Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Xây dựng chế định pháp luật về công ty hợp vốn cổ phần ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Lâm thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Châu và TS. Hoàng Anh Tuấn. Luận án thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, mã số đào tạo 938 01 01.05.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc "công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm". Các đạo luật kinh doanh, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014, đã thể chế hóa chủ trương này thông qua việc ghi nhận các hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến như công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và từ hai thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Tuy nhiên, việc pháp luật thực định chỉ quy định giới hạn một số loại hình doanh nghiệp nhất định đã làm thu hẹp không gian tự do lựa chọn của nhà đầu tư, chưa phản ánh đầy đủ sự đa dạng của các cấu trúc liên kết kinh doanh vốn đã phát triển lâu đời trên thế giới và từng hiện diện trong lịch sử lập pháp của Việt Nam. Cụ thể, loại hình công ty hợp vốn cổ phần (CTHVCP) – một mô hình liên kết hỗn hợp kết hợp giữa công ty hợp vốn đơn giản và công ty cổ phần – hiện vẫn chưa được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp. Mô hình này sở hữu đặc tính cho phép phát hành cổ phần để huy động vốn rộng rãi từ công chúng (như công ty cổ phần), đồng thời duy trì tính ổn định trong quản trị và điều hành nhờ chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các cổ đông nhận vốn (như công ty hợp danh). Ngoài ra, mô hình này tương thích với văn hóa kinh doanh coi trọng quan hệ gia đình, dòng họ và sự quen biết của thương nhân Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: Các công trình khoa học trong và ngoài nước trước đây phần lớn chỉ dừng lại ở việc khảo lược sơ lược các quy định lập pháp của một số quốc gia châu Âu hoặc nhắc lại các dấu ấn trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có bất kỳ công trình cấp tiến sĩ nào trong nước phân tích toàn diện, có hệ thống các nền tảng lý luận, thực tiễn và thiết kế cấu trúc chi tiết cho chế định CTHVCP nhằm đề xuất bổ sung vào hệ thống pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đề xuất, kiến nghị xây dựng mô hình chế định và các nội dung quy phạm cụ thể điều chỉnh loại hình CTHVCP trong Luật Doanh nghiệp hiện hành, dựa trên cơ sở phân tích lý luận, nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới.
Để hiện thực hóa mục tiêu nêu trên, tác giả xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thu thập, phân loại, đánh giá các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài để chỉ rõ các khoảng trống tri thức cần tiếp tục làm sáng tỏ.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công ty, sự hình thành các mô hình công ty, bản chất pháp lý và các đặc tính ưu việt của CTHVCP so với các loại hình tổ chức kinh doanh khác.
- Khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và đánh giá các quy định điều chỉnh CTHVCP trong lịch sử pháp luật Việt Nam nhằm rút ra các bài học lập pháp phù hợp.
- Xác lập và luận giải các tiêu chí khoa học đánh giá sự cần thiết cùng các tác động kinh tế – xã hội dự kiến khi bổ sung chế định CTHVCP vào Luật Doanh nghiệp.
- Thiết kế các nội dung quy phạm cụ thể của chế định CTHVCP để bổ sung vào Luật Doanh nghiệp, đồng thời kiến nghị phương án sửa đổi, bổ sung các đạo luật chuyên ngành có liên quan.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cùng các giả thuyết tương ứng:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Những vấn đề lý luận về sự hình thành công ty và các loại hình công ty là gì?
- Giả thuyết nghiên cứu 1: Nền tảng cho sự ra đời và hình thành các loại hình công ty khác nhau dựa trên quyền tự do ý chí và quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư. Nhà đầu tư có quyền tự do lựa chọn hoặc sáng tạo ra các mô hình doanh nghiệp mới, song nội dung quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp trước nay chưa được các nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu thỏa đáng.
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Khái niệm, đặc điểm pháp lý và các ưu điểm của công ty hợp vốn cổ phần như thế nào?
- Giả thuyết nghiên cứu 2: Do chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về CTHVCP nên các đặc trưng pháp lý cùng tính ưu việt của loại hình này so với các doanh nghiệp khác chưa được làm rõ trong khoa học pháp lý Việt Nam.
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Sự cần thiết và những vấn đề đặt ra của việc bổ sung loại hình công ty hợp vốn cổ phần vào pháp luật hiện hành ở Việt Nam là gì?
- Giả thuyết nghiên cứu 3: Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa phản ánh đúng bản chất của sự hình thành các loại hình doanh nghiệp và chưa đáp ứng định hướng mở rộng quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư; các nền tảng lý luận và thực tiễn của CTHVCP chưa được đánh giá đầy đủ.
- Câu hỏi nghiên cứu 4: Đề xuất và xây dựng những nội dung cơ bản nào về công ty hợp vốn cổ phần trong pháp luật Việt Nam?
- Giả thuyết nghiên cứu 4: Hiện chưa có những đề xuất, giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ để kiến tạo các quy phạm điều chỉnh CTHVCP trong Luật Doanh nghiệp và điều chỉnh các đạo luật liên quan.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý điều chỉnh CTHVCP; các học thuyết về tự do ý chí, tự do kinh doanh, bản chất công ty; các quy định pháp luật thực định của một số quốc gia và của Việt Nam về CTHVCP; các vướng mắc thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật.
- Phạm vi không gian: Khảo sát hệ thống pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu có quy định về loại hình CTHVCP như CHLB Đức, Pháp, Italia, Luxembourg, Ba Lan, Tây Ban Nha, Bulgaria... và thực tiễn pháp lý tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Xem xét lịch sử lập pháp từ thời kỳ cổ điển đến hiện đại, bao gồm các văn bản pháp luật thời kỳ Pháp thuộc (Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Thương mại Trung kỳ 1942), Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972 và hệ thống pháp luật thực định Việt Nam tính đến thời điểm năm 2019 (trọng tâm là Luật Doanh nghiệp 2014 và các luật liên quan).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các nhóm nghiên cứu trước được luận án điểm luận
Tác giả đã tổng hợp và phân loại tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế thành bốn nhóm chủ đề chính:
-
Nhóm nghiên cứu về các vấn đề lý luận của công ty và loại hình công ty:
- Về quyền tự do kinh doanh và quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức: Tác giả Ngô Huy Cương (2009) nghiên cứu sâu sắc về tự do ý chí và tự do khế ước; tác giả Bùi Ngọc Cường (2001, 2004) phân tích cấu trúc quyền tự do kinh doanh gồm quyền tự do lập doanh nghiệp, chọn ngành nghề, chọn mô hình tổ chức; tác giả Bùi Xuân Hải (2001, 2016) chỉ rõ giới hạn của tự do kinh doanh vì lợi ích công cộng và yêu cầu pháp luật phải vừa thiết kế, vừa công nhận các mô hình kinh doanh từ thực tiễn; tác giả Mai Hồng Quỳ (2012) nhấn mạnh tính khuôn khổ của pháp luật đối với tự do kinh doanh; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI (2002) phân tích vai trò định hướng xã hội của luật kinh tế; các chuyên gia Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM gồm Nguyễn Văn Giàu, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Đình Cung (2006, 2016) so sánh pháp luật về chủ thể kinh doanh với quy chế thể nhân; tác giả Nguyễn Như Phát (2016) đề nghị bảo hộ rộng rãi các hình thức pháp lý kinh doanh; tác giả Phan Thị Thanh Thủy (2015) phân tích sự chi phối của loại hình doanh nghiệp đối với quản trị nội bộ; tác giả Nguyễn Thị Thu Vân (2008) và Lê Thị Kim Thanh (2008) luận giải sự đa dạng mô hình nhằm bảo vệ vốn và hiện thực hóa quyền lập hội kinh doanh; Dự án VIE/94/003 (1998) đề xuất sớm đưa các mô hình công ty phổ biến vào luật Việt Nam.
- Về bản chất pháp lý của công ty và các thuộc tính cấu trúc: Các học giả quốc tế như Rahul Kumar Singh (2016) xem xét bản chất công ty từ góc độ hợp đồng góp vốn; M. Vermeulen (2003) phân tích học thuyết pháp nhân và học thuyết hợp đồng tại Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Hà Lan; Andreas Cahn và David C. Donald (2010), John Armour, Henry Hansmann, Reinier Kraakman (2009) chỉ ra năm đặc điểm cấu trúc cốt lõi của công ty (tư cách pháp nhân, trách nhiệm hữu hạn, cổ phần tự do chuyển nhượng, quản lý tập trung và sở hữu của nhà đầu tư); Robert Hamilton và Richard D. phân tích các yếu tố rủi ro và quản trị; ở trong nước, tác giả Ngô Huy Cương (2003, 2004) khẳng định bản chất hợp đồng của điều lệ thành lập công ty; tác giả Nguyễn Mạnh Bách (2006) phân tích điều lệ theo quy chế khế ước; tác giả Phạm Duy Nghĩa (2004, 2006, 2011) phân chia hệ thống công ty thành công ty đối nhân và công ty đối vốn, đồng thời phân tích chế độ trách nhiệm tài sản và cơ chế phá hạn trách nhiệm; tác giả Ngô Huy Cương và Phạm Vũ Thăng Long (2001) chỉ ra di chứng của kinh tế kế hoạch hóa khi luật chỉ cho phép những gì được liệt kê; tác giả Nguyễn Ngọc Bích (1999, 2009), Trương Nhật Quang (2016), Nguyễn Viết Tý (2015) và Bùi Ngọc Cường (2010) phân tích các khía cạnh vốn, điều hành và tranh chấp thực tiễn.
- Các công trình luận án chuyên khảo: Trần Ngọc Liêm (2002) về hoàn thiện pháp luật công ty thời kỳ Luật Doanh nghiệp 1999; Nguyễn Thị Huế (2012) về công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản; Ngô Viễn Phú (2005) về so sánh quản trị công ty cổ phần giữa Việt Nam và Trung Quốc; Nguyễn Vinh Hưng (2014) chỉ rõ bất cập khi đồng nhất công ty hợp danh với công ty hợp vốn đơn giản trong Luật Doanh nghiệp Việt Nam.
-
Nhóm nghiên cứu về lý luận của công ty hợp vốn cổ phần:
- Frank Wooldridge (2010) khảo cứu lịch sử mô hình Kommanditgesellschaft auf Aktien (KGaA) tại Đức theo Bộ luật Thương mại 1861 và Luật Công ty Cổ phần (Aktiengesetz); cuốn "Nguyên lý và thực hành luật thương mại, luật kinh doanh" (1993) phân tích cấu trúc thành viên hai tầng tại Pháp; Dieter Beinert, Frank Burmeister, Herman-Josef Tries (2009), Marco Ardizzoni (2005) và Wojciech Stiller (2014) định danh KGaA là mô hình lai ghép đặc thù giữa công ty hợp danh và công ty cổ phần, rất phổ biến cho các doanh nghiệp gia đình quy mô lớn; Martin Schulz và Oliver Wasmeier (2012) đánh giá ưu thế tài chính và quản trị của KGaA; Frank Dornseifer (2005) phân tích CTHVCP trong không gian pháp luật các nước Liên minh châu Âu (EU); Rolandino Guidotti (2013) phân tích mô hình Società in accomandita per azioni tại Italia.
- Tại Việt Nam: Sách "Luật thương mại diễn giải" của Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân (1972) làm rõ mô hình "hội hợp tư cổ phần" theo luật Pháp năm 1867 và quy định tại miền Nam trước năm 1975; tác giả Ngô Huy Cương (2003) chứng minh CTHVCP là dạng kết hợp tối ưu giữa CTHVĐG và CTCP; tác giả Bùi Ngọc Sơn (2011) dịch thuật ngữ thành "công ty cổ phần giao vốn"; tác giả Lê Minh Phiếu (2006) lý giải thời kỳ hưng thịnh của CTHVCP tại Pháp (1807–1905) và mối liên hệ với mô hình Limited Partnership của Mỹ; tác giả Trần Quỳnh Anh (2012) khảo cứu CTHD cổ phần theo Luật Công ty cổ phần của CHLB Đức (từ Điều 278 đến Điều 290).
-
Nhóm nghiên cứu về quy định pháp luật điều chỉnh công ty hợp vốn cổ phần:
- Andreas Cahn và David C. Donald (2010) so sánh cấu trúc hai nhóm thành viên tại Đức và Italia; Grigor Grigorov (2011) phân tích quy định CTHVCP (KDA) theo luật Bulgaria với quy định tối thiểu hai thành viên vô hạn và ba cổ đông hữu hạn; tác giả Nguyễn Hợp Toàn (2005) phân định vị trí pháp lý giữa thành viên nhận vốn và thành viên xuất vốn; Michael Oltmanns (1998) nghiên cứu mô hình tại Bỉ; Wojciech Stiller (2014) phân tích các xung đột phân loại thuế đối với thực thể hỗn hợp CTHVCP.
-
Nhóm nghiên cứu về nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với CTHVCP:
- Các nghiên cứu xác nhận CTHVCP tạo ra điểm hẹn pháp lý giữa người có ý tưởng, năng lực quản trị (thành viên nhận vốn) và người có vốn nhàn rỗi (cổ đông góp vốn), bảo đảm sự an toàn trước các cuộc thâu tóm thù địch nhờ quyền kiểm soát tối thượng của thành viên hợp danh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Từ tổng quan tài liệu, luận án xác định các khoảng trống học thuật cần giải quyết:
- Về lý luận: Các công trình chưa phân tích thấu đáo quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp dưới góc độ quyền con người, quyền của cá nhân/nhà đầu tư gắn với nguyên lý quyền tự định đoạt của luật tư; chưa giải quyết triệt để vấn đề giới hạn can thiệp của Nhà nước đối với việc sáng tạo các hình thức liên kết kinh doanh mới.
- Về thực tiễn và lập pháp: Chưa có công trình nào thiết kế một mô hình lập pháp hoàn chỉnh về chế định CTHVCP trong Luật Doanh nghiệp Việt Nam; thiếu các đề xuất giải pháp đồng bộ xử lý mối liên hệ giữa chế định này với các văn bản luật chuyên ngành như Luật Phá sản, Luật Chứng khoán và Luật Kế toán.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các học thuyết nền tảng
Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Về mặt lý thuyết chuyên ngành luật học, tác giả xây dựng khung phân tích dựa trên ba học thuyết pháp lý trụ cột:
- Học thuyết về quyền tự do kinh doanh: Bắt nguồn từ thuyết pháp luật tự nhiên, coi quyền tự do kinh doanh là quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm của con người. Nhà nước có chức năng tôn trọng, bảo đảm và dự liệu khung khổ pháp lý cho việc thực thi quyền này, bao gồm cả quyền tự do lựa chọn và sáng tạo mô hình doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu kinh doanh của nhà đầu tư.
- Học thuyết pháp nhân: Phân tích tư cách độc lập của thực thể công ty trong quan hệ với chủ sở hữu. Luận án xem xét các nhánh học thuyết khác nhau trong lịch sử luật học, bao gồm:
- Học thuyết hư cấu pháp lý (học thuyết cổ điển): Xem pháp nhân là một sản phẩm do ý chí của nhà lập pháp tạo ra thông qua kỹ thuật pháp lý nhằm tách biệt khối tài sản và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba.
- Học thuyết phủ nhận pháp nhân: Quan niệm rằng suy cho cùng chỉ có thể nhân mới là chủ thể hưởng lợi ích và chịu trách nhiệm; khái niệm pháp nhân chỉ là công thức giản tiện che đậy hành vi cộng đồng của nhóm thể nhân. Việc tiếp thu học thuyết pháp nhân giúp lý giải cơ chế độc lập tài sản và năng lực chịu trách nhiệm của công ty trong nền kinh tế.
- Học thuyết công ty là một hợp đồng: Xuất phát từ nguyên lý tự do khế ước, coi công ty là kết quả của sự thống nhất ý chí giữa các sáng lập viên. Thỏa thuận điều lệ xác lập quyền và nghĩa vụ ràng buộc giữa các thành viên, giữa thành viên với công ty và đối kháng với bên thứ ba. Đây là cơ sở khoa học để lập luận rằng pháp luật cần công nhận các dạng liên kết mới do các nhà đầu tư tự do thỏa thuận.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp tiếp cận định tính đặc thù của khoa học luật học:
- Phương pháp hệ thống hóa và phân tích: Được sử dụng xuyên suốt bốn chương, đặc biệt tại Chương 1 và Chương 2 nhằm phân loại tài liệu khoa học, phân tích cấu trúc quy phạm pháp luật và làm rõ các khái niệm, thuộc tính pháp lý của công ty.
- Phương pháp luận giải: Dùng để lập luận, chứng minh tính tất yếu khách quan, tính hợp lý của việc tiếp nhận loại hình CTHVCP vào pháp luật thực định Việt Nam tại Chương 3 và Chương 4.
- Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3 để so sánh các quy định về CTHVCP trong pháp luật Đức, Pháp, Italia, Bulgaria... và đối chiếu với các quy định trong lịch sử pháp luật Việt Nam (thời kỳ Pháp thuộc và chế độ Sài Gòn cũ), từ đó tìm ra sự tương đồng, dị biệt và rút ra các giá trị tham khảo.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu của luận án là dữ liệu văn bản pháp lý và tài liệu khoa học:
- Các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ: Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp (1999, 2005, 2014), Luật Đầu tư 2014, Luật Phá sản, Luật Chứng khoán, Luật Kế toán.
- Các văn bản pháp luật cổ và lịch sử: Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Thương mại Trung kỳ 1942, Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972.
- Các đạo luật nước ngoài: Luật Công ty cổ phần của CHLB Đức (Aktiengesetz – quy định về KGaA), Bộ luật Thương mại Pháp (quy định về Société en commandite par actions), Bộ luật Dân sự Italia (Società in accomandita per azioni), Luật Thương mại Bulgaria (KDA)...
- Các giáo trình, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ và bài báo khoa học được công bố trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo bốn nhóm chủ đề lớn. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các kết quả đã đạt được, tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận khoa học mà luận án kế thừa: nền tảng quyền tự do kinh doanh; lý luận về bản chất liên kết của công ty dựa trên vốn, quản lý và trách nhiệm; và sự tồn tại khách quan của loại hình CTHVCP trong pháp luật quốc tế.
Đồng thời, chương này xác định rõ các khoảng trống lý luận và thực tiễn mà các nghiên cứu trước chưa giải quyết: chưa phân tích thấu đáo quyền lựa chọn mô hình tổ chức dưới góc độ quyền tự do của nhà đầu tư theo luật tư, và chưa xây dựng được mô hình quy phạm cụ thể về CTHVCP tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập khung lý thuyết gồm 4 câu hỏi nghiên cứu, 4 giả thuyết khoa học và 3 học thuyết nền tảng (học thuyết quyền tự do kinh doanh, học thuyết pháp nhân, học thuyết công ty là hợp đồng).
Chương 2. Những vấn đề lý luận về công ty hợp vốn cổ phần
Chương 2 tập trung luận giải các vấn đề lý luận nền tảng về công ty và phân tích toàn diện các đặc trưng pháp lý của CTHVCP.
Tác giả phân tích khái niệm và bản chất pháp lý của công ty, chứng minh rằng sự hình thành các mô hình công ty luôn xoay quanh sự biến đổi của ba yếu tố: cơ sở vật chất (vốn), phương thức quản lý điều hành và chế độ gánh vác trách nhiệm tài sản. Luận án chỉ ra sự chuyển dịch trong tư duy pháp lý từ quan niệm truyền thống (coi công ty bắt buộc phải là sự liên kết từ hai chủ thể trở lên) sang việc thừa nhận công ty một chủ sở hữu (hành vi pháp lý đơn phương) trong pháp luật hiện đại của Đức, Pháp và Luật Doanh nghiệp Việt Nam.
Đối với CTHVCP, tác giả làm rõ đây là mô hình công ty lai ghép (hybrid), phản ánh sự kết hợp các đặc tính của công ty hợp vốn đơn giản (CTHVĐG) và công ty cổ phần (CTCP). Luận án tổng hợp bảng đối sánh các thuộc tính pháp lý cốt lõi của CTHVCP với các loại hình tổ chức kinh doanh khác:
| Tiêu chí so sánh |
Công ty hợp vốn cổ phần (CTHVCP) |
Công ty hợp danh (CTHD) |
Công ty hợp vốn đơn giản (CTHVĐG) |
Công ty cổ phần (CTCP) |
| Tư cách pháp nhân |
Có tư cách pháp nhân độc lập |
Có tư cách pháp nhân |
Có tư cách pháp nhân (tùy thuộc luật từng nước) |
Có tư cách pháp nhân độc lập |
| Cấu trúc thành viên |
Hai nhóm: Cổ đông nhận vốn và Cổ đông góp vốn |
Tối thiểu hai thành viên hợp danh (có thể có thành viên góp vốn) |
Hai nhóm: Thành viên nhận vốn và Thành viên góp vốn |
Tối thiểu ba cổ đông, không phân chia tầng trách nhiệm vô hạn |
| Trách nhiệm tài sản |
Cổ đông nhận vốn: vô hạn và liên đới; Cổ đông góp vốn: hữu hạn trong phạm vi cổ phần |
Thành viên hợp danh: vô hạn và liên đới; Thành viên góp vốn: hữu hạn |
Thành viên nhận vốn: vô hạn và liên đới; Thành viên góp vốn: hữu hạn |
Tất cả cổ đông đều chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi cổ phần sở hữu |
| Huy động vốn qua cổ phần |
Được quyền phát hành cổ phần và niêm yết chứng khoán |
Không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào |
Không được chia vốn thành cổ phần, không phát hành chứng khoán |
Được quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán |
| Tự do chuyển nhượng vốn |
Cổ phần của cổ đông góp vốn tự do chuyển nhượng; phần vốn nhận vốn hạn chế nghiêm ngặt |
Chuyển nhượng phần vốn góp bị hạn chế nghiêm ngặt bởi sự chấp thuận của các thành viên khác |
Thành viên nhận vốn hạn chế; thành viên góp vốn chuyển nhượng theo quy định điều lệ |
Cổ phần tự do chuyển nhượng (trừ hạn chế với cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu) |
| Quyền quản lý, điều hành |
Dành riêng cho các cổ đông nhận vốn; cổ đông góp vốn không được trực tiếp điều hành |
Thuộc về tất cả các thành viên hợp danh |
Dành riêng cho thành viên nhận vốn; thành viên góp vốn bị cấm điều hành |
Thuộc về Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc |
Phân tích lịch sử lập pháp quốc tế cho thấy CTHVCP đã được ghi nhận trong Bộ luật Thương mại Đức năm 1861, Luật Công ty đại chúng năm 1937, 1965 (hiện quy định tại LCTCP Đức từ Điều 278 đến Điều 290) và Bộ luật Thương mại Pháp từ năm 1807, 1867. Tại Việt Nam, mô hình này từng tồn tại dưới tên gọi "hội hợp cổ" trong Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Thương mại Trung kỳ 1942 và "hội hợp tư cổ phần" trong Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972. Việc thiếu vắng chế định này trong Luật Doanh nghiệp hiện hành là một bước lùi về mặt kỹ thuật lập pháp khi không kế thừa các giá trị lịch sử.
Chương 3. Nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong việc điều chỉnh pháp luật đối với loại hình công ty hợp vốn cổ phần ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 3 luận giải sự cần thiết và các điều kiện kinh tế – xã hội của việc bổ sung CTHVCP vào pháp luật Việt Nam. Tính cần thiết xuất phát từ:
- Yêu cầu tôn trọng bản chất của công ty như một hành vi khế ước tự do của các nhà đầu tư.
- Bản chất vận động của kinh tế thị trường đòi hỏi sự đa dạng hóa các công cụ đầu tư.
- Sự tương thích với truyền thống tổ chức kinh doanh gia đình của người Việt: cho phép các thành viên gia tộc (cổ đông nhận vốn) nắm giữ quyền điều hành tuyệt đối và lâu dài, trong khi vẫn huy động được nguồn vốn nhàn rỗi lớn của xã hội thông qua phát hành cổ phần mà không sợ bị thâu tóm, thôn tính doanh nghiệp từ bên ngoài.
- Đảm bảo quyền tự do kinh doanh và quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức của nhà đầu tư.
- Yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và tiếp thu kinh nghiệm lập pháp nước ngoài.
Trên cơ sở đó, tác giả phác thảo các nội dung cơ bản của chế định CTHVCP dự kiến đưa vào luật:
- Khái niệm và tên gọi: Xác định CTHVCP là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó phải có ít nhất một cổ đông nhận vốn (chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình) và các cổ đông góp vốn (sở hữu cổ phần, chịu trách nhiệm hữu hạn).
- Thủ tục thành lập, vốn điều lệ và cổ phần: Vốn điều lệ được chia thành các cổ phần bằng nhau; công ty được phát hành cổ phiếu ra công chúng theo pháp luật chứng khoán.
- Quyền và nghĩa vụ của các nhóm thành viên: Cổ đông nhận vốn có tư cách thương nhân, có quyền quản lý, điều hành và đại diện công ty trước pháp luật; cổ đông góp vốn có quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông, biểu quyết một số vấn đề giới hạn, nhận cổ tức và tự do chuyển nhượng cổ phần nhưng tuyệt đối không được tham gia quản lý điều hành danh nghĩa công ty.
- Cơ cấu quản trị: Mô hình gồm Đại hội đồng cổ đông, người điều hành (các cổ đông nhận vốn) và Ban Kiểm soát (do các cổ đông góp vốn bầu ra để giám sát cổ đông nhận vốn).
- Chuyển đổi, giải thể và phá sản: Quy định trình tự chuyển đổi sang CTCP hoặc CTTNHH; cơ chế xử lý tài sản khi phá sản gắn liền với trách nhiệm tài sản vô hạn của cổ đông nhận vốn.
Chương này cũng phân tích hai mặt tác động: Tác động tích cực (thúc đẩy huy động vốn, bảo vệ doanh nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp gia đình) và tác động tiêu cực tiềm ẩn (nguy cơ xung đột lợi ích giữa hai nhóm cổ đông, tính phức tạp trong tổ chức quản trị) để từ đó đề xuất cơ chế kiểm soát rủi ro bằng pháp luật.
Chương 4. Định hướng và giải pháp xây dựng nội dung chế định pháp luật về công ty hợp vốn cổ phần ở Việt Nam
Chương 4 đưa ra hệ thống quan điểm chỉ đạo và các giải pháp lập pháp cụ thể:
- Năm định hướng lớn: Đảm bảo và mở rộng quyền tự do kinh doanh của công dân; tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho sự ra đời của CTHVCP; hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế; bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và hiệu quả của pháp luật doanh nghiệp.
- Giải pháp lập pháp trực tiếp trong Luật Doanh nghiệp:
- Thiết kế bổ sung một chương hoặc một mục riêng biệt quy định về CTHVCP trong Luật Doanh nghiệp hiện hành (tương tự như cách tiếp cận của Luật Công ty cổ phần CHLB Đức).
- Sửa đổi các điều khoản chung của Luật Doanh nghiệp 2014 về phân loại doanh nghiệp, đăng ký doanh nghiệp, tên doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật và quyền phát hành chứng khoán để bao hàm CTHVCP.
- Ban hành hoặc sửa đổi các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh và cơ chế quản trị đối với CTHVCP.
- Giải pháp hoàn thiện các luật chuyên ngành liên quan:
- Sửa đổi Luật Phá sản: Bổ sung quy định về thứ tự thanh toán nợ, cơ chế xử lý tài sản cá nhân của cổ đông nhận vốn khi CTHVCP bị tuyên bố phá sản, bảo đảm trách nhiệm liên đới vô hạn tương tự thành viên hợp danh.
- Sửa đổi Luật Chứng khoán: Ghi nhận quyền phát hành cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và niêm yết chứng khoán của CTHVCP; quy định rõ bản cáo bạch và nghĩa vụ công bố thông tin đặc thù đối với rủi ro gắn liền với tư cách nhân thân của cổ đông nhận vốn.
- Sửa đổi Luật Kế toán: Hướng dẫn chuẩn mực hạch toán tài chính, phân định rõ tài sản riêng của cổ đông nhận vốn và tài sản độc lập của công ty, phương thức phân chia lợi nhuận và chịu lỗ tương ứng với tính chất lai ghép của thực thể.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học tại Việt Nam nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về loại hình CTHVCP. Bốn đóng góp mới cốt lõi được tác giả tự xác lập bao gồm:
- Về mặt lý luận: Luận án nhận diện đầy đủ bản chất pháp lý, đặc điểm cấu trúc và luận giải sâu sắc tính ưu việt của mô hình CTHVCP trong việc kết hợp ưu thế huy động vốn rộng rãi của công ty cổ phần với sự ổn định quản trị của công ty đối nhân.
- Về mặt thực tiễn chính sách: Công trình là nghiên cứu đầu tiên phân tích và luận giải một cách toàn diện sự cần thiết khách quan phải điều chỉnh pháp luật đối với CTHVCP trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Về mặt kỹ thuật lập pháp: Luận án đã thiết kế một khung chế định hoàn chỉnh về CTHVCP với các nội dung quy phạm chi tiết (thành lập, vốn, địa vị pháp lý cổ đông, quản trị nội bộ, đại diện, chuyển đổi, giải thể, phá sản) có giá trị tham khảo lập pháp trực tiếp cho việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp.
- Về tính đồng bộ của hệ thống pháp luật: Luận án đề xuất một hệ thống giải pháp lập pháp toàn diện, không chỉ dừng lại ở Luật Doanh nghiệp mà còn kiến nghị sửa đổi, bổ sung đồng bộ các văn bản luật chuyên ngành gồm Luật Phá sản, Luật Chứng khoán và Luật Kế toán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do loại hình CTHVCP chưa được ghi nhận trong luật thực định Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu, luận án chủ yếu tiếp cận theo phương pháp luật học thuần túy (phân tích quy phạm, so sánh pháp luật và nghiên cứu lịch sử). Luận án chưa thể thực hiện các phân tích thực chứng định lượng hoặc khảo sát dữ liệu kinh tế học về nhu cầu chuyển đổi thực tế của các doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh sang mô hình này tại Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục nghiên cứu sâu về cơ chế kiểm soát giao dịch tư lợi và giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhận vốn (nắm toàn quyền điều hành) và Đại hội đồng cổ đông (những người nắm phần lớn vốn góp).
- Nghiên cứu chế độ thuế đặc thù áp dụng cho CTHVCP (như kinh nghiệm của Đức và Ba Lan trong nghiên cứu của Wojciech Stiller) nhằm tránh hiện tượng đánh thuế trùng hoặc lạm dụng ưu đãi thuế giữa thể nhân và pháp nhân.
- Theo dõi quá trình lập pháp thực tiễn khi Quốc hội sửa đổi Luật Doanh nghiệp để đánh giá mức độ tiếp thu mô hình CTHVCP.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tài liệu khoa học hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban soạn thảo các dự án luật sửa đổi Luật Doanh nghiệp có thể sử dụng các nội dung tại Chương 3 và Chương 4 như một bản thiết kế chính sách hoàn chỉnh để cân nhắc bổ sung CTHVCP vào hệ thống doanh nghiệp Việt Nam.
- Cơ quan nghiên cứu và đào tạo luật học: Các viện nghiên cứu, trường đại học đào tạo luật kinh tế có thể khai thác Chương 1 và Chương 2 làm tài liệu tham khảo chuyên khảo trong giảng dạy học phần Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại so sánh và lý luận về pháp nhân.
- Giới luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý và nhà đầu tư: Cung cấp hiểu biết nền tảng về cấu trúc công ty lai ghép, giúp định hình các giải pháp liên kết đầu tư cho các mô hình công ty gia đình muốn huy động vốn đại chúng nhưng vẫn giữ vững quyền kiểm soát.
Câu hỏi thường gặp
1. Bản chất lai ghép (hybrid) của công ty hợp vốn cổ phần được thể hiện qua các yếu tố nào theo luận án?
Theo luận án, bản chất lai ghép của CTHVCP được thể hiện qua sự dung hợp giữa công ty hợp danh (đối nhân) và công ty cổ phần (đối vốn). Cụ thể, công ty có hai loại thành viên: Cổ đông nhận vốn chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới bằng toàn bộ tài sản cá nhân, giữ quyền điều hành và đại diện duy nhất (đặc tính đối nhân); trong khi cổ đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn mua cổ phần, không được tham gia quản lý nhưng có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần và công ty được quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn (đặc tính đối vốn).
2. Sự khác biệt cốt lõi về địa vị pháp lý giữa cổ đông nhận vốn và cổ đông góp vốn là gì?
Cổ đông nhận vốn có tư cách thương nhân, chịu trách nhiệm tài sản vô hạn đối với các khoản nợ của công ty, là người trực tiếp và duy nhất có quyền quản lý, điều hành và đại diện cho công ty trước pháp luật; phần vốn của họ không chia thành cổ phần tự do chuyển nhượng. Ngược lại, cổ đông góp vốn không có tư cách thương nhân, chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số cổ phần nắm giữ, không có quyền quản lý công ty, nhưng được tự do chuyển nhượng cổ phần và được bầu Ban Kiểm soát để giám sát hoạt động của các cổ đông nhận vốn.
3. Trong lịch sử pháp luật Việt Nam, loại hình công ty hợp vốn cổ phần từng được ghi nhận dưới các tên gọi nào?
Loại hình này đã được ghi nhận trong Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Bộ luật Thương mại Trung kỳ 1942 dưới tên gọi "hội hợp cổ" (thuộc nhóm hội hợp vốn). Đến thời kỳ Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972, mô hình này tiếp tục được ghi nhận và điều chỉnh chi tiết dưới tên gọi "hội hợp tư cổ phần" (được xem là hình thức trung gian giữa hội hợp tư đơn giản và công ty vô danh).
4. Vì sao tác giả luận án khẳng định mô hình CTHVCP phù hợp với tâm lý kinh doanh của người Việt Nam?
Tác giả lý giải rằng truyền thống kinh doanh của người Việt mang nặng tính gia đình, họ hàng thân tộc, ưu tiên sự tin cậy cá nhân và mong muốn giữ quyền kiểm soát cơ sở kinh doanh qua nhiều thế hệ. CTHVCP đáp ứng trọn vẹn tâm lý này vì cho phép các thành viên sáng lập trong gia tộc (đóng vai trò cổ đông nhận vốn) nắm giữ quyền kiểm soát và điều hành tuyệt đối, loại trừ hoàn toàn nguy cơ bị các nhà đầu tư bên ngoài thâu tóm thù địch thông qua việc mua gom cổ phần, trong khi vẫn mở rộng được kênh huy động vốn lớn từ công chúng thông qua phát hành cổ phần.
5. Khi bổ sung chế định CTHVCP vào Luật Doanh nghiệp, cần sửa đổi đồng bộ những luật chuyên ngành nào?
Luận án kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung đồng bộ ba đạo luật chuyên ngành:
- Luật Phá sản: Quy định cơ chế xử lý tài sản cá nhân và trách nhiệm liên đới vô hạn của cổ đông nhận vốn khi giải quyết phá sản công ty.
- Luật Chứng khoán: Quy định điều kiện chào bán cổ phần, niêm yết và nghĩa vụ công bố thông tin đặc thù của CTHVCP.
- Luật Kế toán: Quy định chuẩn mực kế toán tài chính phân tách giữa tài sản doanh nghiệp và tài sản cá nhân của cổ đông nhận vốn, cùng phương thức hạch toán phân chia lợi nhuận, chịu lỗ đặc thù.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Lâm đã giải quyết một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về loại hình công ty hợp vốn cổ phần, khẳng định sự cần thiết khách quan của việc ghi nhận mô hình này trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Thông qua việc phân tích kinh nghiệm lập pháp quốc tế và lịch sử pháp luật dân tộc, công trình đã xây dựng thành công khung chế định hoàn chỉnh về CTHVCP nhằm đề xuất bổ sung vào Luật Doanh nghiệp hiện hành. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần mở rộng quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư mà còn cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác lập pháp và đào tạo luật kinh tế tại Việt Nam.