Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Lý thuyết của hệ thống Lý thuyết hệ thống đƣợc đề xƣớng năm 1940 bởi nhà sinh vật học Ludwig Von Bertalanffy (Tên gọi: Lý thuyết chung của các hệ thống- Genneral Systems Theory). Từ lĩnh vực sinh học các nguyên tắc của lý thuyết này đƣợc chuyển sang việc giải quyết những vấn đề kỹ thuật và quản lý.
Lý thuyết hệ thống là một lý thuyết thuộc dạng những quan điểm khoa học chung mang tính hình thức và phổ quát, đã thúc đẩy mong muốn của cộng đồng khoa học muốn tiến tới phổ quát hoá các công cụ nhận thức khoa học. Một trong những nhiệm vụ chính của tiếp cận này là làm rõ và phân tích các quy luật, các khái niệm chung của hệ thống đối với lĩnh vực khác nhau của hiện thực. Do vậy cách tiếp cận hệ thống mang tính chất liên ngành, bởi vì nó tạo ra cơ hội đem những quy luật và những khái niệm từ một lĩnh vực nhận thức này sang một lĩnh vực khác. Lý thuyết hệ thống nghiên cứu và giải quyết các vấn đề theo quan điểm toàn thể.
Quan điểm toàn thể là quan điểm nghiên cứu của lý thuyết hệ thống bao gồm 4 điểm sau: - Khi nghiên cứu các sự vật và hiện tƣợng phải tôn trọng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và tinh thần: vật chất có trƣớc, tinh thần tác động trở lại vật chất. - Các sự vật, hiện tƣợng luôn tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, luôn có sự tác động qua lại và chi phối lẫn nhau. Sự tác động giữa các sự vật bao giờ cũng mang tính đối ngẫu, tính nhân quả. - Các sự vật luôn vận động, không ngừng biến đổi cùng với sự thay đổi môi trƣờng xung quanh nó.
11 z - Động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của các hệ thống nằm bên trong hệ thống, do phần điều khiển của sự vật quyết định. Để vận dụng một cách có hiệu quả “Lý thuyết của hệ thống” trong các lĩnh vực hoạt động của cuộc sống, cần hiểu rõ khái niệm hệ thống và những khái niệm, vấn đề liên quan để từ đó có những cách tiếp cận hợp lý. Tuy nhiên trong giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ giới thiệu một số khái niệm cơ bản nhất liên quan đến đề tài nghiên cứu. Hệ thống “Hệ thống” là khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết hệ thống, nó đƣợc hình thành và phát triển trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử triết học.
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm hệ thống. Bertalanffy, hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tƣơng tác giữa các tổ phần tạo nên nó. Theo Miller: Hệ thống là tập hợp các yếu tố cùng với những mối quan hệ tƣơng tác giữa chúng với nhau. Theo Hoàng Tụy, hệ thống tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ và tƣơng tác với nhau và với môi trƣờng xung quanh một cách phức tạp.
Theo Đào Thế Tuấn, hệ thống là các tập hợp có trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các yếu tố có liên hệ với nhau (hay tác động lẫn nhau). Theo Trần Đình Long, hệ thống là một tập hợp có tổ chức các phần tử với những mối liên hệ về cấu trúc và chức năng xác định nhằm thực hiện những mục tiêu cho trƣớc. Theo Từ điển tiếng Việt, hệ thống là tập hợp các yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất. Theo quan điểm triết học, hệ thống đƣợc hiểu là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể.
Trong đó mối quan 12 z hệ qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tƣợng trở thành một chỉnh thể trọn vẹn: và đến lƣợt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, các yếu tố cấu trúc tạo nên những thuộc tính mới (các thuộc tính này không có khi các yếu tố cấu trúc đứng riêng lẻ ). Tác động biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc tạo động lực cho sự vận động và phát triển của hệ thống. Trên thực tế mọi sự vật – hiện tƣợng đều tồn tại trong những hệ thống nhất định, có nghĩa là các hệ thống tồn tại khách quan. Tuy nhiên, việc định nghĩa khái niệm hệ thống lại mang tính chủ quan tuỳ thuộc từng cách tiếp cận, điều đó giải thích tại sao có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hệ thống.P Cuzơmin trong cuốn “nguyên lý hệ thống trong lý luận và phƣơng pháp luận của C.Mác” đã nhận xét: “dù cho khái niệm hệ thống đƣợc xác định theo nhiều cách khác nhau, thì ngƣời ta vẫn thƣờng hiểu rằng, hệ thống là một tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể, có những thuộc tính và quy luật tích hợp” Nhƣ vậy có thể định nghĩa một cách khái quát nhƣ sau : Hệ thống là tập hợp các phần tử có mối quan hệ (hoặc liên hệ) với nhau, tương tác với nhau và với môi trường theo những quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể, làm xuất hiện những thuộc tính mới của hệ thống (những thuộc tính này không thể có ở từng yếu tố riêng lẻ), đảm bảo thực hiện những chức năng nhất định.
Những tính chất cơ bản của hệ thống. Các phần tử trong hệ thống đều liên hệ với nhau tạo nên những tính chất cơ bản của hệ thống, đó là: - Tính ổn định tương đối: Cơ cấu của hệ thống có tính ổn định tƣơng đối trong một thời điểm xác định. Trong một phạm vi nhất định, tính ổn định này sẽ tạo ra một trật tự bên trong của các phần tử, điều đó làm cho cơ cấu đƣợc coi nhƣ một tổ chức, một trật tự của các phần tử – một chỉnh thể thống nhất tạo ra “thế năng của hệ thống”. 13 z - Tính cân bằng động: Sự tác động của các phần tử tạo ra sự cân bằng của hệ thống.
Nhƣng cơ cấu của hệ thống luôn luôn biến đổi, tạo ra “ Động năng” của hệ thống, bắt đầu từ sự thay đổi của các quan hệ giữa các phần tử, các bộ phận, các phân hệ trong khuôn khổ của cơ cấu cũ; đến một mức độ nào đó sẽ làm cho cơ cấu thay đổi, nó chuyển sang một trạng thái khác về chất hoặc trở thành một cơ cấu khác. Sự kết hợp giữa tính ổn định tƣơng đối và tính cân bằng động trong hệ thống đã đảm bảo cho hệ thống không ngừng vận động phát triển theo xu thế tối ƣu hoá, hợp lý hoá các mối quan hệ trong một tổng thể chung. - Tính đa dạng: Một hệ thống thực tế có rất nhiều cơ cấu khác nhau, tuỳ theo từng dấu hiệu quan sát, đó là sự chồng chất cơ cấu của hệ thống. Quan điểm hệ thống và tư duy hệ thống 1.
Quan điểm hệ thống Trong tự nhiên vật chất hay các sự vật hiện tƣợng tự nhiên bao giờ cũng nằm trong một hệ thống nhất định. Quan điểm hệ thống đặt mọi sự vật hiện tƣợng trong hệ thống ở trạng thái không ngừng vận động theo những quy luật vốn có của nó. Quan điểm hệ thống dựa trên một hệ thống các nguyên tắc. Sau đây là các nguyên tắc cơ bản nhất: (1).
Mỗi hệ thống là một tập hợp các yếu tố, giữa chúng có sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau và với môi trƣờng bên ngoài, tạo nên tính chỉnh thể của hệ thống, đó là những thuộc tính tổng hợp, đặc trƣng cho hệ thống, là phƣơng thức tồn tại của hệ thống. Trong mỗi hệ thống, cái toàn thể bao giờ cũng lớn hơn tổng số giản đơn bộ phận cấu thành, nghĩa là cái toàn thể với tƣ cách là một hệ thống có những thuộc tính mới, chất lƣợng mới, chất lƣợng tổng hợp mà vốn không chứa đựng trong các bộ phận cấu thành. Thuộc tính mới gọi là tính toàn thể, thuộc tính hợp trội có chất lƣợng cao (emergence) không có ở các thành phần. 14 z Nó xuất hiện do tƣơng tác của các thành phần chứ không phải là do hoạt động của các thành phần.
Trong sự tiến hoá, việc tham gia tƣơng tác các thành phần góp phần tạo nên những tính chất hợp trội của hệ thống, mặt khác những tính chất hợp trội đó cũng làm tăng thêm phẩm chất của các thành phần. Mỗi hệ thống vừa là hệ thống, đồng thời lại vừa là hệ thống của các yếu tố khác có cấp độ hẹp hơn. Tính chỉnh thể của hệ thống đƣợc cụ thể hoá thông qua các mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành hệ thống và giữa hệ thống với môi trƣờng. Có thể nói, đây chính là sự cụ thể hoá nguyên lý của phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tƣợng trong thế giới hiện thực.
Nguồn gốc biến đổi của hệ thống nằm ở bản thân hệ thống, mà trƣớc hết là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập bên trong hệ thống. Chẳng hạn sự thống nhất có mâu thuẫn giữa hệ thống và yếu tố, giữa cái toàn thể và bộ phận, giữa cấu trúc và chức năng… (7). Quan điểm hệ thống quan tâm đến mối quan hệ giữa hoạt động và phát triển của hệ thống, tức là xem xét mối quan hệ giữa trạng thái ổn định bên trong và quá trình phát triển của nó. Quan điểm này không những xem xét sự vật ở một thời điểm nhất định với tất cả mối liên hệ phức tạp của nó mà còn xem xét sự vật trong quá trình vận động, phát triển theo thời gian của nó.
Quan điểm hệ thống gắn liền với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển trong triết học. Tính đa chiều (multidimensionality) là một đặc điểm cốt yếu của tƣ duy hệ thống. Đa chiều là cách nhìn nhiều mặt, nhiều cấp độ, nhiều cách hiểu khác nhau về các đối tƣợng, hệ thống. Một lý thuyết về một loại hệ thống nào đó bao giờ cũng phản ánh một cách hiểu nhất định về từng mặt, từng cấp độ khi xem xét nó.
Cần hết sức tránh việc áp đặt một lý thuyết cụ thể nào là chân lý tuyệt đối về các hệ thống đó, mà xem mỗi lý thuyết đều có những giới hạn giải thích nhất định. 15 z Quan điểm đa chiều còn là sự cố gắng phát hiện cái giống nhau trong những cái khác nhau và cái khác nhau trong những cái giống nhau: + Tìm cái giống nhau trong trong những cái khác nhau là khoa học hƣớng tới cái phổ biến, có tính quy luật.