Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu xây dựng chương trình một số môn thể thao tự chọn cho sinh viên khối các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thái, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Hồng Quang và cán bộ hướng dẫn Nguyễn Văn Hùng, bảo vệ năm 2021 tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh thuộc chuyên ngành Giáo dục học (Mã số: 9140101).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011–2020, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh việc nâng cao trình độ chuyên môn, công tác giáo dục thể chất (GDTC) trong các trường đại học đóng vai trò nền tảng trong việc nâng cao thể lực và sức khỏe sinh viên.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) là trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với quy mô đào tạo chính quy khoảng 65.000 sinh viên tại 6 trường đại học thành viên gồm: Trường Đại học Bách Khoa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quốc tế, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, và Trường Đại học Kinh tế – Luật. Mặc dù công tác GDTC luôn được xác định là một bộ phận của giáo dục toàn diện, thực tế triển khai chương trình và nội dung môn học GDTC tại từng trường thành viên vẫn mang tính cục bộ, giảng dạy theo cách riêng và chưa có sự thống nhất chung. Trước định hướng thành lập Trung tâm Thể dục Thể thao trực thuộc ĐHQG-HCM (nơi sinh viên toàn khối sẽ học môn GDTC tập trung), việc nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn phù hợp với đặc thù từng trường, đáp ứng nhu cầu, sở thích của sinh viên và nâng cao chất lượng đào tạo thể chất là yêu cầu cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu
Xây dựng chương trình một số môn thể thao tự chọn phù hợp nhằm nâng cao thể lực và đáp ứng nhu cầu, sở thích của sinh viên, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả học tập GDTC và nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDTC cho sinh viên khối các trường thuộc ĐHQG-HCM.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định và giải quyết 3 mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn GDTC giờ tự chọn của các trường thuộc ĐHQG-HCM.
- Xác định các tiêu chí đánh giá thực trạng chương trình giảng dạy môn GDTC giờ tự chọn của các trường thuộc ĐHQG-HCM.
- Phân tích thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn thể thao tự chọn tại các trường thuộc ĐHQG-HCM.
- Mục tiêu 2: Xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn phù hợp với điều kiện của các trường và sở thích của sinh viên các trường thuộc ĐHQG-HCM.
- Xác định cơ sở xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn phù hợp với điều kiện của các trường và sở thích của sinh viên.
- Xác định các nguyên tắc xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn.
- Xác định nội dung chương trình các môn thể thao tự chọn cho sinh viên.
- Phân phối thời lượng nội dung của các môn thể thao tự chọn.
- Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả của việc giảng dạy chương trình các môn thể thao tự chọn được xây dựng cho các trường thuộc ĐHQG-HCM.
- Tổ chức thực nghiệm các môn thể thao tự chọn cụ thể vào chương trình giảng dạy môn GDTC cho từng trường thuộc ĐHQG-HCM.
- Đánh giá kết quả kiểm tra trước thực nghiệm chương trình các môn thể thao tự chọn.
- Đánh giá kết quả kiểm tra sau thực nghiệm chương trình các môn thể thao tự chọn.
Giả thuyết khoa học
Xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn phù hợp với sở thích, giới tính của sinh viên ở các trường thuộc ĐHQG-HCM sẽ giúp cho sinh viên gia tăng sự hứng thú, tích cực học tập với các môn thể thao mình yêu thích. Qua đó, thể lực của sinh viên và chất lượng giảng dạy GDTC được cải thiện tốt hơn trong giai đoạn hiện tại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và nội dung xây dựng chương trình môn học thể thao tự chọn cho sinh viên; hiệu quả giảng dạy các chương trình thể thao tự chọn.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm thứ nhất, giảng viên GDTC, cán bộ quản lý tại các trường đại học thành viên thuộc ĐHQG-HCM.
- Phạm vi không gian: Khối các trường thành viên ĐHQG-HCM, trọng tâm khảo sát và thực nghiệm tại 3 trường: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (môn Bóng rổ), Trường Đại học Bách Khoa (môn Bóng chuyền), và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (môn Cầu lông).
- Phạm vi thời gian: Số liệu và các đợt thực nghiệm được tiến hành trong giai đoạn hoàn thành luận án năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến thiết kế, phát triển chương trình giáo dục nói chung và chương trình môn học GDTC nói riêng:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Phát triển chương trình lấy người học làm trung tâm: Robert M. trong tài liệu "Xây dựng và đánh giá chương trình học và môn học" đã phân tích quan hệ giữa mục tiêu, môn học, chương trình và phương pháp giảng dạy, đồng thời nhấn mạnh việc cải tiến chương trình học trên cơ sở nhu cầu người học.
- Cơ sở lý luận và chính sách xây dựng chương trình: Allan C. Ornstein và Francis P. nghiên cứu các nền tảng nguyên tắc và chính sách xây dựng chương trình giáo dục.
- Thiết kế môn học trong giáo dục đại học: Susan Toohey (1999) trong công trình "Thiết kế môn học trong giáo dục đại học" (Designing Courses for Higher Education) đề xuất các mô hình, phương pháp thiết kế môn học và chiến lược giảng dạy tích cực trong thực thi chương trình đại học.
- Mô hình quy trình xây dựng chương trình: Hilda Taba (1962) với tác phẩm "Xây dựng chương trình: Lý luận và thực tiễn" và các nghiên cứu của Kelly A.V. đã phân tích các bước logic từ chẩn đoán nhu cầu, xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung đến đánh giá kết quả.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Thực trạng và tiêu chuẩn GDTC trường học: Vũ Đức Thu và cộng sự (1998) trong đề tài "Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác GDTC và phát triển TDTT trong nhà trường các cấp" đã đánh giá hoạt động GDTC nội khóa và ngoại khóa, đề xuất tiêu chuẩn đánh giá mức độ nề nếp của công tác GDTC.
- GDTC theo định hướng nghề nghiệp: Nguyễn Trọng Hải và cộng sự (2001) trong "Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xác định nội dung GDTC cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng Việt Nam theo định hướng nghề nghiệp" đã phân tích cơ sở pháp lý và sinh học để thiết kế nội dung GDTC phù hợp đặc thù ngành nghề đào tạo.
- Nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo cụ thể:
- Nguyễn Văn Thái (2006) với đề tài "Thực trạng và định hướng phát triển công tác GDTC ở Đại học Cần Thơ", đánh giá chương trình nội khóa, ngoại khóa, đội ngũ giảng viên nhưng phạm vi chỉ phù hợp với phương thức đào tạo theo niên chế.
- Nguyễn Đăng Chiêu (2009) trong "Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho SV một số trường Đại học tại TP.HCM" đề xuất 5 nhóm giải pháp (Ban Giám hiệu và thực hiện chương trình, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, phương pháp giảng dạy, và sự phối hợp giữa các phòng ban).
- Nguyễn Văn Thời (2010) nghiên cứu "Dạy học tự chọn GDTC theo chủ đề và hoạt động ngoại khóa tự nguyện trong các trường trung học cơ sở".
- Lê Trường Sơn Chấn Hải (2012) nghiên cứu "Đổi mới chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên các trường đại học sư phạm vùng Trung Bắc theo hướng bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động TDTT trường học".
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới GDTC, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống việc xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn áp dụng riêng cho hệ thống đào tạo tín chỉ đa ngành tại ĐHQG-HCM. Khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết là: xây dựng quy trình khoa học để chuẩn hóa mục tiêu, nội dung, phân phối thời lượng và tiến trình giảng dạy cho 3 môn thể thao tự chọn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông), đảm bảo tính tương thích với sở thích của sinh viên và điều kiện cơ sở vật chất của từng trường thành viên, đồng thời phục vụ định hướng đào tạo tập trung tại Trung tâm TDTT ĐHQG-HCM.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm thể chất và GDTC: Thể chất là chất lượng thân thể con người, gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng (dẫn theo các tài liệu chuyên ngành). GDTC là một quá trình sư phạm gồm hai mặt không tách rời: giáo dưỡng (quá trình dạy học vận động, hình thành kỹ năng, kỹ xảo động tác) và giáo dục (phát triển có chủ định các tố chất thể lực và phẩm chất ý chí).
- Chất lượng GDTC và hiệu quả đào tạo: Tiếp cận theo định nghĩa của Nguyễn Văn Đản, "chất lượng GDTC là sự phù hợp với mục tiêu GDTC", thể hiện qua các chuẩn đầu ra về năng lực thể chất và thái độ vận động của người học.
- Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi 18–22:
- Tâm lý: Phát triển tự ý thức; động cơ học tập chia làm 5 loại (động cơ xã hội, động cơ nghề nghiệp, động cơ nhận thức, động cơ tự khẳng định mình, động cơ vụ lợi); động cơ tham gia thể thao theo Schiffman & Kanuk (2001) trải qua 5 giai đoạn (nhu cầu thừa nhận, giảm căng thẳng, trạng thái nỗ lực, sự mong muốn, mục tiêu hành vi); tính tự giác và tích cực vận động (theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn).
- Sinh lý: Hệ thần kinh hoàn thiện khả năng phân tích tổng hợp; hệ cơ xương có sức mạnh cơ bắp phát triển với sức mạnh tối đa của các nhóm cơ tăng từ 9–14 lần; trao đổi chất và năng lượng có khả năng hấp thụ oxy tối đa tăng 3,5 lần/phút; hệ tuần hoàn ổn định với tần số mạch 70–80 lần/phút.
- 5 tố chất thể lực cơ bản: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo, và mềm dẻo.
- Hệ thống 10 căn cứ và nguyên tắc xây dựng chương trình thể thao tự chọn:
- Đảm bảo tính pháp lý (Chỉ thị 133/TTg, Quy chế 931/RLTC, Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT).
- Đảm bảo tính lý luận và logic sư phạm (từ nhẹ đến nặng, từ đơn giản đến phức tạp).
- Phù hợp năng lực giảng viên và sân bãi tập luyện.
- Xác định chính xác nhiệm vụ buổi tập.
- Vạch kế hoạch dạy học cụ thể của buổi tập.
- Chuẩn bị sân bãi, dụng cụ.
- Phù hợp điều kiện cơ sở vật chất thực tế.
- Xây dựng kế hoạch dạy học môn học theo quy định chuẩn.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm.
- Đánh giá, xếp loại thể lực học sinh sinh viên theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong khoa học giáo dục và thể dục thể thao:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Thu thập, phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT và các công trình khoa học trong và ngoài nước.
- Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm: Sử dụng phiếu hỏi khảo sát ý kiến cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên nhằm xác định tiêu chí đánh giá, nhu cầu tập luyện và đánh giá mức độ phù hợp của chương trình. Sử dụng kỹ thuật phân tích độ tin cậy thang đo (Item Statistics, Item-Total Statistics, hệ số Cronbach's Alpha).
- Phương pháp kiểm tra sư phạm: Đo lường 6 chỉ tiêu thể lực tiêu chuẩn theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/9/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Nằm ngửa gập bụng (NNGB) – đơn vị: lần/30 giây.
- Bật xa tại chỗ (BXTC) – đơn vị: cm.
- Chạy 30m xuất phát cao (C30) – đơn vị: giây.
- Chạy con thoi 4x10m (C4X10) – đơn vị: giây.
- Lực bóp thuận tay (LBTT) – đơn vị: kg.
- Chạy tùy sức 5 phút (CTS5P) – đơn vị: mét.
Đồng thời đánh giá điểm trung bình môn học GDTC và xếp loại kết quả học tập.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm song song đối chứng trên các nhóm sinh viên tại 3 trường thành viên ĐHQG-HCM:
- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn: Nhóm thực nghiệm học Bóng rổ (NV.BR), nhóm đối chứng học Bóng đá (NV.BĐ).
- Trường Đại học Bách Khoa: Nhóm thực nghiệm học Bóng chuyền (BK.BC), nhóm đối chứng học Bóng đá (BK.BĐ).
- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên: Nhóm thực nghiệm học Cầu lông (TN.CL), nhóm đối chứng học Bóng đá (TN.BĐ).
- Phương pháp toán học thống kê: Xử lý số liệu khảo sát và số liệu thực nghiệm (tính giá trị trung bình $\bar{X}$, độ lệch chuẩn $\sigma$, so sánh sự khác biệt trước và sau thực nghiệm, so sánh giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng).
| Nhóm phương pháp |
Công cụ / Kỹ thuật cụ thể |
Mục đích sử dụng |
| Thu thập thông tin |
Tổng hợp tài liệu, phiếu phỏng vấn CBQL, GV, SV |
Thu thập cơ sở lý luận, thực trạng GDTC và nhu cầu môn học |
| Đo lường thể lực |
6 test chuẩn QĐ 53/2008/QĐ-BGDĐT (NNGB, BXTC, C30, C4X10, LBTT, CTS5P) |
Đánh giá trình độ phát triển các tố chất thể lực của SV |
| Thực nghiệm sư phạm |
Thiết kế nhóm TN và nhóm ĐC tại 3 trường (NV, BK, TN) |
Kiểm chứng hiệu quả của chương trình Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông |
| Xử lý thống kê |
Cronbach's Alpha, Item-Total Statistics, thống kê mô tả, so sánh trung bình |
Kiểm định độ tin cậy thang đo và độ tin cậy của kết quả thực nghiệm |
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương I tập trung luận giải 6 nội dung cơ bản:
- Quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về GDTC trong trường học: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về thể dục ("Dân cường thì quốc thịnh"), Chỉ thị 133/TTg ngày 7/3/1995 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) và Quy chế GDTC y tế trường học theo quy định của Bộ GD&ĐT.
- Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học: Khẳng định 3 nhiệm vụ chính gồm giáo dục đạo đức - ý thức kỷ luật; cung cấp tri thức lý luận và kỹ năng vận động cơ bản; duy trì sức khỏe, nâng cao thể lực theo chuẩn rèn luyện thân thể.
- Các khái niệm liên quan: Phân định rõ các khái niệm thể chất, giáo dục thể chất, giáo dưỡng, giáo dục, trạng thái thể chất, phát triển thể chất, hoàn thiện thể chất, chuẩn bị thể lực, chất lượng GDTC, hiệu quả giáo dục, chất lượng dạy học và kết quả học tập.
- Đặc điểm tâm - sinh lý và tố chất thể lực của sinh viên (lứa tuổi 18–22): Phân tích sự hoàn thiện về chức năng vỏ não, sức mạnh cơ bắp, chu kỳ hô hấp, hấp thụ oxy tối đa, mạch và huyết áp; đặc điểm phát triển các tố chất sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo và mềm dẻo; cấu trúc động cơ học tập và động cơ tham gia hoạt động thể thao.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình thể thao tự chọn: Trình bày kết cấu chuẩn của chương trình dạy học TDTT (phần thuyết minh và phần chương trình chi tiết), cùng 10 yêu cầu mang tính nguyên tắc khi xây dựng chương trình môn thể thao tự chọn tại các trường đại học.
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan: Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển chương trình môn học và thực trạng GDTC đại học.
Chương II: Phương pháp và đối tượng nghiên cứu
Chương II mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu gồm:
- Đối tượng và khách thể nghiên cứu: Xác định tập mẫu khảo sát thực trạng gồm cán bộ quản lý, giảng viên GDTC và sinh viên năm thứ nhất tại các trường thành viên ĐHQG-HCM; chọn mẫu thực nghiệm tại 3 trường đại học (ĐH KHXH-NV, ĐH Bách Khoa, ĐH Khoa học Tự nhiên).
- Hệ thống 5 phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy chuẩn thu thập tài liệu, thiết kế bảng hỏi phỏng vấn, quy trình đo 6 chỉ tiêu kiểm tra sư phạm theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT, quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm và các thuật toán thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy.
- Tổ chức nghiên cứu: Phân kỳ kế hoạch nghiên cứu, xác định địa điểm khảo sát và các cơ quan phối hợp nghiên cứu trong khối ĐHQG-HCM.
Chương III: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương III trình bày toàn bộ số liệu, phân tích và bàn luận kết quả qua 3 nhiệm vụ tương ứng với 3 mục tiêu nghiên cứu:
1. Đánh giá thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn GDTC giờ tự chọn (Mục tiêu 1)
- Xác định tiêu chí đánh giá: Khảo sát và phân tích độ tin cậy của các tiêu chí đánh giá công tác GDTC giờ tự chọn qua bảng hỏi (Bảng 3.1, 3.2, 3.3).
- Điều kiện đảm bảo:
- Đánh giá sự quan tâm của Ban Giám hiệu các trường (Bảng 3.4, Biểu đồ 3.1).
- Thống kê số lượng, trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên GDTC tại các trường thuộc ĐHQG-HCM (Bảng 3.5, 3.6, Biểu đồ 3.2).
- Đánh giá thực trạng sân bãi, nhà tập, dụng cụ và cơ sở vật chất phục vụ giờ học tự chọn (Bảng 3.7, 3.8, Biểu đồ 3.3).
- Thực trạng nội dung giảng dạy:
- Đánh giá mức độ cần thiết và lý do bổ sung môn thể thao tự chọn vào chương trình (Bảng 3.9, 3.10, 3.11).
- Thống kê danh mục các môn thể thao tự chọn đang giảng dạy và các môn đã được xây dựng chương trình (Bảng 3.12, 3.13).
- Phân tích mức độ phù hợp của nội dung giảng dạy tự chọn đối với điều kiện cơ sở vật chất của trường và nhu cầu phát triển thể lực của sinh viên (Bảng 3.14, 3.15, 3.16, Biểu đồ 3.4, 3.5).
- Thực trạng thể lực và kết quả học tập của sinh viên:
- Đánh giá tính tự giác, tích cực học tập môn GDTC của sinh viên (Bảng 3.17).
- Thống kê kết quả kiểm tra 6 chỉ tiêu thể lực, phân loại thể lực từng chỉ tiêu và phân loại thể lực chung của sinh viên theo tiêu chuẩn Bộ GD&ĐT (Bảng 3.18, 3.19, 3.20, Biểu đồ 3.6).
- Thống kê điểm trung bình môn học GDTC và xếp loại kết quả học tập (Bảng 3.21, 3.22, Biểu đồ 3.7).
- Khảo sát mức độ yêu thích, sự hài lòng và nhu cầu tập luyện môn thể thao tự chọn của sinh viên năm nhất (Bảng 3.23, 3.24, 3.25, Biểu đồ 3.8, 3.9).
2. Lựa chọn và xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn (Mục tiêu 2)
- Xác định mục tiêu đào tạo và kết quả cần đạt của từng môn thể thao tự chọn (Bảng 3.27, 3.28).
- Lựa chọn và xác định nội dung giảng dạy chi tiết cho 3 môn thể thao: môn Bóng rổ (Bảng 3.29), môn Bóng chuyền (Bảng 3.30), môn Cầu lông (Bảng 3.31).
- Xác định thời lượng, số tiết, số buổi học qua phỏng vấn chuyên gia (Bảng 3.32).
- Phân phối thời lượng chi tiết cho từng môn:
- Phân phối thời lượng môn Bóng rổ cho sinh viên Trường Đại học KHXH-NV (Bảng 3.33).
- Phân phối thời lượng môn Bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Bách Khoa (Bảng 3.34).
- Phân phối thời lượng môn Cầu lông cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Bảng 3.35).
- Xây dựng tiến trình giảng dạy (tiết trình) chi tiết cho môn Bóng rổ (Bảng 3.36), Bóng chuyền (Bảng 3.37), và Cầu lông (Bảng 3.38).
- Đánh giá của chuyên gia và giảng viên về mức độ đảm bảo mục tiêu, sự phù hợp của nội dung, sự hợp lý của cấu trúc và nội dung kiểm tra đánh giá của chương trình mới (Bảng 3.39, 3.40, 3.41, 3.42).
3. Đánh giá hiệu quả thực nghiệm chương trình giảng dạy thể thao tự chọn (Mục tiêu 3)
- Xác định quy mô mẫu tham gia thực nghiệm tại 3 trường (Bảng 3.43).
- Kết quả trước thực nghiệm: Kiểm tra 6 chỉ tiêu thể lực và kết quả học tập giữa các nhóm thực nghiệm (N.TN) và nhóm đối chứng (N.ĐC) của từng trường, xác nhận sự đồng đều, không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nhóm trước khi can thiệp (Bảng 3.44, 3.45, 3.46, Biểu đồ 3.10).
- Kết quả sau thực nghiệm:
- Kiểm định thể lực sinh viên nam và sinh viên nữ trước và sau thực nghiệm (Bảng 3.47, 3.48).
- So sánh sự tăng trưởng về trình độ thể lực chung giữa trước và sau thực nghiệm ở nam và nữ (Bảng 3.49, 3.50).
- Kiểm tra thể lực và so sánh đối đầu giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm (Bảng 3.51, 3.52, 3.53, Biểu đồ 3.11). Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm học các môn tự chọn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông) đạt mức tăng trưởng các chỉ số thể lực (NNGB, BXTC, C30, C4X10, LBTT, CTS5P) cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng học chương trình cũ.
- So sánh điểm thi kết thúc học phần GDTC và tỷ lệ xếp loại học tập sau thực nghiệm (Bảng 3.54, 3.55, 3.56, Biểu đồ 3.12, 3.13).
- Đánh giá thái độ của sinh viên sau thực nghiệm: mức độ yêu thích tập luyện (Bảng 3.57, Biểu đồ 3.14), sự hài lòng về chương trình (Bảng 3.58, Biểu đồ 3.15), và tính tự giác, tích cực vận động (Bảng 3.59).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về phát triển chương trình môn học GDTC trong hệ thống giáo dục đại học đào tạo theo học chế tín chỉ.
- Xây dựng khung tiêu chí đánh giá thực trạng công tác GDTC giờ tự chọn, kết hợp giữa kiểm định độ tin cậy thang đo thống kê và đánh giá chuyên gia.
- Xác lập hệ thống 10 nguyên tắc và quy trình khoa học trong việc thiết kế mục tiêu, lựa chọn nội dung, phân phối thời lượng và xây dựng tiến trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn cho sinh viên đại học.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện và số liệu thực chứng về thực trạng công tác GDTC, điều kiện cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ giảng viên và trình độ thể lực của sinh viên tại các trường thành viên thuộc ĐHQG-HCM.
- Xây dựng hoàn chỉnh chương trình chi tiết, đề cương môn học và tiến trình giảng dạy cho 3 môn thể thao tự chọn cụ thể:
- Chương trình môn Bóng rổ cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM.
- Chương trình môn Bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM.
- Chương trình môn Cầu lông cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM.
- Chứng minh bằng thực nghiệm sư phạm rằng việc áp dụng chương trình môn thể thao tự chọn được thiết kế khoa học giúp nâng cao đồng bộ 5 tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo), nâng cao kết quả học tập môn học GDTC, đồng thời thúc đẩy tính tự giác, tích cực và mức độ hài lòng của sinh viên trong quá trình tập luyện.
Kiến nghị và đề xuất
- Đề xuất Ban Giám hiệu các trường thành viên và ĐHQG-HCM chính thức đưa chương trình các môn thể thao tự chọn đã được nghiệm thu vào giảng dạy đại trà.
- Đề xuất tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống sân bãi, nhà tập và trang thiết bị TDTT nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy môn tự chọn.
- Sử dụng khung chương trình và kết quả nghiên cứu làm căn cứ chuẩn bị nội dung đào tạo GDTC khi Trung tâm Thể dục Thể thao ĐHQG-HCM đi vào vận hành tập trung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Nghiên cứu thực nghiệm mới chỉ tiến hành tập trung tại 3 trường đại học thành viên (Trường ĐH KHXH-NV, Trường ĐH Bách Khoa, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên) với 3 môn thể thao tự chọn đại diện (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông), chưa bao phủ toàn bộ 6 trường thành viên và các môn thể thao tự chọn khác.
- Đối tượng thực nghiệm tập trung vào sinh viên năm thứ nhất, chưa đánh giá diễn biến thể lực theo chiều dọc xuyên suốt các năm học tiếp theo của sinh viên.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng quy trình xây dựng chương trình sang các môn thể thao tự chọn khác (bóng đá, bơi lội, bóng bàn, võ thuật, khiêu vũ thể thao...).
- Triển khai áp dụng và đánh giá thực nghiệm tại các trường thành viên còn lại thuộc ĐHQG-HCM (Trường Đại học Quốc tế, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Kinh tế – Luật).
- Nghiên cứu mô hình quản lý và tổ chức giảng dạy môn học GDTC tự chọn tập trung tại Trung tâm Thể dục Thể thao ĐHQG-HCM.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục và lãnh đạo các trường đại học: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn để hoạch định chính sách, đầu tư cơ sở vật chất và quản lý chương trình đào tạo GDTC theo phương thức tín chỉ.
- Đối với giảng viên môn Giáo dục thể chất: Cung cấp tài liệu trực tiếp gồm đề cương chi tiết, phân phối thời lượng và tiến trình giảng dạy bài bản cho 3 môn Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học và GDTC: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm đối chứng, phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo bằng thống kê mô tả, và quy trình sử dụng 6 test thể lực theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xây dựng chương trình cho những môn thể thao tự chọn nào và thử nghiệm tại đâu?
Luận án lựa chọn xây dựng và thực nghiệm chương trình cho 3 môn thể thao tự chọn tại 3 trường thành viên của ĐHQG-HCM: môn Bóng rổ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; môn Bóng chuyền tại Trường Đại học Bách Khoa; và môn Cầu lông tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.
2. Các chỉ tiêu nào được dùng để đánh giá sự phát triển thể lực của sinh viên trong luận án?
Luận án sử dụng 6 chỉ tiêu kiểm tra thể lực theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Nằm ngửa gập bụng (lần/30s), Bật xa tại chỗ (cm), Chạy 30m xuất phát cao (s), Chạy con thoi 4x10m (s), Lực bóp thuận tay (kg), và Chạy tùy sức 5 phút (m).
3. Động cơ tham gia thể thao của sinh viên được tiếp cận theo mô hình lý thuyết nào?
Động cơ tham gia thể thao của sinh viên được phân tích dựa trên mô hình 5 giai đoạn của Schiffman & Kanuk (2001), gồm: nhu cầu về sự thừa nhận, giảm bớt căng thẳng, trạng thái nỗ lực, sự mong muốn, và mục tiêu hướng tới hành vi.
4. Thiết kế thực nghiệm của luận án được tổ chức như thế nào?
Luận án sử dụng mô hình thực nghiệm sư phạm song song đối chứng. Tại mỗi trường đại học tham gia thực nghiệm, sinh viên được chia thành nhóm thực nghiệm (học chương trình môn thể thao tự chọn mới: Bóng rổ, Bóng chuyền hoặc Cầu lông) và nhóm đối chứng (học chương trình môn thể thao Bóng đá theo tiến trình thông thường). Các nhóm được kiểm tra, so sánh các chỉ tiêu thể lực và kết quả học tập ở cả hai thời điểm: trước thực nghiệm và sau thực nghiệm.
5. Phương pháp thống kê nào được sử dụng để kiểm tra độ tin cậy của các tiêu chí khảo sát?
Luận án sử dụng phương pháp phân tích độ tin cậy thang đo thông qua các chỉ số thống kê mô tả từng biến (Item Statistics), hệ số tương quan biến - tổng và độ tin cậy của từng tiêu chí cũng như tổng thể (Item-Total Statistics, Cronbach's Alpha) được trình bày tại các Bảng 3.2 và 3.3.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Thái đã giải quyết toàn diện vấn đề xây dựng và chuẩn hóa chương trình môn thể thao tự chọn cho sinh viên khối các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua việc phân tích thực trạng, luận án đã thiết kế thành công chương trình, đề cương và tiến trình giảng dạy cho 3 môn thể thao tự chọn: Bóng rổ, Bóng chuyền và Cầu lông. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định chương trình mới giúp nâng cao rõ rệt các chỉ số thể lực chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời nâng cao kết quả học tập và gia tăng tính tích cực, tự giác của sinh viên. Công trình là tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác giảng dạy GDTC tại ĐHQG-HCM và các cơ sở giáo dục đại học.