ĐẠI HOC QUỐC GIA TP.HO CHÍ MINH VIEN MOI TRUONG VA TAI NGUYEN VUONG THI MAI THI LUAN AN TIEN Si KY THUAT TP.Hồ Chi Minh, năm 2024 VUONG THI MAI THI XÂY DUNG BO CHỈ THỊ VA CHÍ SO ĐÁNH GIA MUC DO PHAT THAI CAC-BON CHO KHU CONG NGHIEP - AP DUNG THU NGHIEM TAI KHU CONG NGHIEP TRANG BANG TINH TAY NINH Chuyên ngành: Quan lý Tai nguyên và Môi Trường Mã số chuyên ngành: 62.01 Phản biện độc lập 01: PGS.TS VÕ LÊ PHÚ. Phản biện độc lập 02: PGS.TS PHÙNG CHÍ SỸ Phản biện 01: PGS.TS LÊ THỊ KIM OANH Phản biện 02: PGS.TS HO QUOC BẰNG Phản biện 03: PGS.TS ĐỖ THỊ THU HUYEN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. ĐINH XUÂN THẮNG TP.Hồ Chí Minh, năm 2024 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Xây dựng Bộ chỉ thị và chỉ số đánh giá mức độ phát thai các- bon cho Khu công nghiệp - Ap dung thứ nghiệm tai Khu công nghiệp Trang Bang tỉnh Tây Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, được phân tích theo các phương pháp có cơ sở khoa học và độ tin cậy cao.
Tat cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ. Kết quả nghiên cứu của luận án đã được công bố theo đúng quy định trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín. Nghiên cứu sinh Vương Thị Mai Thị il LOI CAM ON Trong quá trình hoc tập nghiên cứu tai Viện Môi trường và Tài nguyên - ĐHQG TP.Hồ Chi Minh, đến nay tác giả đã hoàn thành Luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Quan lý Tài nguyên & Môi trường. Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Môi trường và Tài nguyên, Phòng Đạo tạo Sau đại học, Phòng Quản lý Tài nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện Luận án.
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh Xuân Thắng đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý kiến chỉnh sữa trong suốt quá trình thực hiện dé hoàn thiện Luận án. Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Ban quản lý Khu kinh tế Tây Ninh, Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Tây Ninh đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn các anh chị, đồng nghiệp công tác tại Ban quản lý Khu kinh tế Tây Ninh, Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Tây Ninh, Công ty PTHT KCN Tây Ninh và các doanh nghiệp đang hoạt động trong KCN Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh đã tạo điều kiện cung cấp thông tin số liệu, báo cáo cho tôi trong quá trình thực hiện Luận án. Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến cha mẹ, anh chị trong gia đình, bạn bè, đặc biệt là người chồng đã ủng hộ, động viên, chia sẽ công việc trong thời gian qua.
Nghiên cứu sinh Vuong Thị Mai Thi ili TOM TAT Trong những năm qua, tốc độ phat triển kinh tế ở Việt Nam ngày càng gia tăng, đã góp phan làm cho GDP theo bình quân đầu người tăng lên đáng kể. Dé đạt được kết qua đó, có thé ké đến vai trò và những đóng góp của các khu công nghiệp đã thu hút nhiều nguồn von đầu tư cũng như tạo việc làm cho một lượng lớn lao động. Tính đến tháng 12/2020, cả nước đã thành lập khoảng 369 KCN với tông diện tích đất khoảng 113.300 ha, trong đó có 284 KCN đi vào hoạt động [7],[17]. Hoạt động kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các KCN có chiều hướng chuyền biến tích cực, số lượng các KCN được đầu tư lắp đặt hê thống xử lý nước thải gia tăng hằng năm, có 90,69% KCN đang hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung.
Tuy nhiên, vấn đề về kiểm soát ô nhiễm về khí thải, đặc biệt là phát thải các-bon trong KCN chưa được quan tâm giải quyết, đây là van đề thách thức lớn đối với công tác kiểm soát nguồn thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đên biên đôi khí hậu. Bộ chỉ thị và chỉ số đánh giá mức độ phát thải các-bon cho KCN là tập hợp các thông số cơ bản phản ánh các yếu tố đặc trưng về phát thải các-bon phục vụ mục đích đánh giá, theo dõi diễn biến phát thải các-bon trong KCN, được xây dựng dựa trên khung lý thuyết về xây dung chi số tổng hợp. Luận án xây dung phương pháp luận dé xác định bộ chỉ thị và chỉ số đánh giá mức độ phát thải các-bon cho KCN dựa trên cơ sở kế thừa, bổ sung và hoàn thiện các hướng dẫn về phương pháp phân tích đa tiêu chi đã có và kết hợp tình hình thực tế các hoạt động phát thải các-bon tại KCN, luận án đề xuất quy trình xây dựng bộ chỉ thị đánh giá mức độ phát thải các-bon cho KCN với 04 bước. Luận án đã sử dụng Khung cấu trúc nhân quả DPSIR làm cơ sở đề xuất danh sách chỉ thị giúp cho việc đánh giá được tông thé, toàn điện nhờ vào tính khái quát các phần khác nhau trong chuỗi nguyên nhân, tác động và đáp ứng.
Luận án đã xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân kết quả, nguyên nhân gây ra phát thải các-bon từ quá trình phát triển KCN, tác động của chúng và các biện pháp giảm thiểu cần thiết. Bộ chỉ thị sơ bộ đánh gia phat thải các-bon cho KCN bao gom 26 thong sé 1V thuộc 05 chỉ thị chính: động lực, áp lực, hiện trạng, tác động và đáp ứng. Trong đó, chỉ thị động lực (D) thể hiện việc sử dụng đất và tiêu thụ năng lượng do hoạt động sản xuất của KCN gia tăng, chỉ thị áp lực (P) được thể hiện qua việc phát thải các-bon gia tăng. Nhóm chỉ thị hiện trạng (S) được thê hiện qua khía cạnh về cường độ phát thải các-bon gia tăng.
Nhóm chỉ thi tác động (I) được thé hiện qua các khía cạnh về tác động của phát thải các-bon đến hoạt động sản xuất gia tăng theo tốc độ phát triển KCN. Nhóm chỉ thị đáp ứng (R) được thé hiện qua các khía cạnh về các biện pháp giảm thiểu phát thải các- bon Từ các thông số sơ bộ đã đưa ra, bằng phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia và sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP, tác giả đã sàng lọc loại bỏ những chỉ thị không phù hợp. Tác giả đã đưa ra một Bộ chỉ thị đánh giá mức độ phát thải các-bon cho KCN bao gồm 18 thông số tương ứng với từng trọng số của từng thông số. Mỗi thông số đánh giá mức độ phát thải các-bon cho KCN có cách tính toán, đơn vị tính và ý nghĩa phản ánh mức độ, chiều hướng khác nhau.
Giá trị của các chỉ thị cần được chuẩn hóa dé đưa về một miễn giá trị nhất định. Tác giả lựa chọn phương pháp chuẩn hóa min — max dé chuyên đôi bộ dữ liệu về miền giá trị chung. Luận án lựa chọn phương pháp trung bình cộng có trọng số để tổng hợp chỉ số và được phân chia thành 5 mức độ: phát thải các-bon rất cao, phát thải các-bon cao, phát thải các-bon trung bình, phát thải các-bon thấp và phát thải các-bon rất thấp. Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả khái quát các quá trình nghiên cứu thành quy trình đánh giá áp dụng cho Khu công nghiệp có điều kiện tương tự với KCN Trảng Bàng bao gồm: đánh giá phát thải các-bon trong Khu công nghiệp thông qua việc kiểm kê phát thải các-bon cho KCN thực hiện theo 2 bước và đánh giá mức độ phát thải các- bon thông qua bộ chỉ thị và chỉ số đánh giá mức độ phát thải các-bon cho KCN bao gồm 5 nhóm chỉ thị và 18 thông số đánh giá, thực hiện theo 4 bước.
Đồng thời, tác giả đã đề xuất bộ chỉ thị đánh giá KCN theo hướng giảm phát thải các-bon gồm 18 thông số, trong đó khuyến nghị 13 thông số đạt giá trị thấp thuộc các thông số áp lực về sử dụng năng lượng cũng như hiện trạng phát thải các-bon và tác động của chúng do gia tăng phát thải các-bon, 01 thông số đạt giá trị cao thuộc thông số đánh giá hiệu quả sử dụng đất, 04 thông số đạt mức giá trị phù hợp theo mức quy định chính sách của Việt Nam thuộc các thông số giảm thiểu phát thải các-bon. Việc xây dựng Bộ chỉ thị và chỉ số đánh giá mức độ phát thai các-bon cho KCN được thực hiện trên cơ sở kế thừa, bỗ sung và hoàn thiện các bước thực hiện đơn giản, hiệu quả và có tính khoa học cao. Bộ chỉ thị sẽ là công cụ hỗ trợ các KCN phát hiện những mặt còn yếu kém trong việc giảm phát thải các-bon, trên cơ sở phát hiện các chỉ thị còn yếu, dé có biện pháp khắc phục, củng cố nâng cao năng lực giảm phát thải các- bon phù hợp với điều kiện của từng KCN. VI ABSTRACT In recent decades, Vietnam has experienced a noteworthy increase in its economic development rate, leading to a substantial rise in its GDP per capita.
The role and contributions of industrial parks (IPs), which can be regarded as a vehicle for achieving these economic outcomes, have attracted significant investment capital and created employment opportunities for the workforce. As of December 2020, Vietnam has established approximately 369 IPs with a total land area of around 113,300 hectares, of which 284 IPs are currently operational [7], [17]. The efforts to manage and mitigate environmental pollution within IPs have shown a positive trend. The number of IPs that have invested in installing wastewater treatment systems has been increasing annually, with 90.69% of operating IPs now equipped with collective wastewater treatment facilities.
However, the issue of air pollution control, particularly the management of carbon emissions within IPs, has not received commensurate attention. This represents a significant challenge in the comprehensive control of waste sources that contribute to environmental pollution and affect climate change. The set of indicators and indices that evaluate the level of carbon emissions for IPs is a set of basic parameters reflecting typical elements of carbon emissions to meet the purpose of assessing and monitoring the development of carbon emissions in IPs, built based on the theoretical framework of building a composite index. The thesis developed a methodology to determine a set of indicators and indices to evaluate carbon emissions for IPs based on inheriting, supplementing and completing instructions on the existing multi-criteria analysis methods and combining the actual situation of carbon emission activities in IPs, the thesis proposed a process to developa set of indicators to assess the level of carbon emissions for IPs with 04 steps.