Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH THỂ THAO NGOẠI KHÓA 1. Quan điểm của Đảng và chính sách Nhà nước về công tác GDTC, thể thao trường học 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp Giáo dục thể chất là một lĩnh vực thể dục thể thao xã hội với nhiệm vụ “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống”. Đồng thời chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: “Trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh sinh viên”.
Nội dung chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp được tiến hành trong cả quá trình học tập của sinh viên trong nhà trường bằng các hình thức: học tập thể dục thể thao chính khóa và thể dục thể thao ngoại khóa. Vấn đề nêu trên đã được quy định trong các văn bản pháp qui của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực GDTC và thể thao trường học. Tại Điều 41, Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 có quy định: "Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc, khoa học và nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [42].
Trong mục 2, điều 37, Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được sửa đổi năm 2013, đã quy định: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc” [53]. Chỉ thị số 36/CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới đã nêu rõ: “Phát triển thể dục thể thao là trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và 8 tổ chức xã hội, là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong đó ngành TDTT giữ vai trò nòng cốt. Xã hội hóa tổ chức hoạt động thể dục thể thao dưới sự quản lý thống nhất của đất nước…. Qua đó đã yêu cầu Bộ GD&ĐT và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, xây dựng bộ tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo đội ngũ GV TDTT có chuyên môn cao cho các cấp học, tạo điều kiện cần thiết về CSVC để thực hiện chương trình GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, khiến cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh sinh viên, qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho tổ quốc [2].
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, năm 1960, đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm 2011 ở hầu hết các văn kiện và nghị quyết Đại hội, Trung ương đều nêu ra các quan điểm chỉ đạo công tác TDTT trong suốt nhiệm kỳ. Ngoài ra, ở một số nhiệm kỳ Ban chấp hành Trung ương Đảng còn ban hành chỉ thị, nghi ̣quyết chuyên đề về công tác TDTT [3],[4]. Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn trong công tác TDTT của thời kỳ đổi mới. Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta.
Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe tốt, thể chất cường tráng, tinh thần phấn khởi. Vận động TDTT là biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà. Đó chính là những quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT ở Việt Nam [2], [4]. Hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa thông qua Pháp lệnh thể dục, thể thao được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/9/2000 và có hiệu lực từ ngày 9/10/2000 đã tạo điều kiện để phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về thể dục, thể thao [43].
Sau nhiều sự nỗ lực chuẩn bị, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật TDTT (số 77/2006/QH11) được Quốc hội khoa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua, đánh dấu cho một sự phát triển mới của nền TDTT nước nhà. Là văn bản pháp lý quan trọng đối với công tác quản lý thể dục, thể thao trong thời kỳ đổi mới, tạo hành lang pháp lý cho thể dục, thể thao Việt Nam phát triển đúng định hướng: “vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trong luật TDTT có mục 2 với 06 điều quy định rất rõ về công tác GDTC và thể thao trong nhà trường. Đây là căn cứ, là cơ sở pháp lý để đẩy mạnh phát triển 9 công tác TDTT nói chung & công tác TDTT trong nhà trường nói riêng [58].
Theo điều 20, mục 2 của Luật này quy định thì GDTC và thể thao trong nhà trường bao gồm 2 nội dung chính: 1. GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, hay còn gọi là Thể dục thể thao nội khóa. Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao, còn được gọi là TDTT ngoại khóa [58]. Thực hiện chủ trương xã hội hoá các lĩnh vực hoạt động xã hội theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VIII.
Với quan điểm phát triển TDTT là sự nghiệp của toàn dân, ngày 18 tháng 4 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ- CP về việc đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực GD và TDTT về chính sách XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, văn hóa, thể thao nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để mọi ngành nghề tham gia đẩy mạnh công tác XHH phát triển TDTT, làm cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội nâng cao nhận thức, đổi mới quan điểm và tích cực đóng góp đưa ra các biện pháp thực hiện XHH, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tầng lớp nhận dân có thể tham gia các hoạt động và đầu tư các nguồn lực để phát triển công tác GDTC, cũng như đẩy mạnh thể thao thành tích cao và hội nhập quốc tế [59]. Ngày 31/01/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2015/NĐ-CP, quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường, điều 2 nêu rõ: “Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập TDTT để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” và “Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục thể chất thông qua các 10 hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao” [50]. Ngày 11 tháng 11 năm 2013, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số 2160/QĐ-TTg về việc phê duyệt “quy hoạch phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” đã có mục riêng để nhấn mạnh tầm quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học.
Đến năm 2020, thể dục, thể thao cơ bản được phát triển đồng đều giữa các đối tượng, rộng khắp giữa các vùng, miền, các địa phương trong cả nước, góp phần nâng cao sức khỏe và tuổi thọ của người Việt Nam, vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh. Thành tích ở một số môn thể thao có thế mạnh của Việt Nam đạt trình độ của châu lục và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có nền thể dục, thể thao phát triển ở châu lục. Chiến lược đã nêu rõ các chỉ tiêu phát triển thể dục, thể thao trường học: - Tỷ lệ học sinh, sinh viên thực hiện chương trình giáo dục thể chất chính khóa đạt 100% từ năm 2015 trở đi đối với tất cả các cấp học, bậc học.
- Tỷ lệ học sinh tham gia tập luyện thể dục, thể thao ngoại khóa thường xuyên ở các cấp học: Tiểu học: Đạt 45% vào năm 2015, đạt 60% vào năm 2020 và đạt trên 70% vào năm 2030. Trung học cơ sở: Đạt 50% vào năm 2015, đạt 70% vào năm 2020 và đạt trên 85% vào năm 2030. Trung học phổ thông: Đạt 75% vào năm 2015, đạt 80% vào năm 2020 và đạt trên 90% vào năm 2030. - Tỷ lệ học sinh đạt tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại thể lực học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tiểu học và trung học cơ sở: Đạt 85% vào năm 2015, đạt 90% vào năm 2020 và đạt 95% vào năm 2030.
Trung học phổ thông: Đạt 85% vào năm 2015, đạt 90% vào năm 2020 và đạt trên 95% vào năm 2030.