tổ chức với sự phát triển thể lực chung và kết quả học tập môn Giáo dục thể chất nội khóa của người học.
Về mặt thực tiễn, luận án đã:
- Đánh giá toàn diện thực trạng công tác giáo dục thể chất, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và trình độ thể lực của 2700 sinh viên tại 5 trường đại học khối kỹ thuật Thành phố Hà Nội.
- Xây dựng thành công bản phân bổ chi tiết chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền có tính khả thi cao, phù hợp với quỹ thời gian và đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên kỹ thuật.
- Chứng minh hiệu quả thực tế của chương trình thông qua thực nghiệm sư phạm 1 năm: nâng cao rõ rệt nhịp tăng trưởng thể lực, cải thiện tỷ lệ xếp loại thể lực theo chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nâng cao điểm số môn Giáo dục thể chất và thúc đẩy phong trào thể thao câu lạc bộ phát triển.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, tác giả kiến nghị:
- Ban Giám hiệu các trường đại học khối kỹ thuật cần quan tâm đầu tư kinh phí, cải tạo cơ sở vật chất, hệ thống sân bãi, lưới và bóng phục vụ tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền.
- Bộ môn Giáo dục thể chất các trường cần chính thức đưa chương trình ngoại khóa môn Bóng chuyền đã xây dựng vào kế hoạch hoạt động ngoại khóa hàng năm, đồng thời bồi dưỡng năng lực tổ chức câu lạc bộ cho đội ngũ cán bộ, giảng viên và cán sự thể dục thể thao.
- Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, duy trì các giải đấu giao hữu thường niên nhằm tạo động lực và sân chơi lành mạnh cho sinh viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án chỉ tiến hành khảo sát và can thiệp thực nghiệm trên phạm vi 5 trường đại học thuộc khối kỹ thuật trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Đối tượng can thiệp thực nghiệm sư phạm tập trung vào sinh viên năm thứ nhất, chưa mở rộng theo dõi xuyên suốt toàn bộ tiến trình học tập từ năm thứ nhất đến năm tốt nghiệp.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Ứng dụng và kiểm chứng khung chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền cho sinh viên các khối ngành đào tạo khác (như khối trường kinh tế, khối trường khoa học xã hội và nhân văn, khối trường y dược).
- Nghiên cứu mở rộng việc xây dựng chương trình ngoại khóa cho các môn thể thao khác được sinh viên yêu thích (bóng đá, bóng rổ, cầu lông).
- Theo dõi dài hạn tác động của chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền đối với sức khỏe nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường đi làm tại các doanh nghiệp kỹ thuật.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Giáo dục thể chất, Huấn luyện thể thao và Quản lý thể dục thể thao tham khảo về phương pháp tiếp cận nghiên cứu thực nghiệm sư phạm, kỹ thuật xử lý số liệu thống kê và cấu trúc đề tài xây dựng chương trình đào tạo.
- Giảng viên bộ môn Giáo dục thể chất tại các trường đại học, cao đẳng (đặc biệt là khối kỹ thuật) có thể khai thác trực tiếp khung chương trình chi tiết môn Bóng chuyền (Bảng 3.21) và hệ thống bài tập kỹ thuật để áp dụng vào giảng dạy ngoại khóa hoặc thành lập câu lạc bộ thể thao.
- Lãnh đạo các trường đại học, cán bộ quản lý công tác học sinh - sinh viên và Đoàn Thanh niên tham khảo mô hình tổ chức xã hội thể dục thể thao (Sơ đồ 1.2) để hoạch định chính sách đầu tư sân bãi, tổ chức giải đấu và phân bổ kinh phí phát triển thể thao học đường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực trạng công tác giáo dục thể chất và thể lực sinh viên trên những cỡ mẫu nào và tại các cơ sở đào tạo nào?
Khảo sát được thực hiện tại 5 trường đại học khối kỹ thuật ở Hà Nội: Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội và Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Cỡ mẫu khảo sát thực trạng gồm 1635 sinh viên (1168 nam, 467 nữ) về nhu cầu, hình thức tập luyện; 2700 sinh viên (chia đều cho sinh viên 3 năm đầu, mỗi năm 900 sinh viên gồm 500 nam, 400 nữ) để kiểm tra trình độ thể lực; cùng các mẫu chuyên gia phỏng vấn (32 chuyên gia xác định nguyên tắc, 35 chuyên gia đánh giá độ phù hợp và 15 chuyên gia hội thảo).
2. Luận án dựa trên những nguyên tắc sư phạm nào để thiết kế chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền?
Tác giả xác lập 5 nguyên tắc sư phạm cơ bản:
- Nguyên tắc quán triệt mục tiêu: Đảm bảo mục tiêu giáo dục thể chất, giáo dưỡng thể chất, phát triển phong trào và bồi dưỡng năng khiếu.
- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học: Lựa chọn kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp, nâng dần lượng vận động.
- Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất: Thống nhất giữa nội dung giảng dạy với yêu cầu môn học và mục tiêu chung của thể dục thể thao trường học.
- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn: Phù hợp điều kiện cơ sở vật chất, quỹ thời gian và đặc điểm tâm sinh lý sinh viên kỹ thuật.
- Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm: Kết hợp phương pháp giảng dạy kỹ thuật, chiến thuật, giáo dục đạo đức và kiểm tra đánh giá định kỳ.
3. Khách thể thực nghiệm sư phạm được tổ chức như thế nào và kiểm tra qua các nhóm chỉ tiêu nào?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên sinh viên năm thứ nhất tại 5 trường đại học kỹ thuật trong 1 năm học (với 496 sinh viên hoàn thành toàn bộ chương trình đối chứng và thực nghiệm). Quá trình kiểm tra đánh giá bao gồm: các chỉ số thể lực chung theo tiêu chuẩn phân loại của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết quả học tập môn Giáo dục thể chất nội khóa, các bài kiểm tra kỹ thuật chuyên môn môn Bóng chuyền (chuyền bóng, phát bóng, đập bóng) và mức độ tham gia phong trào câu lạc bộ.
4. Những nhân tố khách quan và chủ quan chính nào ảnh hưởng đến hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên đại học được phân tích trong luận án?
Văn bản phân chia thành hai nhóm yếu tố:
- Yếu tố chủ quan: Tính tích cực học tập của người học (tình cảm, ý chí, độ tập trung, mức độ tham gia), nhu cầu vận động và động cơ tập luyện thể thao của sinh viên.
- Yếu tố khách quan: Sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo nhà trường; cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong trường đại học; điều kiện cơ sở vật chất, sân bãi và kinh phí; số lượng và trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên, huấn luyện viên.
5. Điểm khác biệt căn bản giữa chương trình ngoại khóa môn Bóng chuyền do luận án xây dựng so với hoạt động ngoại khóa trước đây tại các trường là gì?
Chương trình mới được xây dựng theo hệ thống nguyên tắc khoa học, có phân bổ chi tiết thời lượng và nội dung giảng dạy (Bảng 3.21), kết hợp đồng bộ giữa kỹ thuật cơ bản, phối hợp chiến thuật, nâng cao thể lực và hiểu biết luật thi đấu; trong khi hoạt động ngoại khóa trước đây chủ yếu mang tính tự phát, sinh viên tự tập không có giáo trình hướng dẫn, thiếu kế hoạch tổ chức và không có tiêu chí kiểm tra đánh giá định kỳ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ đã giải quyết trọn vẹn 3 nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra thông qua việc đánh giá toàn diện thực trạng công tác giáo dục thể chất tại 5 trường đại học khối kỹ thuật trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Dựa trên cơ sở lý luận, hệ thống nguyên tắc sư phạm và đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi sinh viên, tác giả đã thiết kế thành công chương trình tập luyện ngoại khóa môn Bóng chuyền có cấu trúc nội dung khoa học và tính ứng dụng cao. Kết quả thực nghiệm sư phạm trong 1 năm học khẳng định chương trình mới giúp nâng cao rõ rệt nhịp tăng trưởng thể lực, cải thiện kết quả học tập môn Giáo dục thể chất nội khóa và phát triển phong trào tập luyện thể thao ngoại khóa trong sinh viên. Công trình cung cấp luận cứ khoa học và tài liệu giảng dạy thực tiễn có giá trị cho các cơ sở giáo dục đại học khối kỹ thuật trong việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất học đường.