Tổng quan luận án

Công tác Giáo dục Thể chất (GDTC) trong các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò cốt lõi trong mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện về cả phẩm chất trí tuệ lẫn năng lực thể chất. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG TP.HCM) là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học đa ngành với quy mô khoảng 65.000 sinh viên, gồm 6 trường đại học thành viên: Trường ĐH Bách Khoa, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Quốc tế, Trường ĐH Công nghệ Thông tin và Trường ĐH Kinh tế - Luật. Mặc dù công tác GDTC luôn được xác định là một bộ phận không thể tách rời của quá trình đào tạo, thực tế tại ĐHQG TP.HCM cho thấy chương trình và nội dung môn học GDTC ở mỗi trường trực thuộc vẫn được tổ chức theo phương thức riêng lẻ, thiếu tính đồng bộ và chưa có sự thống nhất về cấu trúc chương trình thể thao tự chọn. Cùng với định hướng thành lập Trung tâm Thể dục Thể thao (TDTT) trực thuộc ĐHQG TP.HCM nhằm tập trung hóa công tác giảng dạy GDTC cho sinh viên toàn hệ thống, việc sắp xếp lại chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy và thiết kế các môn học thể thao tự chọn phù hợp với đặc thù từng trường, thể lực và sở thích của sinh viên trở thành một yêu cầu cấp bách.

Luận án xác định mục đích nghiên cứu là xây dựng chương trình một số môn thể thao phù hợp nhằm nâng cao thể lực và đáp ứng nhu cầu, sở thích của sinh viên; từ đó góp phần nâng cao hiệu quả học tập GDTC và chất lượng giảng dạy môn GDTC cho sinh viên khối các trường thuộc ĐHQG TP.HCM.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể theo 3 nhiệm vụ chính:

  • Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn GDTC giờ tự chọn của các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung này bao gồm việc xác định các tiêu chí đánh giá thực trạng và phân tích thực trạng thực hiện chương trình giảng dạy môn thể thao tự chọn tại các đơn vị.
  • Mục tiêu 2: Xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn phù hợp với điều kiện của các trường và sở thích của sinh viên các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ này xác định cơ sở lý luận, nguyên tắc xây dựng, cấu trúc nội dung, đề cương chi tiết và phân phối thời lượng cho từng môn thể thao tự chọn.
  • Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả của việc giảng dạy chương trình các môn thể thao tự chọn được xây dựng cho các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thông qua tổ chức thực nghiệm sư phạm và so sánh kết quả kiểm tra trước - sau thực nghiệm giữa các nhóm.

Giả thuyết khoa học của đề tài: Việc xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn phù hợp với sở thích, giới tính của sinh viên ở các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp cho sinh viên gia tăng sự hứng thú, tích cực học tập với các môn thể thao mình yêu thích; qua đó thể lực của sinh viên và chất lượng giảng dạy GDTC được cải thiện tốt hơn trong giai đoạn hiện tại.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chương trình giảng dạy một số môn thể thao tự chọn cho sinh viên khối các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý, giảng viên GDTC (68 người); sinh viên năm thứ 2 kết thúc môn học (578 sinh viên); sinh viên năm thứ nhất khảo sát nhu cầu (448 sinh viên); và sinh viên tham gia thực nghiệm sư phạm (386 sinh viên).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát và thực nghiệm tại 3 trường đại học thành viên trọng điểm đại diện cho các khối ngành của ĐHQG TP.HCM: Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH KHXH-NV), Trường ĐH Bách Khoa (ĐH BK) và Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH KHTN).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các học phần môn thể thao tự chọn trong chương trình GDTC theo học chế tín chỉ, cụ thể lựa chọn xây dựng và thực nghiệm 3 môn: Bóng rổ (tại ĐH KHXH-NV), Bóng chuyền (tại ĐH Bách Khoa) và Cầu lông (tại ĐH KHTN), có đối chứng với môn Bóng đá.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy sự phát triển của lý luận và thực tiễn về xây dựng chương trình giáo dục thể chất trường học:

Về nghiên cứu quốc tế:

  • Robert M. trong công trình "Xây dựng và đánh giá chương trình học và môn học" đã phân tích sâu sắc quan điểm thiết kế chương trình lấy người học làm trung tâm, giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo, cấu trúc môn học, quá trình giảng dạy và các phương pháp cải tiến chương trình.
  • Allan C. Ornstein và Francis P. đã hệ thống hóa các cơ sở nguyên tắc và chính sách xây dựng chương trình đào tạo.
  • Susan Toohey (1999) trong "Thiết kế môn học trong giáo dục học đại học" đã phân tích các mô hình, phương pháp thiết kế môn học và chiến lược giảng dạy đại học.
  • Hilda Taba (1962) với "Xây dựng chương trình: Lý luận và thực tiễn" cùng các nghiên cứu của Kelly A. đã cung cấp nền tảng phương pháp luận về quy trình phát triển chương trình môn học.
  • Schiffman & Kanuk (2001) làm rõ động cơ tham gia thể thao qua mô hình 5 giai đoạn: nhu cầu thừa nhận, giảm bớt căng thẳng, trạng thái nỗ lực, sự mong muốn và mục tiêu hướng tới hành vi.
  • Noovicop A.P. (1993) và Aulic I.A. xác lập cơ sở lý thuyết về thể lực, chuẩn bị thể lực và các thông số sư phạm vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động).

Về nghiên cứu trong nước:

  • Vũ Đức Thu và cộng sự (1998) trong "Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác GDTC và phát triển TDTT trong nhà trường các cấp" đã đề xuất bộ tiêu chuẩn đánh giá hoạt động GDTC nội khóa và ngoại khóa.
  • Nguyễn Trọng Hải và cộng sự (2001) nghiên cứu xác định nội dung GDTC cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng Việt Nam theo định hướng nghề nghiệp.
  • Nguyễn Văn Thái (2006) khảo sát thực trạng và định hướng phát triển GDTC tại Đại học Cần Thơ dưới hình thức đào tạo niên chế.
  • Nguyễn Đăng Chiêu (2009) đánh giá thực trạng và đề xuất 5 nhóm giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho các trường đại học tại TP.HCM.
  • Nguyễn Văn Thời (2010) nghiên cứu dạy học tự chọn GDTC theo chủ đề và hoạt động ngoại khóa tự nguyện ở bậc phổ thông.
  • Lê Trường Sơn Chấn Hải (2012) đổi mới chương trình GDTC cho sinh viên sư phạm vùng Trung Bắc theo hướng bồi dưỡng nghiệp vụ TDTT tại ĐHSP Hà Nội 2.
  • Nguyễn Văn Hòa (2016) cải tiến chương trình giảng dạy 9 môn thể thao tự chọn cho sinh viên không chuyên Trường Đại học Cần Thơ.
  • Trần Ngọc Cương (2017) xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ tại Trường Đại học Sài Gòn.
  • Nguyễn Thanh Hùng (2017) xây dựng chương trình GDTC học phần tự chọn và ngoại khóa cho sinh viên Đại học Quy Nhơn.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu triển khai trên một trường đại học đơn lẻ, hoặc tập trung vào mô hình câu lạc bộ, hoặc thực hiện trong điều kiện đào tạo theo niên chế của các khối ngành chuyên biệt. Chưa có nghiên cứu nào giải quyết việc xây dựng chương trình môn học thể thao tự chọn một cách có hệ thống cho hệ thống đại học đa ngành, đa lĩnh vực có quy mô lớn như Đại học Quốc gia TP.HCM. Cụ thể, luận án giải quyết khoảng trống về: (1) Xác lập bộ tiêu chí đánh giá chuẩn hóa cho công tác GDTC giờ tự chọn; (2) Phân tích sâu nhu cầu tập luyện theo giới tính và tính chất ngành học của từng trường thành viên; (3) Thiết kế cấu trúc chương trình, đề cương chi tiết và tiến trình giảng dạy cụ thể cho từng môn thể thao tự chọn phù hợp điều kiện thực tiễn; (4) Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình thống nhất và tập trung hóa công tác GDTC tại Trung tâm TDTT ĐHQG TP.HCM.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hệ thống khái niệm và khung lý thuyết về giáo dục thể chất, phát triển thể chất và tâm - sinh lý lứa tuổi:

  • Bản chất của Giáo dục thể chất: Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp, GDTC là một quá trình sư phạm đặc thù gồm hai mặt gắn bó hữu cơ: giáo dưỡng (dạy học vận động, hình thành kỹ năng, kỹ xảo) và giáo dục (phát triển các tố chất thể lực và phẩm chất ý chí).
  • Chất lượng và hiệu quả GDTC: Được xác định theo quan điểm của Nguyễn Văn Đản và Vũ Đức Thu, là sự phù hợp giữa kết quả đầu ra về năng lực thể chất của người học với mục tiêu giáo dục đã đề ra.
  • Đặc điểm tâm - sinh lý và thể lực sinh viên lứa tuổi 18-22: Đặc điểm tự ý thức phát triển cao; 5 nhóm động cơ học tập (xã hội, nghề nghiệp, nhận thức, tự khẳng định, vụ lợi); động cơ tham gia thể thao 5 giai đoạn; tính tự giác và tích cực học tập; sự hoàn thiện của hệ thần kinh, hệ cơ xương, tuần hoàn và trao đổi chất; quy luật phát triển của 5 tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo).
  • Khung lý luận xây dựng chương trình: Cấu trúc gồm Thuyết minh chương trình và Chương trình chi tiết (phân phối theo hệ thống nội dung), tuân thủ 10 nguyên tắc: tính pháp lý; tính lý luận - lôgic; năng lực giảng viên và sân bãi; xác định chính xác nhiệm vụ buổi tập; lập kế hoạch dạy học cụ thể; chuẩn bị sân bãi dụng cụ; điều kiện cơ sở vật chất; kế hoạch môn học; phương pháp dạy học tích cực; và đánh giá, xếp loại thể lực theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/9/2008 của Bộ GD&ĐT.

Luận án sử dụng 5 phương pháp nghiên cứu khoa học thực tế:

  1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Khảo sát các nghị quyết của Đảng, văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT (Chỉ thị 133/TTg, Quy chế 931/RLTC, Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT), văn bản của ĐHQG TP.HCM và các tài liệu chuyên ngành.
  2. Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu hỏi và tọa đàm chuyên gia với cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên nhằm xác định tiêu chí đánh giá, khảo sát nhu cầu và thẩm định chương trình; kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Item Statistics và Item-Total Statistics.
  3. Phương pháp kiểm tra sư phạm: Đánh giá kết quả học tập môn GDTC và đo lường 6 chỉ tiêu thể lực theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT gồm:
    • Nằm ngửa gập bụng (NNGB, đơn vị: lần/30s) - đánh giá sức mạnh bền cơ bụng.
    • Bật xa tại chỗ (BXTC, đơn vị: cm) - đánh giá sức mạnh bộc phát chi dưới.
    • Chạy 30m xuất phát cao (C30, đơn vị: s) - đánh giá sức nhanh.
    • Chạy con thoi 4x10m (C4X10, đơn vị: s) - đánh giá năng lực khéo léo, đổi hướng.
    • Lực bóp thuận tay (LBTT, đơn vị: kg) - đánh giá sức mạnh tĩnh tay thuận.
    • Chạy tùy sức 5 phút (CTS5P, đơn vị: m) - đánh giá sức bền ưa khí.
  4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm song song có đối chứng tại 3 trường đại học thành viên, tiến hành kiểm tra trước và sau thực nghiệm.
  5. Phương pháp toán học thống kê: Xử lý dữ liệu định lượng, tính toán các chỉ số thống kê mô tả, kiểm định so sánh giá trị trung bình giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng trước và sau thực nghiệm.

Nguồn tư liệu và quy mô mẫu nghiên cứu được tổng hợp tại bảng sau:

Đối tượng / Khách thể khảo sát Đơn vị thực hiện Số lượng mẫu (n) Mục đích sử dụng dữ liệu
Cán bộ quản lý, Giảng viên, Chuyên gia Các trường ĐH thuộc ĐHQG TP.HCM và các trường khác 68 người Phỏng vấn xác định tiêu chí đánh giá và thẩm định chương trình
Sinh viên năm thứ 2 Trường ĐH KHXH-NV 173 SV (78 nam, 95 nữ) Khảo sát thực trạng GDTC, kiểm tra thể lực và kết quả học tập
Sinh viên năm thứ 2 Trường ĐH Bách Khoa 194 SV (131 nam, 63 nữ) Khảo sát thực trạng GDTC, kiểm tra thể lực và kết quả học tập
Sinh viên năm thứ 2 Trường ĐH Khoa học Tự nhiên 211 SV (130 nam, 81 nữ) Khảo sát thực trạng GDTC, kiểm tra thể lực và kết quả học tập
Sinh viên năm thứ nhất 3 trường thành viên 448 SV (128 NV, 169 BK, 151 TN) Khảo sát nhu cầu, nguyện vọng tập luyện môn thể thao tự chọn
Mẫu thực nghiệm: ĐH KHXH-NV Trường ĐH KHXH-NV 98 SV (44 nam, 54 nữ) Thực nghiệm môn Bóng rổ (NV.BR) đối chứng môn Bóng đá (NV.BĐ)
Mẫu thực nghiệm: ĐH Bách Khoa Trường ĐH Bách Khoa 153 SV (99 nam, 54 nữ) Thực nghiệm môn Bóng chuyền (BK.BC) đối chứng môn Bóng đá (BK.BĐ)
Mẫu thực nghiệm: ĐH KHTN Trường ĐH Khoa học Tự nhiên 135 SV (83 nam, 52 nữ) Thực nghiệm môn Cầu lông (TN.CL) đối chứng môn Bóng đá (TN.BĐ)

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương I tập trung làm rõ quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về GDTC trường học qua các thời kỳ, phân tích vị trí của GDTC trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực và đào tạo đại học. Tác giả trình bày mục tiêu 3 nhiệm vụ cơ bản của GDTC (giáo dục phẩm chất, cung cấp tri thức - kỹ năng vận động, củng cố và nâng cao thể lực cho sinh viên). Chương này hệ thống hóa các khái niệm nền tảng: thể chất, GDTC, giáo dưỡng, giáo dục, trạng thái thể chất, phát triển thể chất, hoàn thiện thể chất, chuẩn bị thể lực, chất lượng và hiệu quả GDTC, chương trình môn học và giờ học GDTC.

Về đặc điểm đối tượng, chương phân tích toàn diện các yếu tố tâm lý (tự ý thức, 5 nhóm động cơ học tập, động cơ thể thao, tính tự giác tích cực, sự hứng thú), đặc điểm sinh lý lứa tuổi 18-22 (hệ thần kinh, cơ xương, tuần hoàn, hô hấp) và nhịp điệu biến đổi của 5 tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo). Trên cơ sở đó, tác giả xác lập khung 10 nguyên tắc sư phạm và thực tiễn trong xây dựng chương trình thể thao tự chọn. Cuối chương, tác giả điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước để khẳng định luận cứ khoa học của đề tài.

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Chương II mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là chương trình giảng dạy môn thể thao tự chọn tại các trường thuộc ĐHQG TP.HCM. Khách thể nghiên cứu được xác định cụ thể theo từng nhóm: 68 cán bộ quản lý, giảng viên và chuyên gia; 578 sinh viên năm thứ 2 tại 3 trường (ĐH KHXH-NV: 173 SV; ĐH BK: 194 SV; ĐH KHTN: 211 SV); 448 sinh viên năm thứ nhất khảo sát nhu cầu (ĐH KHXH-NV: 128 SV; ĐH BK: 169 SV; ĐH KHTN: 151 SV); và 386 sinh viên tham gia thực nghiệm sư phạm (ĐH KHXH-NV: 98 SV; ĐH BK: 153 SV; ĐH KHTN: 135 SV).

Chương trình bày quy trình triển khai 5 phương pháp nghiên cứu: phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu; phương pháp phỏng vấn chuyên gia; phương pháp kiểm tra sư phạm thông qua 6 test thể lực chuẩn quốc gia theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT và đánh giá điểm trung bình môn học; phương pháp thực nghiệm sư phạm có nhóm đối chứng; phương pháp toán học thống kê để kiểm tra độ tin cậy và so sánh hiệu quả can thiệp. Kế hoạch nghiên cứu, địa điểm và các cơ quan phối hợp cũng được quy định cụ thể.

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Chương III trình bày toàn bộ số liệu và phân tích kết quả nghiên cứu theo 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng thực hiện chương trình GDTC giờ tự chọn (Mục tiêu 1):
  • Xác định hệ thống tiêu chí đánh giá thông qua phỏng vấn 68 chuyên gia, giảng viên và cán bộ quản lý; các kết quả thống kê mô tả (Item Statistics) và độ tin cậy tổng thể (Item-Total Statistics) được kiểm định đạt chuẩn khoa học (Bảng 3.1, Bảng 3.2, Bảng 3.3).
  • Đánh giá các điều kiện đảm bảo: Phân tích mức độ quan tâm của Ban Giám hiệu các trường (Bảng 3.4, Biểu đồ 3.1); thống kê số lượng, cơ cấu trình độ và năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên GDTC (Bảng 3.5, Bảng 3.6, Biểu đồ 3.2); khảo sát thực trạng sân bãi, nhà tập và trang thiết bị cho thấy cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, chưa đồng bộ giữa các trường thành viên (Bảng 3.7, Bảng 3.8, Biểu đồ 3.3).
  • Đánh giá nội dung giảng dạy: Giảng viên và cán bộ quản lý đều khẳng định sự cần thiết và các lý do phải bổ sung chương trình thể thao tự chọn (Bảng 3.9, Bảng 3.10) nhằm phát triển thể lực sinh viên (Bảng 3.11). Tổng hợp danh mục các môn đang dạy và các môn đã xây dựng chương trình (Bảng 3.12, Bảng 3.13), đánh giá mức độ phù hợp của nội dung hiện hành với điều kiện nhà trường và nhu cầu người học (Bảng 3.14, Bảng 3.15, Bảng 3.16, Biểu đồ 3.4, Biểu đồ 3.5).
  • Kết quả học tập và thể lực của sinh viên: Đánh giá tính tự giác, tích cực học tập (Bảng 3.17); mô tả thống kê và phân loại trình độ 6 chỉ tiêu thể lực theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT cho thấy tỷ lệ sinh viên đạt thể lực loại tốt còn thấp, tỷ lệ chưa đạt còn đáng kể (Bảng 3.18, Bảng 3.19, Bảng 3.20, Biểu đồ 3.6); điểm trung bình và xếp loại môn học GDTC còn nhiều hạn chế (Bảng 3.21, Bảng 3.22, Biểu đồ 3.7); mức độ yêu thích và hài lòng của sinh viên đã học chưa cao (Bảng 3.23).
  • Nhu cầu tập luyện thể thao của sinh viên năm nhất: Khảo sát mức độ yêu thích và xác định cơ cấu nhu cầu tập luyện các môn thể thao tự chọn theo từng trường và giới tính (Bảng 3.24, Bảng 3.25, Bảng 3.27, Biểu đồ 3.8, Biểu đồ 3.9).
  1. Lựa chọn và xây dựng chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn (Mục tiêu 2):
  • Xác lập căn cứ, mục tiêu và kết quả dự kiến đạt được của các môn thể thao tự chọn (Bảng 3.27, Bảng 3.28).
  • Thiết kế nội dung giảng dạy chi tiết cho 3 môn thể thao phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và nhu cầu sinh viên của từng trường: môn Bóng rổ cho Trường ĐH KHXH-NV (Bảng 3.29), môn Bóng chuyền cho Trường ĐH Bách Khoa (Bảng 3.30), môn Cầu lông cho Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (Bảng 3.31).
  • Xác định thời lượng, số tiết, số buổi học qua phỏng vấn (Bảng 3.32) và lập bảng phân phối thời lượng giảng dạy cho từng môn (Bảng 3.33, Bảng 3.34, Bảng 3.35).
  • Xây dựng đề cương chi tiết và tiến trình giảng dạy (tiết trình) cho môn Bóng rổ (Bảng 3.36), Bóng chuyền (Bảng 3.37) và Cầu lông (Bảng 3.38).
  • Thẩm định chương trình thông qua lấy ý kiến chuyên gia về mục tiêu (Bảng 3.39), nội dung (Bảng 3.40), cấu trúc chương trình (Bảng 3.41) và nội dung kiểm tra đánh giá (Bảng 3.42), kết quả đều đạt sự đồng thuận cao.
  1. Đánh giá hiệu quả thực nghiệm sư phạm chương trình mới (Mục tiêu 3):
  • Tổ chức thực nghiệm trên 386 sinh viên tại 3 trường (Bảng 3.43).
  • Kiểm tra trước thực nghiệm: Kết quả kiểm tra 6 chỉ tiêu thể lực và kết quả học tập cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm thực nghiệm (NV.BR, BK.BC, TN.CL) và đối chứng (NV.BĐ, BK.BĐ, TN.BĐ) không có ý nghĩa thống kê, đảm bảo tính đồng đều trước can thiệp (Bảng 3.44, Bảng 3.45, Bảng 3.46, Biểu đồ 3.10).
  • Kết quả sau thực nghiệm:
    • Về tố chất thể lực: Cả nam và nữ ở các nhóm thực nghiệm đều có sự tăng trưởng rõ rệt ở cả 6 chỉ tiêu thể lực (NNGB, BXTC, C30, C4X10, LBTT, CTS5P) so với trước thực nghiệm và đạt kết quả vượt trội so với các nhóm đối chứng (Bảng 3.47, Bảng 3.48, Bảng 3.49, Bảng 3.50, Bảng 3.51, Bảng 3.52, Bảng 3.53, Biểu đồ 3.11).
    • Về kết quả học tập GDTC: Điểm trung bình môn học và tỷ lệ xếp loại khá, giỏi của các nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (Bảng 3.54, Bảng 3.55, Bảng 3.56, Biểu đồ 3.12, Biểu đồ 3.13).
    • Về thái độ và tâm lý: Mức độ yêu thích môn học, sự hài lòng về chương trình và tính tự giác, tích cực học tập của sinh viên nhóm thực nghiệm đều tăng trưởng vượt bậc sau khi học chương trình mới (Bảng 3.57, Bảng 3.58, Bảng 3.59, Biểu đồ 3.14, Biểu đồ 3.15).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về việc xây dựng chương trình giảng dạy GDTC giờ tự chọn theo học chế tín chỉ cho khối đại học đa ngành, đa lĩnh vực.
  • Xây dựng và kiểm định thành công bộ tiêu chí đánh giá công tác GDTC giờ tự chọn với độ tin cậy thống kê chuẩn xác, tạo cơ sở phương pháp luận cho việc thẩm định và phát triển chương trình GDTC đại học.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh dữ liệu toàn diện về thực trạng điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, kết quả học tập và trình độ thể lực của sinh viên ĐHQG TP.HCM theo tiêu chuẩn của Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT.
  • Lựa chọn và thiết kế hoàn chỉnh chương trình giảng dạy 3 môn thể thao tự chọn (Bóng rổ cho ĐH KHXH-NV, Bóng chuyền cho ĐH Bách Khoa, Cầu lông cho ĐH KHTN) bao gồm mục tiêu, chuẩn đầu ra, đề cương chi tiết, tiến trình giảng dạy từng tiết học và phương pháp kiểm tra đánh giá.
  • Chứng minh tính hiệu quả của chương trình mới thông qua thực nghiệm sư phạm: sinh viên học chương trình tự chọn phù hợp có sự phát triển vượt trội về cả 6 chỉ tiêu thể lực, nâng cao kết quả học tập môn học và thể hiện thái độ tự giác, tích cực, hài lòng cao hơn so với chương trình cũ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Các trường thành viên thuộc ĐHQG TP.HCM cần áp dụng thống nhất chương trình môn thể thao tự chọn đã được xây dựng vào kế hoạch đào tạo chính khóa.
  • Chuẩn bị các điều kiện chuyên môn và chương trình môn học để phục vụ việc chuyển giao giảng dạy tập trung khi Trung tâm TDTT ĐHQG TP.HCM đi vào vận hành.
  • Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ tập luyện và định kỳ bồi dưỡng chuyên môn, phương pháp dạy học tích cực cho đội ngũ giảng viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu, thiết kế và thực nghiệm sư phạm trên 3 môn thể thao tự chọn (Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông) tại 3 trường đại học thành viên đại diện (ĐH KHXH-NV, ĐH Bách Khoa, ĐH Khoa học Tự nhiên).
  • Đề tài chưa mở rộng khảo sát thực nghiệm đối với các môn thể thao tự chọn khác (Bóng bàn, Điền kinh, Taekwondo, Thể dục nhịp điệu, Bơi lội, Cờ vua) và chưa triển khai thực nghiệm đồng loạt tại cả 6 trường thành viên của ĐHQG TP.HCM.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục nghiên cứu xây dựng và chuẩn hóa chương trình chi tiết cho các môn thể thao tự chọn còn lại theo nhu cầu của sinh viên.
  • Mở rộng phạm vi ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình thể thao tự chọn tại các trường thành viên còn lại (Trường ĐH Quốc tế, Trường ĐH Công nghệ Thông tin, Trường ĐH Kinh tế - Luật).
  • Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý, tổ chức đào tạo và phương thức đánh giá kết quả học tập môn GDTC khi sinh viên toàn ĐHQG TP.HCM học tập trung tại Trung tâm TDTT ĐHQG TP.HCM.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý đào tạo, Ban Giám hiệu các trường đại học thành viên và lãnh đạo Trung tâm TDTT ĐHQG TP.HCM: Sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học để hoàn thiện chương trình đào tạo GDTC theo tín chỉ, quy hoạch cơ sở vật chất sân bãi và bố trí đội ngũ giảng dạy.
  • Giảng viên bộ môn GDTC tại các trường đại học: Có thể sử dụng trực tiếp cấu trúc nội dung, đề cương chi tiết, bảng phân phối thời lượng và tiến trình giảng dạy từng tiết của 3 môn Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông để triển khai giảng dạy thực tế.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Giáo dục học, Lý luận và Phương pháp dạy học TDTT: Tham khảo quy trình nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát thực trạng, xử lý thống kê độ tin cậy thang đo và tổ chức thực nghiệm sư phạm đánh giá sự phát triển thể lực theo tiêu chuẩn quốc gia.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất:

  • Khung 10 nguyên tắc sư phạm và căn cứ xây dựng chương trình thể thao tự chọn.
  • Hệ thống đề cương chi tiết và tiến trình giảng dạy môn Bóng rổ, Bóng chuyền, Cầu lông (Bảng 3.36, Bảng 3.37, Bảng 3.38).
  • Phương pháp kiểm tra và đánh giá 6 chỉ tiêu thể lực sinh viên theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã lựa chọn xây dựng chương trình cho những môn thể thao tự chọn nào và áp dụng tại các trường nào?

Luận án đã lựa chọn và thiết kế chương trình chi tiết cho 3 môn thể thao tự chọn tương ứng với điều kiện và nhu cầu của 3 trường thành viên ĐHQG TP.HCM:

  • Môn Bóng rổ: Xây dựng cho sinh viên Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn.
  • Môn Bóng chuyền: Xây dựng cho sinh viên Trường ĐH Bách Khoa.
  • Môn Cầu lông: Xây dựng cho sinh viên Trường ĐH Khoa học Tự nhiên. Các môn này được đối chứng với môn Bóng đá tại từng trường trong quá trình thực nghiệm sư phạm.

2. Luận án sử dụng những chỉ tiêu kiểm tra sư phạm nào để đánh giá thể lực sinh viên?

Luận án áp dụng đầy đủ 6 chỉ tiêu kiểm tra và đánh giá thể lực sinh viên theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bao gồm:

  1. Nằm ngửa gập bụng (NNGB, lần/30s)
  2. Bật xa tại chỗ (BXTC, cm)
  3. Chạy 30m xuất phát cao (C30, s)
  4. Chạy con thoi 4x10m (C4X10, s)
  5. Lực bóp thuận tay (LBTT, kg)
  6. Chạy tùy sức 5 phút (CTS5P, m)

3. Quy mô và cơ cấu mẫu tham gia thực nghiệm sư phạm của luận án như thế nào?

Quá trình thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên tổng số 386 sinh viên thuộc 3 trường đại học thành viên ĐHQG TP.HCM, chia thành các nhóm thực nghiệm và đối chứng:

  • Tại Trường ĐH KHXH-NV (98 SV: 44 nam, 54 nữ): Nhóm thực nghiệm học Bóng rổ (NV.BR) và nhóm đối chứng học Bóng đá (NV.BĐ).
  • Tại Trường ĐH Bách Khoa (153 SV: 99 nam, 54 nữ): Nhóm thực nghiệm học Bóng chuyền (BK.BC) và nhóm đối chứng học Bóng đá (BK.BĐ).
  • Tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (135 SV: 83 nam, 52 nữ): Nhóm thực nghiệm học Cầu lông (TN.CL) và nhóm đối chứng học Bóng đá (TN.BĐ).

4. Hiệu quả của chương trình thể thao tự chọn mới được chứng minh qua những kết quả cụ thể nào?

Kết quả sau thực nghiệm sư phạm cho thấy nhóm thực nghiệm đạt sự tiến bộ vượt trội so với nhóm đối chứng trên cả 3 phương diện:

  • Thể lực: Cả sinh viên nam và nữ ở các nhóm thực nghiệm đều có sự tăng trưởng có ý nghĩa thống kê ở cả 6 chỉ tiêu thể lực (NNGB, BXTC, C30, C4X10, LBTT, CTS5P).
  • Kết quả học tập: Điểm trung bình kiểm tra môn GDTC và tỷ lệ xếp loại khá, giỏi của nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng.
  • Tâm lý học tập: Tỷ lệ sinh viên yêu thích môn học, mức độ hài lòng về chương trình và tính tự giác, tích cực tập luyện của nhóm thực nghiệm đều tăng cao rõ rệt.

5. Căn cứ nào được tác giả sử dụng để thiết kế phân phối thời lượng và nội dung giảng dạy các môn thể thao tự chọn?

Tác giả căn cứ vào: (1) Các quy định pháp lý của Bộ GD&ĐT và hướng dẫn của ĐHQG TP.HCM về khối lượng kiến thức GDTC theo tín chỉ; (2) Kết quả điều tra thực trạng cơ sở vật chất, sân bãi và năng lực đội ngũ giảng viên từng trường; (3) Kết quả khảo sát nhu cầu, sở thích của sinh viên năm nhất; (4) Kết quả phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý và giảng viên về thời lượng, số tiết, số buổi học; (5) Khung 10 nguyên tắc sư phạm về đảm bảo tính logic, lượng vận động và đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi 18-22.

Kết luận

Luận án tiến sĩ đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu đặt ra thông qua việc đánh giá khoa học thực trạng công tác giảng dạy GDTC giờ tự chọn tại các trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên cơ sở lý luận vững chắc, điều kiện thực tế về cơ sở vật chất và nhu cầu của sinh viên, tác giả đã xây dựng hoàn chỉnh chương trình chi tiết cho 3 môn thể thao tự chọn gồm Bóng rổ, Bóng chuyền và Cầu lông. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 386 sinh viên đã chứng minh tính hiệu quả của chương trình mới trong việc nâng cao rõ rệt 6 chỉ tiêu thể lực chuẩn quốc gia, cải thiện kết quả học tập và thúc đẩy tính tự giác, tích cực rèn luyện của sinh viên. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và tài liệu giảng dạy trực tiếp phục vụ định hướng chuẩn hóa, thống nhất công tác GDTC tại Trung tâm Thể dục Thể thao ĐHQG TP.HCM.