Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quá trình đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về những vấn đề lý luận và thực tiễn của loại hình CTHVCP, được tác giả thực hiện thông qua sự phân chia thành nhóm các công trình trong và ngoài nước theo chủ đề như sau: Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận của công ty và các loại hình công ty; Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề lý luận của CTHVCP; Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về quy định pháp luật điều chỉnh CTHVCP; Thứ tư, nhóm các công trình nghiên cứu về nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với CTHVCP. Cụ thể, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được lược khảo, đánh giá sau đây: 1.
Nhóm các công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận của công ty và loại hình công ty Có thể nhận thấy rằng, sự ra đời và phát triển của công ty và các loại hình công ty gắn liền với tự do ý chí và tự do kinh doanh của công dân. Theo đó, công ty được hình thành trên cơ sở hành vi pháp lý của các sáng lập viên nhằm tạo lập lên một chủ thể có tư cách độc lập để tham gia vào hoạt động kinh doanh. Đến nay đã có nhiều công trình trong và ngoài nước đã nghiên cứu về những vấn đề lý luận của công ty và các loại hình công ty. Cụ thể các công trình nghiên cứu được khảo lược dưới đây: ❖ Các công trình nghiên cứu về nền tảng của sự ra đời và phát triển các loại hình công ty.
Nền tảng của sự hình thành và phát triển của các loại hình doanh nghiệp là việc thực hiện các quyền tự do kinh doanh, tự do ý chí của nhà đầu tư. Trong đó, quyền tự do kinh doanh về cơ bản được cụ thể hóa qua một số quyền như: quyền tự do thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề kinh doanh, quyền tiếp cận thị trường, quyền bình đẳng, tự do cạnh tranh lành mạnh, quyền được đảm bảo sở hữu tài sản của doanh nghiệp. Đến nay, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có rất nhiều các nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn, cũng như nội dung quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư. Các công trình nghiên cứu này góp phần làm cơ sở kiến nghị với các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm luật hướng đến việc đảm bảo và mở rộng nội dung của quyền tự do kinh doanh và cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam.
Có thể kể đến một số các công trình tiêu biểu như: Trong phạm vi nghiên cứu về tự do ý chí, tác giả Ngô Huy Cương (2009) [31], cho rằng: “Bản chất sự thật của tự do là sự lựa chọn. Đối với tự nhiên, con người có quyền lựa chọn những đối tượng mà mình thủ đắc bởi họ là chủ thể của thế giới” (trang 13). Đề tài là một công trình nghiên cứu sâu sắc về các vấn đề pháp lý của tự do ý chí và sự tiếp nhận tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu đã đưa ra những vấn đề lý luận, phân tích trên cơ sở các tư tưởng, quan điểm trong nước và ngoài nước về tự do ý chí.
Từ đó, đánh giá thực trạng, tồn tại của pháp luật trong việc đảm bảo quyền tự do ý chí của công dân. Trong tự do ý chí, theo nguyên tắc tự do khế ước, các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền tự do thoả thuận tạo ra các hình thức kinh doanh (trong đó bao hàm quyền tự do sáng tạo ra các tổ chức kinh doanh). Vì thế, các vấn đề lý luận của công ty luôn gắn bó chặt chẽ với quyền tự do kinh doanh. Luận án này sẽ kế thừa những phân tích, luận giải về sự hình thành công ty và các loại hình công ty trên cơ sở thực hiện tự do ý chí của nhà đầu tư.
Trong luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Ngọc Cường (2001) [21] và được xuất bản thành sách chuyên khảo năm 2004, với tiêu đề là “Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Việt Nam hiện hành [23], tác giả đã đưa ra và phân tích những vấn đề cơ bản, cốt lõi về quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam, bao gồm hệ thống các quyền gắn liền với các chủ thể kinh doanh. Cụ thể như: (i) Quyền được bảo đảm sở hữu đối với tài sản; (ii) Quyền tự do thành lập doanh nghiệp (bao gồm quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh, lựa chọn mô hình doanh nghiệp); (iii) Quyền tự do hợp đồng; (iv) Quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật; (v) Quyền tự định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp (trang 23). Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn của quyền tự do kinh doanh.
Luận án sẽ kế thừa những nội dung về cơ sở lý luận của quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, luận án sẽ tiếp tục phát triển quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp trong phạm vi của quyền tự do kinh doanh là tiền đề cho sự ra đời và phát triển các loại hình công ty. Cũng trong nội dung nghiên cứu của mình, tác giả Bùi Xuân Hải (2001) [37] cho rằng quyền tự do kinh doanh của một chủ thể luôn bị giới hạn bởi quyền tự do kinh doanh và lợi ích chính đáng của các chủ thể khác trong xã hội. Vì thế, pháp luật của các nước trên thế giới đều lấy tiêu chí đầu tiên là phải bảo vệ giá trị cốt lõi, bảo vệ trật tự công cộng và lợi ích chính đáng của nhà nước, tổ chức và cá nhân khác, việc giới hạn quyền tự do kinh doanh bằng các quy định của pháp luật hiện hành.
Tuy vậy, công trình chưa đưa ra được lý giải ở khía cạnh pháp luật quy định hạn chế các loại hình doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư. Đồng quan điểm quyền tự do kinh doanh phải được giới hạn bởi pháp luật, tác giả Mai Hồng Quỳ (2012) [79] cho rằng trong nền kinh tế thị trường, để thực hiện các hoạt động kinh doanh, công dân phải thành lập các cơ sở kinh doanh theo những mô hình nhất định theo quy định của pháp luật. Tự do kinh doanh trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Nghiên cứu ở khía cạnh vai trò của pháp luật đối với quyền tự do kinh doanh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2002) [62] đưa ra nhận định rằng: Quyền tự do kinh doanh được xem là chỉ số cốt lõi, yếu tố quyết định cả về nội dung và phương pháp điều chỉnh của hệ thống pháp luật về kinh tế trong một nền kinh tế thị trường.
Theo nghĩa này, hệ thống pháp luật trong nền kinh tế thị trường đóng vai trò như là khuôn khổ để quyền tự do kinh doanh được cụ thể hóa, được bảo vệ và được giới hạn trong những trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, phù hợp với các lợi ích công cộng và giảm thiểu ảnh hưởng tới các quyền tự do kinh doanh của các chủ thể khác. Bởi, “mục đích của pháp luật, suy cho cùng là định hướng sự phát triển của xã hội” [80, 2006]. Trong nội dung của quyền tự do kinh doanh, thì quyền lựa chọn loại hình 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp là một quyền cơ bản của các nhà đầu tư. Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đến nay vẫn có những quan điểm khác nhau về việc pháp luật nên giới hạn hay thừa nhận đa dạng các loại hình doanh nghiệp để các nhà đầu tư có thể tự do lựa chọn loại hình phù hợp và đảm bảo tốt nhất quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp.
Vì thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền tự do lựa chọn các loại hình doanh nghiệp của công dân, cụ thể như: Nhận định về ý nghĩa của pháp luật điều chỉnh về các chủ thể kinh doanh, các tác giả Nguyễn Văn Giàu, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Đình Cung (CIEM) (2016) [46] cho rằng pháp luật về các chủ thể kinh doanh có vị trí quan trọng giống như các quy định pháp luật về thể nhân trong pháp luật dân sự. Vì thế, hầu hết các hệ thống pháp luật đều dự liệu và ghi nhận đa dạng các loại hình doanh nghiệp. Các hình thức doanh nghiệp được thiết lập phù hợp với nhu cầu, tạo điều kiện và khuyến khích nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư kinh doanh, qua đó, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Tuy vậy, công trình chưa nghiên cứu một cách bao quát, chi tiết, so sánh giữa các hệ thống pháp luật về các loại hình doanh nghiệp.
Đây là công trình tham khảo có ý nghĩa khi tìm hiểu, so sánh pháp luật về các loại hình doanh nghiệp trong pháp luật một số nước trên thế giới được trình bày trong các nội dung của luận án. Trong nội dung nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Như Phát (2016) [60] cho rằng: Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những đặc điểm kinh tế, pháp lý và rủi ro kinh doanh không giống nhau, có khi đối lập nhau. Vì vậy, nhằm phản ánh nhu cầu của thực tiễn của bài toán kinh doanh, pháp luật doanh nghiệp cần thừa nhận và bảo hộ rộng rãi hơn nữa một số hình thức pháp lý kinh doanh. Tác giả tập trung nghiên cứu các nội dung của quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Việt Nam được cụ thể hóa quy định trong Hiến pháp một cách thấu đáo để thấy rằng vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền lựa chọn các loại hình doanh nghiệp của nhà đầu tư.
Tác giả Phan Thị Thanh Thủy (2015) [85] đưa ra nhận định về vai trò của hình thức doanh nghiệp từ khía cạnh nhà đầu tư khi lựa chọn hình thức doanh nghiệp để thành lập bởi có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc bên trong, chế độ quản trị và giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp. Lựa chọn một hình thức tổ chức cho phù hợp với mục đích và 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.