Mở đầu: nêu rõ tính thiết yếu và mục đích nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra cũng nói thêm về đối tượng, phạm vi cũng như phương pháp nghiên cứu. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan: nói rõ về lý thuyết chuỗi giá trị của M. Porter và chuỗi giá trị toàn cầu của Kaplinsky và Morris.
Từ lý thuyết đó nêu rõ ra các lợi ích và vai trò của chuỗi giá trị trong định hướng phát triển của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị chiếu sáng trên thế giới và Việt Nam: Từ những nghiên cứu và những công bố đã có trên thế giới về chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp chiếu sáng trên thế giới và xây dựng được theo những kiến thức về ngành công nghiệp chiếu sáng ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Xác định rõ phương pháp nghiên cứu là từ các nghiên cứu có sẵn từ trước và phỏng vấn chuyên gia tại công ty Điện Quang để xác định được chuỗi giá trị của công ty Điện Quang và từ định hướng phát triển của Điện Quang sẽ bổ sung và điều chỉnh chuỗi giá trị đó nâng cấp chuỗi. Xây dựng và phân tích chuỗi giá trị chiếu sáng của Điện Quang và các thảo luận.
Áp dụng các yếu tố cơ bản để phân tích và xây dựng nên chuỗi giá trị của công ty Điện Quang. Từ những định hướng phát triển và đầu tư của công ty, tác giả sẽ nêu ra các yếu tố cơ bản để phát triển và nâng cấp chuỗi giá trị này. Kết luận và kiến nghị. Phụ lục 1: Dàn ý phỏng vấn chuyên gia Phụ lục 2: Ghi chép tóm tắt nội dung phỏng vấn 5 CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Khái niệm nghiên cứu Khái niệm “chuỗi giá trị” đã được Micheal Porter khởi xướng từ 1985 trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh” của mình. Theo ông, “chuỗi giá trị là một tập hợp các hoạt động để đưa một sản phẩm khái niệm đến khi đưa nó vào sử dụng và cả sau đó. Chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau khi bán có người tiêu dùng cuối. Những hoạt động này có thể được thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc được phân phối giữa các doanh nghiệp khác nhau” (trang 36).
Kaplinsky và Morris trong cuốn “A handbook of Value Chain Research” lại mở rộng ở phạm vi của chuỗi giá trị. Theo các tác giả này, “chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động bao gồm sản phẩm từ khi mới chỉ là ý tưởng, qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, phân phối đến người tiêu dùng và cuối cùng là vứt bỏ sau khi sử dụng” (trang 4). Chuỗi giá trị này có thể được thực hiện trong phạm vi một khu vực địa lý hoặc trãi rộng ra trong phạm vi nhiều quốc gia, nhiều vùng lãnh thổ, khi đó nó trở thành chuỗi giá trị toàn cầu.2 Các lý thuyết về chuỗi giá trị a. Lý thuyết Chuỗi giá trị theo quan điểm của Michael Porter Theo M.
Porter thì “mỗi doanh nghiệp là một tập hợp của các hoạt động để thiết kế, sản xuất, bán hàng, phân phối và hỗ trợ sản phẩm của họ. Tất cả các hoạt động này có thể được thể hiện trong một chuỗi giá trị như Hình 2.1 Chuỗi giá trị tổng quát của M. Porter (1985) Trong đó, những hoạt động cơ bản bao gồm: – Hậu cần đầu vào: hoạt động tiếp nhận, quản lý dự trữ các nguyên vật liệu và phân phối những nguyên vật liệu này đến những nơi trong doanh nghiệp theo yêu cầu của kế hoạch sản xuất. – Vận hành: quá trình chuyển đổi những đầu vào thành sản phẩm và dịch vụ cuối cùng.
– Hậu cần đầu ra: việc quản lý dự trữ và phân phối sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp. – Marketing và bán hàng: xác định nhu cầu của khách hàng và bán hàng. – Dịch vụ: hoạt động hỗ trợ sau khi sản phẩm và dịch vụ đã được chuyển cho khách hàng như là lắp đặt, hậu mãi, giải quyết khiếu nại, đào tạo, … Những hoạt động hỗ trợ bao gồm: – Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp: bao gồm những yếu tố như là cơ cấu tổ chức, hệ thống kiểm soát, văn hóa công ty, … – Quản lý nguồn nhân lực: tuyển dụng lao động, thuê lao động, đào tạo, phát triển và thù lao lao động. – Phát triển công nghệ: các công nghệ hỗ trợ cho các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng.
– Thu mua: mua các yếu tố đầu vào như là nguyên vật liệu, công nghệ, thiết bị, và các dịch vụ đầu vào khác… 7 Trong các hoạt động trên thì chuỗi hoạt động từ logistics đầu vào, vận hành, logistics đầu ra, marketing và bán hàng, dịch vụ là những hoạt động sơ cấp của doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc tạo ra sản phẩm, bán và chuyển giao cho khách hàng cũng như những công tác hỗ trợ sau bán hàng. Mặc dù các doanh nghiệp trong cùng ngành có thể có những chuỗi giá trị tương đương nhau nhưng các đối thủ cạnh tranh thường có những chuỗi giá trị khác nhau. Ví dụ, Điện Quang và Rạng Đông là hai đối thủ cùng cạnh tranh trong ngành chiếu sáng nhưng có thể có những chuỗi giá trị hoàn toàn khác nhau: chính sách bán hàng, chính sách cho đại lý các cấp v. Những khác biệt trong chuỗi giá trị của các đối thủ là nguồn gốc cơ bản của lợi thế cạnh tranh.
Chuỗi giá trị của doanh nghiệp trong ngành sẽ phần này thay đổi để tạo ra những khác biệt trong dòng sản phẩm, hoặc những người mua khác nhau, những khu vực địa lý khác, những kênh phân phối khác. Chuỗi giá trị tại những tập hợp cơn này của doanh nghiệp được liên kết chặt chẽ với nhau. Để phục vụ cho các hoạt động sơ cấp của doanh nghiệp có các hoạt động hỗ trợ để có thể tạo ra giá trị lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong vấn đề cạnh tranh, giá trị là mức tiền mà người mua sẵn lòng thanh toán cho những sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp.
Giá trị được đo lường bằng tổng doanh thu, phản ánh sự điều tiết giá cả của sản phẩm và số lượng đơn vị sản phẩm có thể bán ra của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có lời nếu giá trị mà họ điều tiết vượt quá các chi phí liên quan đến việc tạo ra sản phẩm. Tạo ra các giá trị cho người mua với chi phí thấp hơn giá trị là mục tiêu của mọi chiến lược tổng quát. Giá trị chứ không phải là chi phí, phải được sử dụng để phân tích vj thế cạnh tranh bởi vì doanh nghiệp thường chủ động nâng cao chi phí để áp đặt mức giá thông qua khác biệt hóa.
Chuỗi giá trị thể hiện tổng giá trị, bao gồm các hoạt động giá trị và lợi nhuận. Hoạt động giá trị là những hoạt động đặc trưng về phương diện vật lý và công nghệ của doanh nghiệp. Đây là những bộ phân cấu thành để tạo ra các sản phẩm có giá trị cho người mua. Lợi nhuận là sự chênh lệch giữa tổng giá trị và tập hợp các chi phí cho việc thực hiện các hoạt động giá trị.
Lợi nhuận có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau. Chuỗi giá trị của nhà cung cấp và kênh phân phối cũng bao gồm lợi nhuận, điều này quan trọng trong việc phân biệt rõ những nguồn gốc tình trạnh chi phí của doanh nghiệp. Lý do vì lợi nhuận của nhà cung cấp và kênh phân phối là một phần trong tổng thể chi phí mà người mua phải gánh chịu. 8 Mỗi hoạt động giá trị đều có thu mua đầu vào, nhân lực và một hình thái công nghệ nào đó để thực hiện chức năng của nó.
Mỗi hoạt động giá trị cũng sử dụng và tạo ra thông tin, chẳng hạn như dữ liệu sản xuất, dữ liệu khách hàng, thông số hoạt động của dây chuyền sản xuất, của sản phẩm… Trên phương diện tài chính, hoạt động giá trị cũng có thể tạo ra những tài sản (tồn kho, các khoảng phải thu) và nguồn vốn (các khoảng phải trả). Các hoạt động giá trị là những khối riêng biệt của lợi thế cạnh tranh. Phương thức tiến hành mỗi hoạt động này và sự liên hệ đến tính kinh tế của chúng sẽ xác định doanh nghiệp có chi phí tương đối cao hay thấp so với các đối thủ cạnh tranh. Mỗi hoạt động này được thực hiện như thế nào cũng quyết định sự đóng góp của nó đến nhu cầu của người mua và đi kèm là sự khác biệt hóa.
So sánh chuỗi giá trị của các đổi thủ cạnh tranh sẽ có thấy sự khác biệt quyết định lợi thế cạnh tranh. Lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu của Kaplinsky và Morris Nếu như khái niệm chuỗi giá trị của Micheal Porter đề cập đến ở trên chỉ tập trung nghiên cứu ở trong phạm vi của doanh nghiệp, thì Kaplinsky và Morris trong cuốn “A handbook of Value Chain Research” lại mở rộng ở phạm vi của chuỗi giá trị. Theo các tác giả này: “Chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động bao gồm sản phẩm từ khi mới chỉ là ý tưởng, qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, phân phối đến người tiêu dùng và cuối cùng là vứt bỏ sau khi sử dụng” (Kaplinsky và Morris, 2001, trang 4) Sản xuất: - Hậu cần đầu vào Thiết kế và - Đổi dạng Tiêu dùng/Tái phát triển sản Marketing - Đầu vào chế phẩm - Đóng gói - v. Sản xuất: - Hậu cần đầu vào - Đổi dạng Tiêu dùng/Tái Thiết kế Marketing - Đầu vào chế - Đóng gói - v.2 Các mối quan hệ trong một chuỗi giá trị đơn giản - Nguồn: Kaplinsky và Morris (2001) 9 Hai tác giả này có đưa ra hai khái niệm về chuỗi giá trị: chuỗi giá trị đơn giản và chuỗi giá trị mở rộng.
Theo họ thì chuỗi giá trị đơn giản (được minh họa trong hình 2.2) bao gồm bốn hoạt động cơ bản trong một vòng đời sản phẩm là thiết kế và phát triển sản phẩm, sản xuất, marketing và cuối cùng là tiêu thụ và tái chế. Quan niệm về chuỗi giá trị này được áp dụng để phân tích toàn cầu hóa, cụ thể là nó được sử dụng để tìm hiểu cách thức mà các công ty và các quốc gia hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu. Kaplinsky và Morris cho rằng phân tích về chuỗi giá trị cho thấy giữa các hoạt động có liên quan đến vòng đời của sản phẩm có mối liên hệ với nhau một cách chặt chẽ. Những hoạt động này không chỉ được thiết lập theo một chiều dọc mà còn tác động qua lại lẫn nhau.